Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 8: Bản Phác Thảo Của Kẻ Xâm Lược
Mảnh lụa điều nằm gọn trong lòng bàn tay Khoa, khô ráp và lạnh buốt hệt như một mẩu da thú phơi sương lâu ngày. Màu đỏ của dải lụa không còn tươi tắn mà…
Nội dung chương
Mảnh lụa điều nằm gọn trong lòng bàn tay Khoa, khô ráp và lạnh buốt hệt như một mẩu da thú phơi sương lâu ngày.
Màu đỏ của dải lụa không còn tươi tắn mà sẫm lại thành sắc nâu đen của máu đông khô cặn qua nhiều thế kỷ. Khoa ngồi bệt xuống nền đất nén cạnh bệ đá, hai đầu gối run lên từng chặp khi ngón tay cậu chạm vào sợi chỉ ngũ sắc buộc ngang thân cuộn lụa. Sợi chỉ đã mục rữa từ lâu, vừa chịu một lực kéo nhẹ đã mủn ra thành những sợi xơ vụn rơi lả tả xuống mặt đất. Cậu cẩn thận lần giở từng nếp gấp, cố giữ cho mép lụa không bị rách toạc dưới sức ép của những ngón tay đang cứng đờ vì lạnh.
Tấm lụa dài chừng hai gang tay, rộng bằng một tờ giấy bản, mở ra một bản vẽ chi tiết bằng mực tàu đen nhánh xen lẫn những vết chấm phá bằng chu sa đỏ quạch.
Ở trung tâm tấm lụa là hình ảnh dãy núi Ba Vì với ba ngọn cao vút chọc thẳng lên tầng không, nét vẽ gãy gọn, cổ quái theo lối hội họa thời Bắc thuộc. Nhưng đỉnh Tản Viên trong bức họa không hề có mây lành che phủ hay cung điện thần tiên ngự trị. Đè nặng lên ba ngọn núi thiêng là hình bóng khổng lồ của một con diều hình chim ưng dang rộng đôi cánh sắc lẹm, hai đầu cánh vót nhọn hoắt như hai lưỡi dao găm cắm phập vào gáy long mạch. Từ thân con diều buông xuống hàng chục đường chỉ đỏ ngoằn ngoèo, đâm thẳng xuống các huyệt đạo đất đai xung quanh chân núi, hệt như những chiếc rễ cây hút máu cắm sâu vào lòng đất.
Khoa nuốt nước bọt, cổ họng nghẹn ứ một vị đắng ngắt.
Dưới chân bức họa là những hàng chữ Hán viết theo thể chân phương nhưng toát ra vẻ sắc lạnh, ngạo nghễ đến gai người. Nhờ những năm tháng ngồi bên án thư mài mực cho ông Vạn chép văn tế hội làng, Khoa nhận diện được không ít mặt chữ cổ. Cậu nghiêng đầu ghé sát vào vệt trăng mờ lọt qua khe liếp, nhẩm từng con chữ khắc sâu vào thớ lụa:
"Đường triều Hàm Thông niên chế... Tiết độ sứ Cao Biền phỏng cổ ưng dực thuật... Tản Viên tróc long đồ..."
Ngực Khoa thắt lại. Những cái tên đó nổ ran bên tai cậu như một tiếng sấm rền giữa đêm quang mây tạnh.
Cao Biền. Tên giặc phương Bắc nức tiếng tàn bạo và giỏi thuật phong thủy phù chú thời nhà Đường, kẻ từng cày xới đất Giao Châu để chôn vàng yểm bùa, tìm cách triệt hạ long mạch nước Nam. Người làng Nại từ già đến trẻ đều thuộc làu câu chuyện truyền thuyết về gã Tiết độ sứ ngông cuồng từng cưỡi diều giấy bay lên đỉnh núi Tản để dòm ngó hình thế đất thiêng, mưu toan dùng bùa chú đóng đinh vào mạch sống của thần Tản Viên nhưng rốt cuộc bị sấm sét đánh cho tơi bời, ngã lộn nhào xuống đất mà ôm hận rút quân.
Lũ trẻ con trong làng mỗi bận tắm sông Hồng vẫn thường nghêu ngao câu đồng dao chế giễu kẻ bại trận rơi từ trên trời xuống bãi lầy. Nhưng người lớn trong làng, đặc biệt là những thợ làm diều già dặn như ông nội Vạn, chưa bao giờ dám đem chuyện đó ra đùa cợt. Người già bảo rằng con diều của Cao Biền không rơi xuống đất rồi tan rã thành tro bụi, mà nó đã ngấm máu của kẻ ngã từ mây xanh, hấp thụ oán hận ngút trời của kẻ xâm lược không cam tâm nhắm mắt.
Khoa run rẩy đọc tiếp những dòng chữ nhỏ li ti ghi chú phía dưới bản vẽ:
"Dĩ hắc trúc vi cốt, tẩm cốt nhân huyết... Dĩ chỉ tẩm ô nha huyết vi dực... Nghênh xú phong vu Dậu thời... Phi thăng nhi trấn..."
Cậu dịch bập bõm từng chữ, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán. Tre đen làm khung phải ngâm qua tro xương và máu người. Cánh diều bồi bằng giấy dó phải tẩm qua máu quạ đen đã ủ ròng rã bảy bảy bốn mươi chín ngày. Con diều ấy chỉ được cất cánh vào giờ Dậu lúc mặt trời vừa lặn sau đỉnh núi, đón luồng gió độc thổi ngược từ thung lũng sâu để bay lên không trung mà trấn yểm thần khí.
Bản phác thảo này chính là bản vẽ gốc của con diều ma quái ấy. Và bộ khung tre đen tuyền đang nằm im lìm dưới đáy rương gỗ lim phía sau lưng cậu chính là vật thể được phục dựng theo đúng từng nét vẽ trên mảnh lụa điều.
Khoa quay ngoắt lại nhìn con diều.
Dưới ánh sáng lạnh lẽo của đêm trăng cuối xuân, bộ khung diều đen sì trơ trọi như một bộ xương chim khổng lồ nằm thu mình trong lòng rương. Lớp giấy dó ngả vàng căng trên nan tre ánh lên những vệt chu sa ngoằn ngoèo, sắc nét hệt như những đường gân máu đang phập phồng dưới lớp da khô khốc.
Tại sao một thứ đồ vật tà ma ngoại đạo, bản phác thảo trấn yểm hiểm độc của kẻ xâm lược năm xưa lại nằm sâu trong chiếc rương khóa chặt của gia đình cậu? Tại sao dòng họ Nguyễn làng Nại - dòng họ đời đời thờ phụng thần núi, chuyên làm những con diều cánh muỗm hiền hòa bay lượn đón gió trời - lại cất giữ một bí mật kinh hoàng nhường này?
Một ký ức cay đắng ùa về bóp nghẹt tâm can Khoa. Mười năm trước, cha cậu - thợ làm diều khéo tay nhất vùng chân núi Ba Vì - đã ôm một con diều lạ rời khỏi nhà vào một buổi chiều tà. Ba ngày sau, dân làng tìm thấy thi thể của cha cậu nằm kẹt dưới đáy khe sâu gần bãi đá Suối Hai, toàn thân gãy nát, hai bàn tay bị dây cước cứa sâu đến tận xương trắng. Khi người ta khiêng xác cha về, ông nội Vạn không rơi một giọt nước mắt, chỉ lẳng lặng vác búa đập nát toàn bộ những khung diều cánh nhọn còn dở dang trong xưởng, rồi ban hành lệnh cấm tuyệt đối: cấm con cháu họ Nguyễn không bao giờ được làm diều hình chim ưng cánh nhọn, cấm thả diều sau giờ Dậu.
Dân làng xì xào bàn tán rằng Nguyễn Thức vì quá ngông cuồng muốn chế ngự ngọn gió thiêng trên đỉnh Ba Vì nên đã bị thần núi vặn cổ xô xuống vực. Đám trẻ con bãi đê, cầm đầu là thằng Thao con ông thủ từ, mỗi lần chạm mặt Khoa đều réo rắt câu chửi: "Thằng con của kẻ phạm húy! Thằng mồ côi có ba chết vì diều ma!"
Lòng tự ái của đứa con trai mười bốn tuổi bùng lên dữ dội, thiêu đốt chút run sợ cuối cùng trong lồng ngực Khoa.
Cậu siết chặt mảnh lụa điều trong tay, các khớp ngón tay trắng bệch ra. Cha cậu không phải là kẻ điên rồ, càng không phải kẻ chịu thua trước bầu trời. Người thợ tài hoa ấy chắc chắn đã tìm thấy bản vẽ này, đã muốn dùng chính tài nghệ của dòng họ Nguyễn để thuần phục con quái vật của kẻ xâm lược, biến cánh diều tà ác thành cánh diều vĩ đại nhất cõi trần gian. Cha cậu ngã xuống vực sâu chỉ vì thiếu một chút may mắn, vì chưa kịp hiểu hết bí mật giấu kín bên trong những nan tre đen tuyền kia.
"Mình sẽ làm được," Khoa lẩm bẩm, giọng cậu khàn đặc, rung lên vì một sự bướng bỉnh mù quáng. "Ngày mai là hội làng rồi. Mình sẽ cho cả làng thấy con diều này bay lên. Thằng Thao sẽ phải câm miệng lại."
Quyết định liều lĩnh được đưa ra nhanh chóng như một tia chớp xé rách bóng đêm. Khoa cẩn thận cuộn tấm lụa điều lại như cũ, nhét sâu vào túi áo bà ba trước ngực, áp sát vào làn da thịt đang nóng ran vì kích động.
Cậu đứng dậy, bước lại gần bệ đá. Bộ khung diều dài hơn hai mét nằm im lìm nhưng tỏa ra một áp lực nặng nề khiến không khí xung quanh dường như đặc quánh lại. Khoa hít sâu một hơi, thò hai tay xuống dưới sườn diều, nắm lấy thanh nan cái đen tuyền nằm dọc sống lưng.
Cảm giác lạnh buốt lại ập đến, xộc thẳng qua lớp da tay khiến cậu rùng mình một cái. Nan tre nặng một cách kỳ dị, không hề nhẹ bỗng như những thanh tre ngâm bình thường của làng Nại, mà đầm tay như một thanh sắt đặc được rèn kỹ dưới đe búa. Khi Khoa dồn lực nhấc bổng con diều ra khỏi lòng rương, lớp giấy dó cũ kỹ khẽ cọ xát vào nhau, phát ra những tiếng sột soạt khô khốc hệt như tiếng vảy rắn trườn qua lớp lá khô trong bụi rậm.
Không có tiếng động lớn nào phát ra. Gian nhà ngoài vẫn chìm trong tiếng ngáy đều đặn của ông nội Vạn.
Khoa đặt con diều nằm nghiêng trên mặt đất nén. Cậu vội vã lùi lại, khép nắp rương gỗ lim dày cộp xuống bệ đá. Chiếc then đồng hình bán nguyệt được cậu tra lại vào hai tai sắt, vặn ngược chốt khóa kêu một tiếng "cạch" rất khẽ. Cậu vơ lấy những nẹp rơm mục và lá chuối khô ban nãy, cẩn thận phủ kín bề mặt gỗ đen bóng, ngụy trang chiếc rương trở lại hình dáng một ụ đất hoang phế nằm im lìm trong góc tối, y hệt như lúc cậu vừa bước chân vào.
Bây giờ, vấn đề nan giải nhất là làm sao đưa được con diều khổng lồ này ra khỏi nhà mà không kinh động đến ông nội.
Khoa đảo mắt nhìn quanh gian buồng chứa đồ nghề chật chội. Ở góc vách đất phía sau cánh cửa ngách, dưới chân giá để cưa đục, nằm chỏng chơ hai chiếc bao tải gai cỡ lớn màu xám mốc. Đó là loại bao tải dùng để đựng thóc giống mùa trước, sợi đay to bản và dai chắc, đủ rộng để trùm kín một con lợn tạ.
Khoa lẹ làng bước qua, nhặt hai chiếc bao tải lên. Cậu dùng chiếc dao nhỏ giắt bên hông rạch bung đường chỉ may ở đáy một chiếc bao, rồi lồng nối tiếp vào chiếc bao thứ hai tạo thành một cái ống bọc dài hơn hai mét. Cậu nhẹ nhàng xỏ đầu nhọn của cánh diều vào trong lòng bao tải gai, chầm chậm kéo lớp vải ba thô ráp trùm kín toàn bộ thân diều.
Lớp giấy dó phủ chu sa bị bao gai ép chặt, phát ra những âm thanh ken két rợn người, nhưng Khoa không dừng lại. Cậu quỳ gối trên nền đất, gom gọn phần miệng bao tải thừa ở đuôi diều, rút sợi dây đay to bằng ngón tay út chuẩn bị thắt nút cố định.
Mọi thứ diễn ra êm thấm đến mức Khoa thở phào một hơi nhẹ nhõm. Chỉ cần luồn qua cánh cửa ngách dẫn ra vườn chuối phía sau, men theo con mương cạn là cậu có thể đưa con diều an toàn ra đến bãi đất hoang dưới chân gò mả lạng - nơi vắng vẻ nhất làng, cách xa mọi tai mắt của người lớn.
Cậu vòng sợi dây đay qua miệng bao tải, gập đôi mối chỉ rồi nghiến răng giật mạnh để siết chặt nút thắt.
Ngay khi sợi dây vừa thít chặt vào lớp vải gai thô ráp, một biến cố kinh hoàng đột ngột giáng xuống.
"Rắc! Răng rắc!"
Một chuỗi âm thanh kim loại và xương cốt va đập khô khốc vang lên dữ dội từ bên trong lòng bao tải.
Khối bao gai nằm dưới sàn bỗng nhiên giật nảy lên như một con thú hoang vừa bị trúng tên độc. Khoa hoảng hốt buông tay lùi lại, hai mắt trợn trừng nhìn vào vật thể đang chuyển động quái đản ngay trước mắt mình.
Bên trong lớp vải đay dày cộm, con diều không hề nằm yên. Những thanh nan tre đen tuyền dường như đang tự bẻ gập, co rút rồi lại duỗi thẳng ra một cách điên cuồng. Các khớp nối bện bằng gân thú phát ra những tiếng kẽo kẹt ken két rợn gai ốc, như thể một bộ khung xương đã chết khô hàng trăm năm nay bỗng dưng sống lại, cựa quậy các đốt ngón tay sắc nhọn để xé toạc lớp vải bọc bên ngoài.
Hai đầu cánh nhọn hoắt thúc mạnh vào thành bao tải, đội lớp vải gai trồi lên thành hai khối u nhọn hoắt, liên tục giãy giụa đòi vươn thẳng lên bầu trời đêm.
"Bịch! Bịch!"
Chiếc bao tải nhảy chồm chồm trên nền đất nén, đập mạnh vào vách nứa khiến những chiếc giỏ tre treo trên tường rung lên bần bật.
Một luồng gió lạnh buốt từ đâu thốc mạnh ra từ những kẽ hở của thớ sợi đay, thổi tung những mảnh rơm vụn dưới sàn bay tứ tán. Cùng với luồng gió ấy là một âm thanh the thé. Âm thanh ấy nghẹn ngào rít lên từ đáy bao. Không phải tiếng rít của giấy cọ xát. Mà là tiếng gầm gừ nghẹt thở của một loài dã thú bị giam cầm dưới hầm sâu. Đói khát và cuồng nộ đòi bay lên mây đen để xé rách bầu trời.
Khoa sợ đến mức tim muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Cậu lao tới, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể mười bốn tuổi nằm đè nghiến lên chiếc bao tải đang giãy giụa điên cuồng.
Con diều bên trong chống cự dữ dội. Những thanh tre đen cứng như thép thúc mạnh vào lồng ngực Khoa qua lớp bao ba, đau nhói như bị những nắm đấm giáng thẳng vào xương sườn. Mùi bùn non ẩm mốc quện với mùi máu tanh nồng nặc bốc lên ngùn ngụt, xộc thẳng vào cánh mũi khiến cậu buồn nôn đến choáng váng đầu óc.
"Im đi! Nằm im xuống!" Khoa nghiến răng rít qua kẽ môi, hai cánh tay ghì chặt lấy thân bao tải, mồ hôi vã ra như tắm.
Cậu biết rõ chỉ cần một tiếng động mạnh nữa vang lên, ông nội Vạn sẽ tỉnh giấc. Nếu ông bước vào gian buồng này và nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng trước mắt, mọi chuyện sẽ chấm dứt vĩnh viễn. Cánh diều sẽ bị ngọn lửa thiêu rụi, và cậu sẽ mãi mãi là đứa con của một kẻ bại trận hèn nhát trong mắt dân làng.
Sự bướng bỉnh ngông cuồng lại một lần nữa chiến thắng nỗi sợ hãi tột cùng. Khoa dồn hết sức tàn của đôi tay, siết chặt nút thắt dây đay ở miệng bao, dùng cả đầu gối đè nghiến lấy phần sống lưng đang run bần bật của con diều.
Mất một lúc lâu sau, những chuyển động điên cuồng bên trong bao tải mới chầm chậm yếu dần. Tiếng nan tre răng rắc lắng xuống thành những tiếng rên rỉ nhỏ giọt, rồi tắt hẳn. Con diều lại nằm im lìm như một xác chết, nhưng sức nóng hầm hập tỏa ra từ thân nó đã biến mất hoàn toàn, chỉ để lại một khối hàn khí đặc quánh khiến lớp vải gai bên ngoài phủ một tầng sương trắng mờ ảo.
Gian buồng tối lại rơi vào sự tĩnh mịch ngột ngạt đến nghẹt thở. Từ gian nhà ngoài, tiếng trở mình cót két trên giường tre của ông nội Vạn vọng lại, theo sau là tiếng ho húng hắng của tuổi già rồi lại chìm vào giấc ngủ ngáy ngắt quãng.
Khoa thở dốc từng cơn, trán cậu dán chặt vào lớp vải bao gai lạnh toát. Toàn thân cậu run rẩy, hai bắp tay mỏi nhừ và bầm tím vì những cú thúc của nan tre. Nhưng thay vì vứt bỏ nó để tháo chạy, một nụ cười kỳ quái, méo mó bỗng hé mở trên khóe môi đứa trẻ mười bốn tuổi.
Con diều này có sự sống. Nó không phải là một món đồ chơi bằng giấy tre vô tri vô giác. Nó chứa đựng một sức mạnh thực sự - sức mạnh của kẻ xâm lược ngạo nghễ năm xưa muốn đạp bằng cả ngọn Tản Viên linh thiêng.
Khoa gạt mồ hôi trên trán, đứng thẳng người dậy. Cậu luồn hai tay xuống dưới chiếc bao tải gai, cẩn thận vác khối vật thể dài ngoằng và nặng trịch lên vai. Trọng lượng của nó đè nặng lên khớp xương bả vai cậu, buốt lạnh thấu xương thịt, nhưng bước chân Khoa không hề nao núng.
Cậu nhẹ nhàng đẩy then cài cánh cửa ngách. Gió đêm ẩm ướt của vùng chân núi Ba Vì lập tức ùa vào mặt, lạnh buốt nhưng không thể dập tắt ngọn lửa cuồng vọng đang bùng cháy trong đôi mắt cậu.
Khoa bước qua ngưỡng cửa, lách mình vào vườn chuối rậm rạp, hòa vào bóng tối dày đặc đang bao trùm lấy làng Nại. Đằng sau những tán lá chuối ướt sương, ngọn núi Ba Vì sừng sững đứng im lìm như một bức tường thành khổng lồ, ba đỉnh nhọn hoắt chìm sâu vào tầng mây đen kịt, chờ đợi kẻ ngông cuồng tiếp theo dám thách thức bầu trời khi giờ Dậu tử thần điểm nhịp.