Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 11: Tiếng Sáo Rít Trong Sương Đêm

Vòng quay của ống cước rít lên từng hồi chói tai, ma sát điên cuồng vào lòng bàn tay trần của Khoa. Khối gỗ mít tiện tròn đặc quánh, vốn được ông nội…

Nội dung chương

Vòng quay của ống cước rít lên từng hồi chói tai, ma sát điên cuồng vào lòng bàn tay trần của Khoa.

Khối gỗ mít tiện tròn đặc quánh, vốn được ông nội ngâm nước vôi trong ba tháng ròng rồi đem phơi sương bóng nhẫy, giờ đây biến thành một bánh xe lửa quạt thẳng hơi nóng hầm hập vào mặt thằng bé. Sợi dây cước bện bằng vỏ gai rừng ngâm nhựa trám xé gió lao ra vun vút, phát ra những âm thanh xoèn xoẹt đanh gọn, sắc lẹm, tựa tiếng dao bài liếc vào đá mài. Từng trượng cước tuôn trào khỏi lõi gỗ với một tốc độ ma dại, vung vãi tàn tro và bụi nhựa đen li ti vào không khí.

Khoa nghiến chặt hai hàm răng đến mức quai hàm bạnh ra, buốt tận chân tủy. Hai bàn tay cậu túm chặt lấy hai đầu trục tiện của con lăn, dồn toàn bộ sức nặng cơ thể ghì giật ngược về phía sau.

Một mùi khét lẹt xộc thẳng vào mũi.

Lực miết của sợi dây thô ráp quét qua gáy các ngón tay và rìa lòng bàn tay cậu, cạo bay lớp da non mỏng manh của đứa trẻ mười bốn tuổi. Ma sát sinh nhiệt cực độ nướng chín từng thớ thịt. Da thịt Khoa rách toạc ra từng mảng, máu tươi ứa ra lập tức bị sức nóng làm cho quánh lại, quyện chặt lấy chất nhựa trám đen đúa bám đầy trên dây cước gai. Cơn đau không ập đến ngay lập tức mà bắt đầu bằng một cảm giác tê bại buốt óc, trước khi biến thành ngọn lửa âm ỉ cắn xé từng đầu dây thần kinh.

Cậu thở hắt ra từng ngụm đứt quãng, hai mắt hoa lên vì choáng váng. Đôi gót chân trần của Khoa vẫn đang cày sâu xuống lòng đất bùn nhớp nháp, rễ cỏ tranh cứa vào mắt cá chân thành những vết lằn đỏ au, nhưng lực kéo từ trên bầu trời không hề suy giảm. Nó mang sức mạnh thô bạo của một con thú dữ dưới đáy vực sâu, kéo xềnh xệch thằng bé về phía mép rãnh nước đầy đá tai mèo nhọn hoắt.

"Dừng lại... Khựng lại mau..."

Tiếng van vỉ nghẹn ứ nơi cổ họng Khoa, tan biến vào bóng tối đang phủ kín chân núi Ba Vì.

Khoa nhớ đến những buổi trưa hè oi ả ngoài bãi đê sông Đáy, khi ông nội Vạn ngồi trên chiếc chõng tre chỉ cho cậu cách cầm con lăn thả diều đại. Ông từng dặn, khi cánh diều gặp luồng gió chướng bốc lên quá mạnh, người cầm dây tuyệt đối không được buông tay, nhưng cũng không được dùng lòng bàn tay trần để hãm lõi cước đang quay tít. Phải dùng cùi chỏ khóa chặt một bên trục gỗ, lấy vạt áo chẽn lót vào mép vành ngoài, rồi nương theo nhịp giật của ngọn gió mà nhử từng sải ngắn. Kẻ non tay hám hãm gấp sẽ bị cước cắt đứt gân tay, hoặc bị sức diều kéo gãy khớp vai thành tật suốt đời.

Thế nhưng lúc này, vạt áo cộc của Khoa đã ướt đẫm mồ hôi và bùn non, dính bết vào ngực. Cuộn dây không hề tuôn ra theo nhịp gợn sóng của gió tự nhiên, mà cuồn cuộn giật giật từng cơn như có một bàn tay khổng lồ giấu trong mây đen đang ra sức thu dây kéo ngược thằng bé lên trời.

Khoa cố gập khuỷu tay trái lại, đè mạnh cùi chỏ vào gờ mép con lăn nhằm tạo lực cản.

"Xoẹt!"

Lớp vải áo mỏng manh lập tức bốc khói, rách toạc thành một vệt dài. Mặt gỗ mít nóng rực táp thẳng vào da thịt trần trụi nơi khuỷu tay cậu. Cơn bỏng rát dữ dội khiến Khoa giật nảy mình, toàn thân run rẩy suýt chút nữa đánh rơi cả khung gỗ. Cậu cắn bật máu môi dưới, vị tanh nồng của máu hòa lẫn với mùi khét lẹt của nhựa gai cháy dở xộc thẳng vào cuống họng.

Thằng bé hạ thấp trọng tâm hết mức có thể, khuỵu gối phải xuống sát mặt đất, chân trái đạp mạnh vào một gờ rễ sung dại trồi lên khỏi mặt bãi. Cậu dùng hết chút sức tàn nơi khớp ngực, gồng cứng hai cánh tay đầy vết xước máu, ép chặt then gỗ ngang của ống cước vào sát bụng dưới.

Vòng quay của cuộn cước chậm dần. Những vòng dây cuối cùng quấn quanh lõi gỗ mít bắt đầu lộ ra.

Đó là đoạn dây gốc, nơi sợi cước gai rừng chuyển sang màu đỏ sẫm của máu trâu thuộc da khô khốc, được thắt gút thành ba mối xoắn bện hình chữ vạn - dấu ấn gia truyền do chính tay cụ tổ họ Nguyễn khắc sâu vào thớ tre để giữ lại những con diều vượt khỏi tầm kiểm soát.

"Khục!"

Một tiếng nấc khô khốc vang lên từ trục gỗ khi sợi cước chạm đến nút thắt cuối cùng.

Lực kéo cực điểm truyền thẳng qua thân dây căng như dây đàn sắt, đánh một cú rung chấn khủng khiếp vào hai khớp vai Khoa. Thằng bé cảm thấy hai bả vai như muốn bung rời khỏi lồng ngực. Tiếng khớp xương kêu lách cách bên dưới lớp thịt run rẩy. Chân trái cậu trượt dài trên đất bùn, đâm sầm vào gờ đá nhọn, ngón chân cái toét máu, nhưng chiếc rễ sung dại đã chặn đứng đà lao hung hãn của thân người cậu lại.

Khoa thở dốc, hai lá phổi phập phồng co thắt liên hồi. Mồ hôi mặn chát túa ra từ trán chảy tràn vào khóe mắt, cay xè đến mức không thể mở to. Bàn tay cậu vẫn ghì chặt lấy con lăn gỗ, các ngón tay cứng đờ lại như những cành củi khô, dính chặt vào lớp nhựa trám đã đông cứng cùng máu tươi. Cậu không dám buông lỏng dù chỉ nửa phân, sợ rằng chỉ một cử động sơ sẩy, cánh diều trên cao sẽ lập tức giật tung cả người cậu xuống rãnh nước sâu hoắm phía trước.

Một khoảng không gian im bặt bao trùm lấy bãi hoang dưới chân núi Ba Vì.

Sợi cước nối từ con lăn trên tay Khoa kéo thẳng tắp lên nền trời tím ngắt, không hề chùng xuống, cũng không đung đưa sang hai bên. Nó căng cứng đến mức gió lùa qua cũng phát ra những tiếng u u đục ngầu, tựa như một sợi xích sắt vô hình đóng thẳng từ lòng đất lên đỉnh mây đen.

Khoa nén tiếng rên rỉ vì những vết bỏng rát trên da thịt, chầm chậm ngẩng đầu lên nhìn.

Cảnh tượng bày ra trước mắt khiến toàn bộ máu huyết trong người thằng bé đông cứng lại.

Cánh diều hình chim ưng tre đen tuyền đang ở tít trên tầng không cao vút, nơi giao thoa giữa màn đêm đen kịt của vách núi và sắc tím rực của tầng mây giông. Ở khoảng cách xa như vậy, khung diều đáng lẽ chỉ còn là một chấm đen mờ mịt giữa trời tối. Thế nhưng, từng đường nét của nó lại hiện lên rõ mồn một, sắc cạnh và gớm ghiếc đến rợn người.

Hai đầu cánh nhọn hoắt chĩa ngang xé toạc màn sương mù mỏng manh đang là là trôi qua. Khung tre uốn cong ngược ra sau vẫn giữ nguyên góc chém gió hiểm hóc. Những ký tự phù chú màu chu sa ngoằn ngoèo vẽ trên giấy dó cổ phát ra một thứ ánh sáng đỏ nhờ nhờ, âm u và lạnh lẽo, hắt bóng xuống màn mây tím như những vệt máu tươi vừa vấy lên mặt nước.

Cánh diều đứng sững giữa hư không.

Nó không hề chao đảo. Nó không liệng cánh sang trái để đón gió, cũng không chúi mũi xuống đất để tìm thăng bằng như bất kỳ con diều nào của làng Nại mà Khoa từng thấy trong đời. Nó đứng bất động, trơ trơ, găm chặt vào nền trời tối tăm như một chiếc đinh sắt khổng lồ bị đóng chết vào vòm trời.

Khoa trợn tròn hai mắt, miệng há hốc không thốt nên lời.

Gió ở đâu?

Cậu đưa mắt nhìn xuống chân mình, rồi nhìn quanh bãi đất hoang.

Không có lấy một gợn gió nào lướt qua ngọn cỏ.

Mặt đất hoàn toàn tĩnh lặng. Những bụi cỏ tranh vẫn nằm rạp sát mặt bùn lầy theo hướng chân núi, không một ngọn lá nào cử động. Tán lá cây sung dại bên cạnh đứng im lìm như đúc bằng chì, không một chiếc lá khô nào rơi rụng. Ngay cả vạt áo rách tơi tả dính máu của Khoa cũng rủ thẳng đuột xuống thân mình ướt đẫm mồ hôi.

Không khí đặc quánh lại, ngột ngạt và tanh nồng mùi đất ẩm cùng mùi đá vôi mục rữa từ các hốc núi phả ra. Dưới chân núi hoàn toàn vắng bóng gió, tĩnh mịch đến mức Khoa có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng máu chảy rần rật bên thái dương và tiếng tim đập bình bịch bên trong lồng ngực gầy gò của mình.

Theo phép làm diều cổ truyền mà ông Vạn đã truyền dạy cho bao thế hệ con cháu làng Nại, diều muốn đứng trời thì phải có gió cân bằng hai bên cánh. Gió tầng dưới đẩy lên, gió tầng trên đè xuống, dây lèo phải đón đúng luồng khí lưu thì thân diều mới có thể nương vào hư không mà giữ thăng bằng. Nếu trời lặng gió, cánh diều to đến mấy cũng phải cụp đuôi rơi cắm đầu xuống đất; nếu gặp gió quẩn gió lốc, diều sẽ lộn vòng rồi gãy khung xé giấy.

Vậy mà cánh diều chim ưng này, giữa lúc mặt đất không có lấy một hơi gió thừa, lại đứng thẳng tắp ở một góc bốn mươi lăm độ hoàn hảo, không suy xuyển lấy một phân.

Nó đứng yên đến mức rợn ngợp, tựa như có một bàn tay khổng lồ vô hình đang bóp chặt lấy sống lưng con diều, ghim nó chết cứng vào bầu trời đêm.

Hai bàn tay Khoa bắt đầu run lẩy bẩy. Cơn đau rát từ những mảng da thịt bị cước bóc trần dường như lùi lại phía sau, nhường chỗ cho một nỗi kinh hoàng thấu tận xương tủy. Cậu nhớ lại những câu chuyện mà dân làng Nại thường thì thầm to nhỏ bên giếng nước đầu đình mỗi khi có người chết đuối dưới sông Đáy hay chết mất xác trên đỉnh Ba Vì.

Người già bảo, bầu trời sau giờ Dậu không thuộc về người sống. Những linh hồn vất vưởng ngàn năm trước, những kẻ ngã từ trên mây xuống đất trong các cuộc chiến trấn yểm long mạch, vẫn lẩn khuất bên trong những tầng mây tím độc địa của ngọn núi thiêng. Chúng không cần gió của trần gian để bay. Chúng bám vào những thứ gì thuộc về cõi chết, dùng oán niệm của mình để lơ lửng trên đầu trần thế.

Con diều tre đen tuyền kia chính là chiếc cầu nối.

Đúng lúc đó, sợi cước gai rừng căng cứng trên tay Khoa khẽ giật nhẹ một nhịp.

Cú giật không mạnh bạo như lúc nó lao vút lên, mà âm ỉ, rập rình, tựa như một ngón tay lạnh ngắt vừa búng nhẹ vào đầu mút của sợi dây đàn. Một luồng hàn khí buốt giá truyền dọc theo chiều dài hàng trăm sải cước, xuyên qua lớp nhựa trám đen nhánh, xộc thẳng vào lòng bàn tay đầy máu của Khoa.

Hơi lạnh thấu xương khiến thằng bé rùng mình ớn lạnh, hàm răng va vào nhau lập cập.

Từ trên lưng cánh diều đang găm đứng giữa tầng không, nơi gắn bộ sáo diều cổ tiện bằng gỗ mun đen nhánh, một tiếng "tách" giòn tan vang lên, xé toạc không gian tĩnh lặng chết chóc của chân núi Ba Vì. Khí lạnh cuộn xoáy quanh hai đầu cánh chim ưng bắt đầu tràn vào miệng sáo, lay động những lưỡi gà mỏng manh bên trong thân gỗ mục ngàn năm.

Chương khác

Xem thêm