Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 12: Sợi Dây Cước Rỉ Huyết

Khoa quỳ rạp trên lớp cỏ tranh sắc nhọn, hai đầu gối lún sâu vào bùn lạnh buốt. Mười đầu ngón tay cậu bấu chặt lấy then ngang của con lăn gỗ mít, các…

Nội dung chương

Khoa quỳ rạp trên lớp cỏ tranh sắc nhọn, hai đầu gối lún sâu vào bùn lạnh buốt. Mười đầu ngón tay cậu bấu chặt lấy then ngang của con lăn gỗ mít, các khớp xương trắng bệch vì gồng quá sức. Máu từ vết rách trên lòng bàn tay vẫn ri rỉ thấm vào thớ gỗ xơ xác, mang theo vị tanh nồng bốc lên giữa khoảng không gian ẩm mốc dưới chân núi Ba Vì.

Trên đầu cậu, cánh diều tre đen tuyền hình chim ưng vẫn đứng sững giữa tầng mây tím bầm, hoàn toàn bất động.

Một nghệ nhân làng Nại cả đời gắn bó với nghề dán giấy chuốt tre đều hiểu rõ: khi cánh diều đã neo chặt vào tầng gió trên cao, điều làm nên linh hồn của nó chính là bộ sáo. Người làng Nại chuộng sáo còi, sáo chuông, sáo cúc. Ông nội Vạn từng ngồi thâu đêm bên ngọn đèn dầu hỏa, cẩn thận gọt từng thanh tre vầu, dùng sáp ong miết phẳng từng thớ gỗ mít để làm miệng sáo. Tiếng sáo của ông Vạn mỗi bận thả lên trời vào đêm rằm luôn mang âm sắc trầm bổng, khoan thai, ru giấc ngủ của cả xóm bãi ven sông Đáy. Thứ thanh âm ấy đón gió lành, đẩy lùi tà khí, đưa lời nguyện cầu mùa màng no đủ lên tận đỉnh Tản Viên sơn thánh.

Khoa nín thở, ngửa cổ nhìn trừng trừng vào ống sáo gỗ mun đen nhánh gắn trên lưng cánh diều. Cậu chờ đợi một tiếng ngân vang rộn rã, một khúc nhạc thanh tao xua tan bầu không khí ngột ngạt đang bóp nghẹt lồng ngực.

Thế nhưng, luồng khí lạnh từ đỉnh núi đổ xuống không tạo ra điệu sáo quen thuộc.

Âm thanh đầu tiên dội từ trên tầng không xuống bãi đất hoang là một tiếng rít khô khốc. Nó the thé, tắc nghẹn, cào cấu vào màng nhĩ thằng bé mười bốn tuổi như mũi đinh rỉ sắt miết mạnh trên mặt đá vôi lởm chởm.

Khoa rùng mình, gai ốc nổi râm ran từ gáy chạy dọc sống lưng xuống tận gót chân.

Thanh âm ấy không hề mang nhịp điệu của âm nhạc. Nó ngắt quãng, đứt đoạn, phát ra từng cơn dồn dập. Đó là tiếng thở hắt ra đầy đau đớn, hệt như tiếng một kẻ đang chìm dưới đáy bùn lầy sâu thẳm, cổ họng ngập ngụa nước bẩn và rác rưởi, cố hết tàn lực ngoi lên mặt nước để hớp lấy một ngụm không khí cuối cùng. Mỗi lần luồng gió rít qua miệng sáo gỗ mun, tiếng thở dốc ấy lại rền rĩ, rung bần bật, kéo dài thê thiết rồi nghẹn ứ lại trong cuống họng vô hình.

"Hừ... khực... khò..."

Từng đợt âm thanh ma quái nện thẳng xuống đầu Khoa. Lồng ngực cậu thắt lại, cảm giác ngột ngạt vô cớ ập tới khiến hai lá phổi như bị ai đó bóp nghẹt. Cậu há to miệng, cố hít lấy một hơi dài nhưng luồng khí xung quanh đã trở nên lạnh ngắt và nồng nặc mùi lưu huỳnh lẫn mùi bùn rữa.

Khoa muốn buông tay. Cậu muốn vứt bỏ con lăn gỗ, muốn xoay người cắm đầu chạy thục mạng về phía con đường mòn dẫn vào làng Nại, nơi có ánh đèn dầu tù mù của ngôi nhà ngói ba gian và bóng dáng quen thuộc của ông nội.

Thế nhưng đôi chân cậu không còn nghe theo sự điều khiển của khối óc. Hai đầu gối nặng trĩu găm chặt xuống mặt đất, run rẩy bần bật. Nỗi sợ hãi nguyên thủy truyền thẳng từ sợi dây cước căng như dây đàn sắt vào tận tủy sống, khóa chặt toàn bộ gân cốt của thằng bé.

Tiếng rít trên không trung bỗng chuyển điệu.

Nó không còn dừng lại ở tiếng thở dốc nghẹn ngào. Từ miệng sáo gỗ mun đen đúa, một chuỗi âm thanh the thé vút lên xé toạc màn sương mù bao phủ sườn núi. Đó là tiếng gào khóc ai oán, não nề, chất chứa một mối oán thù ngút trời tích tụ qua hàng trăm năm đằng đẵng. Tiếng khóc lúc bổng lúc trầm, khi thì dập dồn như hàng trăm đứa trẻ bị bỏ rơi gào thét giữa bãi tha ma, khi lại ngân dài rền rĩ tựa hồ tiếng người đàn bà mất con đứng gào trên vách đá cheo leo.

Âm thanh ấy dội vào các vách đá vôi dựng đứng của ngọn Ba Vì, tạo thành những tiếng vọng ma quái đập qua đập lại giữa các khe suối cạn.

Dưới làng Nại, tiếng chó sủa bắt đầu rộ lên râm ran từ xóm ngoài vào xóm trong. Tiếng sủa không mang vẻ hung hăng cắn trộm ngày thường, mà vỡ ra thành những tràng tru dài thảm thiết, run rẩy và hoảng loạn. Những con chó mực vốn dữ dằn nhất làng đồng loạt cúp đuôi chui rúc vào gầm phản gỗ, mõm gí sát mặt đất phát ra những tiếng ăng ẳng nghẹn ngào. Tiếng gà đập cánh loạn xạ trong chuồng, tiếng trâu mộng thở phì phò húc đầu vào gióng tre vang lên từ những mái nhà cách đó nửa dặm.

Làng Nại đã đóng chặt then cài cửa. Giờ Dậu đã qua từ lâu, người già trong làng đều biết rõ quy củ truyền đời: hễ nghe thấy tiếng rú rít lạ lùng từ phía chân núi dội về, tuyệt đối không ai được thò đầu ra cửa sổ, không ai được thắp đèn bão bước ra ngoài sân. Đó là giờ của những hồn ma lạc lối, những kẻ ngã từ trên mây xuống đất năm xưa quay về tìm người thế mạng.

Khoa run bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra tiếng lách cách khô khốc.

Cậu nhận ra sự hiểm độc của con diều mà mình lén lấy từ đáy rương gỗ cổ. Khung tre đen tuyền không phải dùng để đón gió trời, mà dùng để gọi gió độc. Ống sáo gỗ mun không khoét miệng để phát ra âm thanh của trần gian, mà được gọt đẽo để mượn hơi thở của âm binh làm rung chuyển cõi u minh.

Mỗi nhịp rít của bộ sáo dội xuống, mặt đất dưới chân Khoa lại rung nhẹ một hồi. Những cọng cỏ tranh rạp sát bùn lầy bắt đầu dựng đứng lên, xoay tít quanh ống chân cậu như những mũi kim nhọn châm chích vào da thịt.

Cùng với tiếng khóc than xé ruột gan đang cuộn xoáy trên tầng không, bầu trời phía trên đỉnh Ba Vì bắt đầu biến dạng.

Màu tím bầm của vòm trời nhanh chóng bị nuốt chửng bởi những đám mây đen kịt từ các hốc núi tràn ra. Mây đen không trôi lững lờ theo chiều gió, mà vần vũ xoay tròn quanh tâm điểm là cánh diều hình chim ưng. Chúng cuồn cuộn đổ dồn về như một phễu nước khổng lồ, tầng tầng lớp lớp mây dày đặc đè nặng xuống khoảng không gian bãi hoang, khiến cho bóng tối đặc quánh lại, đen ngòm như mực tàu.

Ánh sáng đỏ nhờ nhờ từ những nét bùa chú chu sa trên thân diều càng lúc càng chói gắt. Nó hắt xuống bãi đất trống một luồng quang u tối, soi rõ từng sợi gân tre đen bóng đang uốn cong hết cỡ dưới sức ép của luồng khí xoáy.

Khoa trừng trừng nhìn lên khoảng không tối đen như mực. Giữa tiếng thét gào hỗn loạn của bộ sáo ma, cậu nghe thấy một âm thanh kỳ dị khác truyền qua sợi dây cước.

Âm thanh ấy róc rách, trơn tuột, vọng lại từ tít trên cao rồi trượt dần xuống phía mặt đất.

Sợi cước bện bằng sợi gai rừng ngâm nhựa trám vốn khô ráp và cứng cỏi, bỗng chốc mất đi độ nhám ban đầu. Lực rung từ con diều không chỉ truyền âm thanh gào khóc vào lồng ngực Khoa, mà bắt đầu làm nóng rực cả trục gỗ mít kẹp trong tay cậu. Sợi dây rung lên từng chặp dồn dập, căng thẳng đến mức phát ra tiếng rên rỉ u uất, như một mạch máu khổng lồ đang phập phồng co bóp giữa trời và đất.

Tiếng sáo diều đột ngột rít lên một nốt cao chót vót, chói gắt đến mức tai Khoa lùng bùng, một dòng máu mỏng từ lỗ tai chảy dài xuống cằm.

Âm thanh ấy vút thẳng lên đỉnh mây đen rồi gãy gập lại, biến thành một chuỗi tiếng nấc nghẹn ngào, ai oán khôn cùng. Trong tiếng nấc u uất ấy, sương mù từ vách đá Ba Vì tràn xuống bao vây lấy bãi hoang, nuốt chửng lối mòn dẫn về làng, bỏ mặc đứa trẻ mười bốn tuổi bơ vơ giữa cơn cuồng nộ của trời đất.

Sợi dây cước gai trên tay Khoa bỗng nhiên chùng xuống một tấc, rồi giật ngược trở lại với một lực kéo hung bạo. Thanh gỗ mít rít lên ken két trong lòng bàn tay đầy máu của cậu. Cậu cảm nhận được một luồng hàn khí trơn trượt đang bò dọc theo thân cước từ trên tầng mây đen đặc từ từ trườn xuống phía mình.

Chương khác

Xem thêm