Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 25: Hừng Đông Trên Làng Nại
Con đường mòn từ sườn núi Ba Vì dẫn xuống chân đồi trải đầy lá mục ướt sũng sau trận mưa giông dữ dội. Bầu trời phía đông bắt đầu rạng lên những dải sáng…
Nội dung chương
Con đường mòn từ sườn núi Ba Vì dẫn xuống chân đồi trải đầy lá mục ướt sũng sau trận mưa giông dữ dội.
Bầu trời phía đông bắt đầu rạng lên những dải sáng màu xám bạc, xua tan dần lớp sương mù đặc quánh đang bao bọc lấy những tán cây dẻ rừng. Không khí lạnh buốt phả vào mặt, mang theo mùi ngai ngái nồng đượm của đất ẩm và rêu xanh.
Khoa bước từng bước chậm rãi bên cạnh ông nội. Bàn tay phải của cậu nằm trọn trong lòng bàn tay thô ráp của ông Vạn. Những vết chai sần dày cộm do năm mươi năm cầm dao vót cọ tre, chuốt nan diều cọ xát vào da thịt cậu bé mười bốn tuổi, truyền sang một hơi ấm vững chãi. Cổ tay trái của Khoa vẫn còn hằn sâu vệt cứa đỏ ửng của sợi dây cước gai rừng, râm ran nhức buốt theo từng nhịp tim đập, nhưng cảm giác lạnh lẽo thấu xương lúc đứng bên mép vực thẳm đã hoàn toàn biến mất.
Ông Vạn bước đi khoan thai, chiếc lưng hơi còng xuống dưới tấm áo nâu sồng đã bạc màu vai áo. Con dao chém mía gia truyền nằm im lìm trong vỏ bọc bằng sừng trâu sau hông ông, lưỡi thép vừa trải qua trận chiến trừ tà nay đã nguội lạnh.
Hai ông cháu đi qua rặng duối già ở đầu xóm. Tiếng gà trống le te gáy vang từ những mái nhà tranh vách đất ven sườn đồi, xé toạc màn sương sớm tịch mịch. Đâu đó trong xóm dưới, tiếng chày giã bánh dày cối đá vang lên thình thịch, hòa cùng tiếng người í ới gọi nhau thức dậy chuẩn bị cho ngày chính hội làng Nại.
Khói rơm rạ từ các chái bếp bắt đầu cuộn tròn bay lên qua những rặng chuối tiêu, mùi cơm nếp mới hòa cùng mùi lá thơm luộc nước tắm ngày hội phảng phất khắp con đường lát gạch nghiêng. Năm 1995, sau những năm tháng dài khó khăn của thời bao cấp, làng Nại đón hội làng rộn rã hơn thường lệ. Nhưng với Khoa, khung cảnh quen thuộc ấy sáng nay mang một dáng vẻ hoàn toàn khác biệt. Cậu vừa bước qua một ranh giới vô hình giữa sự sống và cõi chết, giữa sự bồng bột ngông cuồng và bài học ngàn đời mà tổ tiên để lại.
"Đau lắm không con?"
Tiếng ông Vạn trầm ấm vang lên trên đỉnh đầu. Ông không quay lại, ánh mắt vẫn hướng về con đường làng đang bừng sáng dưới ánh bình minh.
Khoa siết nhẹ những ngón tay trong lòng bàn tay ông, khẽ lắc đầu:
"Dạ, cháu đỡ nhiều rồi ông ạ."
"Đau để mà nhớ." Giọng người thợ già đanh lại, nhưng chứa đựng sự bao dung sâu thẳm. "Cái sẹo trên da thịt rồi sẽ liền miệng, hạt cơm hạt muối sẽ nuôi da non mọc lại. Nhưng vết sẹo trong bụng thì phải giữ lấy suốt đời. Kẻ chơi diều mà quên mất cội rễ, coi thường lời dặn của tiền nhân, sớm muộn gì cũng bị cánh gió quật ngã xuống vực sâu."
Khoa cúi gằm mặt, bước chân chùng xuống:
"Cháu biết lỗi rồi... Cháu cứ tưởng mình tài giỏi, tưởng diều nào cũng bay bằng gió, sáo nào kêu cũng chỉ để nghe vui tai."
Ông Vạn dừng bước ngay trước cổng ngõ nhà mình. Cánh cổng gỗ xoan cũ kỹ đã ngả màu xám tro. Phía trên có giàn hoa thiên lý nở từng chùm hoa xanh nhạt thơm ngát. Ông quay người lại, nhìn thẳng vào gương mặt hãy còn xanh xao vì hoảng sợ của đứa cháu nội mồ côi. Đôi mắt người thợ già làng Nại sáng quắc, đượm nét uy nghiêm của người nắm giữ tinh hoa nghề truyền thống.
"Gió dưới chân núi là gió của người phàm, còn gió trên đỉnh mây là gió của trời cao," ông Vạn chậm rãi nói, từng lời rành rọt rơi vào khoảng không tĩnh lặng. "Người làng Nại chuốt nan tre, dán giấy dó, gắn sáo trầm sáo cồng lên lưng diều là để mượn tiếng gió gửi lời chào kính cẩn lên đất trời, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Đó là đạo làm diều. Con diều cánh ưng đen tối qua không mang đạo ấy. Nó mang dã tâm ngạo mạn của kẻ muốn cưỡi lên đầu ngọn núi, muốn dùng tà thuật để đoạt lấy quyền năng của cõi trên. Kẻ gieo lòng kiêu ngạo vào mây gió thì ắt sẽ gặt lấy tai ương."
Khoa lắng nghe từng lời của ông nội, hai khóe mắt cay xè. Cậu nhớ lại bóng đen khô khốc gầy guộc bám trên cánh diều đen đêm qua, nhớ lại tiếng rít ai oán như muôn ngàn tiếng khóc than vang vọng giữa tầng mây mù mịt. Nếu không có nhát dao thép và ngọn lửa thiêng của ông nội, thân xác cậu giờ này đã nằm nát vụn dưới đáy vực sâu Ba Vì, trở thành một mẩu xương tàn nối dài thêm lời nguyền đen tối của Cao Biền năm xưa.
Hai ông cháu bước qua bậc ngưỡng cửa bằng đá xanh, tiến vào khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng đỏ au.
Khoảng sân nhà ông Vạn ngập tràn những vật dụng quen thuộc của nghề làm diều sáo truyền thống. Dưới mái hiên gian nhà phụ, hàng chục cây tre ngà, tre đực đã được ngâm bùn ao đủ ba năm đang dựng đứng tựa vào tường đất để hong gió. Mấy chiếc bàn gỗ dài phủ đầy phoi tre mỏng tang như sợi miến, vương vãi những chiếc dũa sắt, bào tay và dao vót nan cán gỗ chuốt nhẵn thín. Trên dây thép căng ngang góc sân, những tờ giấy dó dày bản màu vàng ngà quét nhựa cây cậy đang phơi sương sớm, tỏa ra mùi thơm ngai ngái mộc mạc của cỏ cây đồng nội.
Những cánh diều truyền thống của làng Nại treo dọc theo vách gian nhà chính: diều cánh cóc bè bè vững chãi, diều cánh muỗm thon dài mềm mại, diều cánh lá tre thanh thoát nhẹ bay. Dưới bụng mỗi cánh diều là những bộ sáo gỗ mít, sáo ống tre được gọt đẽo tỉ mỉ, miệng sáo khoét bằng gỗ mun hay sừng trâu bóng loáng. Chúng nằm im lìm dưới ánh mai, toát lên vẻ hiền hòa, thuần hậu như chính tâm hồn của những người nông dân chân lấm tay bùn nơi đồng bằng Bắc Bộ.
Ông Vạn buông tay Khoa, bước lại góc sân múc một gáo nước mưa trong vại sành, đổ vào chiếc chậu thau đồng.
"Lại đây rửa mặt cho tỉnh táo, rồi vào ông đắp thuốc cho."
Khoa vâng lời bước tới. Cậu vục bàn tay lành lặn vào làn nước mưa mát rượi, vỗ mạnh lên mặt. Nước lạnh làm dịu đi cơn sốt nhẹ đang âm ỉ trong thái dương cậu, rửa trôi những vệt bùn đất, tro tàn bám trên trán, trên má từ đêm giông bão trên đỉnh núi.
Ông Vạn đi vào chái bếp, lát sau trở ra với một chiếc cối đá nhỏ và một nắm lá trầu không cùng vài củ nghệ già. Đôi tay thô ráp của ông giã nát nắm lá, trộn thêm chút muối hạt rồi nhẹ nhàng đắp lên vệt cước cứa nơi cổ tay Khoa. Vị cay nồng của lá trầu và nghệ tươi xộc vào da thịt làm Khoa khẽ rùng mình, nhưng chỉ vài hơi thở sau, cảm giác rát bỏng đã dần dịu đi, nhường chỗ cho sự the mát dễ chịu.
Ông dùng một dải vải xô sạch sẽ cẩn thận băng lại vết thương cho cháu, động tác chuẩn xác và khéo léo hệt như lúc ông uốn từng nan tre làm khung diều.
"Xong rồi đấy. Vào gian thờ thắp cho tổ nghề nén hương rồi đi nghỉ một lát."
Khoa rụt rè ngẩng đầu nhìn vào gian nhà chính năm gian dựng bằng gỗ xoan và gỗ lim cổ kính. Cửa bức bàn đã mở toang để đón gió sớm. Ánh nắng ban mai rọi qua những hàng chấn song con tiện, tạo thành những dải sáng vàng rực chiếu thẳng vào gian thờ tổ nghề nằm ở chính giữa ngôi nhà.
Cậu nuốt nước bọt, bước theo gót chân trần của ông nội qua ngạch cửa lim đen bóng.
Mùi trầm hương thoang thoảng quấn quýt trong không gian tĩnh mịch. Trên bàn thờ bằng gỗ gụ sơn son thếp vàng, bài vị của các bậc tiền nhân làng nghề diều sáo làng Nại uy nghiêm ngự trị giữa những đĩa hoa huệ tây trắng muốt. Bức hoành phi cổ treo trên xà ngang chạm khắc bốn chữ vàng "Kính Phong Tế Khí" phủ một lớp bụi mờ của thời gian.
Khoa bước đến trước án gian, run rẩy đón lấy ba nén nhang trầm đã châm lửa từ tay ông nội. Cậu chắp hai tay trước ngực, quỳ sụp xuống chiếu cói, cúi đầu lạy ba lạy thật sâu trước hương án tổ tiên. Khói nhang màu xanh nhạt lượn lờ bay lên không trung, tỏa ra làn hương ấm áp xua tan đi tàn dư u uất cuối cùng của cơn ác mộng đêm qua.
Khi đứng dậy cắm nén nhang vào chiếc lư đồng, ánh mắt Khoa vô thức liếc nhìn về góc tối phía sau án gian thờ.
Đó là nơi đặt chiếc rương gỗ lim cổ xưa - chiếc rương mà chiều hôm qua cậu đã lén cạy nắp để lấy ra con diều cánh ưng bằng tre đen dán giấy phù chú.
Khoa giật mình sững lại.
Chiếc rương gỗ màu nâu đen bóng loáng vẫn nằm im lìm ở góc tường, cạnh những bó nan tre gia truyền. Nhưng chiếc then cài bằng gỗ sồi mục nát vốn bị Khoa dùng lưỡi đục cạy gãy chiều qua nay đã biến mất.
Thay vào đó, trên hai tai khóa bằng đồng gắn chặt vào thân rương, một chiếc then đồng mới toanh, dày dặn và nặng trịch đang được lồng vào cẩn mật. Chiếc then đồng này đúc bằng đồng đỏ nguyên chất, ánh lên sắc vàng sẫm dưới bóng râm gian thờ.
Khoa nín thở bước lại gần hơn một bước.
Trên bề mặt chiếc then đồng phẳng phiu, những nét đục sắc sảo của người thợ già làng Nại hãy còn mới nguyên. Bốn chữ Hán cổ được khắc chìm sâu vào thớ kim loại dày dặn, nét chữ vuông vức, vững chãi như bàn thạch:
"Kính Thiên Bất Phóng".
Cậu bé đứng lặng người trước bốn chữ ấy. Mặc dù vốn chữ Nho học lỏm từ ông nội chưa nhiều, nhưng nhìn từng nét khắc dứt khoát mang trọn ý chí kiên định của ông, Khoa hiểu trọn vẹn ý nghĩa của bốn chữ thiêng liêng: Kính sợ trời xanh, vĩnh viễn không bao giờ thả nữa.
Con diều tà thuật đã cháy rụi thành tro tàn trên lưng chừng trời Ba Vì, cuộn cước ma quái đã tan biến vào hư không, nhưng ký ức về nó và bài học về ranh giới cấm kỵ sẽ được niêm phong vĩnh viễn sau chiếc then đồng này. Chiếc rương rỗng từ nay không còn chứa chấp mầm mống tà ma, mà trở thành một nhân chứng thầm lặng nhắc nhở con cháu họ Nguyễn làng Nại về giới hạn của lòng tham và sự kiêu căng của con người trước sự huyền bí của tạo hóa.
Ông Vạn bước tới bên cạnh Khoa từ lúc nào. Bàn tay ông nhẹ nhàng đặt lên đầu đứa cháu nội, những ngón tay khô gầy luồn qua mái tóc đen nhánh của cậu.
"Tổ tiên dạy không bao giờ sai, con ạ," ông Vạn khẽ nói, ánh mắt dừng lại trên bốn chữ khắc chìm nơi then đồng. "Bầu trời bao la kia không thuộc về riêng ai. Cánh diều bay cao được là nhờ gió trời nâng đỡ, tiếng sáo vang xa được là nhờ trời cao dung chứa. Kẻ nào ngỡ mình có thể dùng tài nghệ để ngạo mạn giẫm đạp lên quy luật đất trời, kẻ đó tự chuốc lấy diệt vong. Giữ được chiếc then này cài chặt, chính là giữ lấy cái tâm thanh tịnh của người thợ làng Nại."
"Cháu nhớ rồi, thưa ông," Khoa nghẹn ngào đáp, hai vai run run. "Cả đời này cháu sẽ không bao giờ quên."
Ông Vạn mỉm cười. Nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt già nua đầy nếp nhăn của người thợ cả, làm bừng sáng những nét cương nghị, nhân hậu. Ông vỗ nhẹ vai cháu:
"Đi ra sân với ông."
Hai ông cháu bước ra khỏi gian nhà gỗ cổ kính, trở lại khoảng sân gạch thênh thang.
Lúc này, vầng thái dương đã nhô hẳn lên khỏi rặng tre đực ở phía đông làng. Ánh nắng sớm mai vàng rực rỡ, ấm áp như rót mật xuống những mái ngói rêu phong, sưởi ấm từng vạt đất ẩm ướt sau đêm giông tố. Cả cánh đồng làng Nại phía xa xa trải rộng ngút ngàn dưới chân dãy núi Ba Vì sừng sững. Ba đỉnh núi thiêng Tản Viên, Ngọc Hoa và Đột Vượng vươn cao ngạo nghễ giữa nền trời xanh biếc, những dải mây trắng xốp trôi lững lờ quanh sườn núi như những dải lụa mềm mại.
Từ bãi đất trống đầu làng - nơi hội thi thả diều truyền thống bắt đầu khai cuộc - những tiếng reo hò rộn rã của dân làng vang vọng tới.
Tiếng còi, tiếng trống điểm từng nhịp rộn ràng. Rồi trên nền trời trong vắt không một gợn mây đen, cánh diều đầu tiên của hội làng từ từ no gió vút lên. Đó là cánh diều hình lá tre dán giấy dó trắng tinh khôi của một người thợ già xóm thượng.
Theo sau cánh diều trắng, một âm thanh trầm bổng, ngân nga vang lên giữa không gian bao la.
Tiếng sáo diều làng Nại.
Âm thanh ấy không hề chói tai, không có tiếng rít gào thở dốc, càng không vương chút oán thán u uất. Đó là tiếng sáo đôi trầm bổng, tiếng sáo còi trong trẻo hòa cùng tiếng sáo cồng vang vọng, ngân nga dìu dặt như tiếng mẹ ru trưa hè, như tiếng thì thầm của gió đồng lúa chín, thanh thản và bình yên đến lạ kỳ. Tiếng sáo cất lên đón lấy ánh bình minh, kính cẩn lượn quanh chân núi thiêng rồi hòa tan vào khoảng không gian vô tận của đất trời.
Khoa ngửa mặt nhìn lên bầu trời cao xanh thẳm. Lần đầu tiên trong đời, cậu bé mười bốn tuổi nhìn ngắm cánh diều với một niềm xúc động hoàn toàn mới mẻ. Cậu không còn khao khát được nhìn thấy một cánh diều đen xé gió bay vút qua đỉnh mây mù mịt, không còn thèm muốn thứ sức mạnh cuồng bạo có thể kéo nghiêng ngả cả thân người.
Cánh diều giấy bình dị đang chao liệng giữa trời xanh kia đẹp đẽ biết bao, bởi vì nó biết nương tựa vào gió, biết giữ mình ở độ cao chừng mực dưới bóng chở che của thần núi Ba Vì.
Bàn tay Khoa lại tìm đến bàn tay ông nội, nắm chặt lấy những ngón tay gầy guộc đầy vết sẹo nghề của người thợ già. Dưới ánh nắng mai rực rỡ chan hòa khắp làng quê yên ả, hai bóng người - một già một trẻ - đứng lặng bên nhau giữa khoảng sân đầy phoi tre mỏng, lắng nghe tiếng sáo quê hương đang bay bổng giữa đất trời thanh bình.