MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 1: Chướng ngại số 7
Sáng mồng 1 tháng Ba âm lịch, xe của đơn vị tư vấn đỗ lại ở đầu xã An Hòa khi sương còn chưa tan hết trên mặt sông Đáy. Nguyễn Hoàng Nam bước xuống, tay…
Nội dung chương
Sáng mồng 1 tháng Ba âm lịch, xe của đơn vị tư vấn đỗ lại ở đầu xã An Hòa khi sương còn chưa tan hết trên mặt sông Đáy. Nguyễn Hoàng Nam bước xuống, tay kẹp tập bản vẽ in khổ lớn cuộn tròn trong ống nhựa, ba lô đeo lệch một bên vai. Anh đã đi qua huyện Thanh Miện nhiều lần trên bản đồ, trên các lớp bản vẽ số, trên những file khảo sát gửi qua lại giữa công ty và Ban quản lý dự án, nhưng đây là lần đầu tiên anh đứng thật sự ở đầu làng Xuân Đào.
Trưởng thôn Vũ Văn Thành đã chờ sẵn ở ngã ba. Ông ngoài năm mươi, dáng người đậm, áo sơ mi đã sờn cổ, tay cầm cuốn sổ bìa cứng bọc nilon. Ông bắt tay Nam rất chặt, cười hiền nhưng mắt thì quan sát nhanh từ đầu đến chân người kỹ sư trẻ.
- Cậu Nam phải không. Bên tư vấn gọi điện báo từ hôm qua. Mời cậu vào đình uống chén nước đã rồi hẵng ra tuyến.
Nam lắc đầu, chỉ tay về phía con đường đất chạy thẳng vào làng.
- Cháu cảm ơn bác. Để cháu đi tuyến trước cho kịp nắng. Chiều cháu còn phải về xã đối chiếu lại hồ sơ giải phóng mặt bằng. Bác đi cùng cháu một vòng nhé.
Con đường liên xã đoạn qua Xuân Đào không dài, chừng hơn một cây số, nhưng là đoạn xấu nhất của cả tuyến. Mặt đường đất lẫn đá dăm, ổ gà đọng nước từ trận mưa tuần trước vẫn chưa khô hẳn, hai bên là rãnh thoát nước cạn đầy cỏ dại và bờ ruộng thấp. Dân làng đi chợ sớm bằng xe máy phải lạng sang tận mép ruộng để tránh nhau. Một chiếc xe tải nhỏ chở vật liệu đi ngược chiều, bánh xe nghiến xuống ổ gà làm bùn bắn lên tận ống quần Nam. Anh ghi vào sổ tay mấy chữ ngắn, rồi mở bản vẽ.
Bản vẽ khổ lớn in màu, tim đường dự kiến là một đường đỏ thẳng tắp. Trên giấy, mọi thứ rất sạch. Đường sẽ được mở rộng, nền đắp cao, mặt bê tông phẳng, hai bên có rãnh thoát nước kiên cố. Chỉ có một điểm mà đường đỏ không đi qua được một cách êm thấm. Ở đoạn đầu ngõ làng, tim đường cắt thẳng qua một vòng tròn xanh đậm được ký hiệu là cây cổ thụ phải đốn hạ. Cạnh đó, người lập hồ sơ trước anh đã ghi bằng bút máy một dòng nhỏ: chướng ngại số 7, cây gạo khoảng 180 tuổi, đề xuất đốn hạ để giải phóng mặt bằng.
Nam ngẩng lên và nhìn thấy cây gạo thật.
Cây đứng ở đầu ngõ, ngay chỗ con đường đất bắt đầu rẽ vào làng, cách bến Đò Ngang chừng bốn chục mét theo lời ông Thành vừa nói. Từ xa, cây không giống một cái cây bình thường trong trí nhớ của Nam về những cây gạo anh từng thấy ven đường quốc lộ. Tháng Ba, cây đã trút sạch lá. Những cành lớn vươn ra khẳng khiu, vỏ thân xù xì đầy gai nhọn, và trên những cành khẳng khiu ấy, hoa nở kín. Hoa gạo đỏ rực, không phải đỏ cam nhạt như anh vẫn hình dung, mà là một màu đỏ thẫm, dày và nặng, tụ lại thành từng chùm lớn. Cả tán cây như một đám mây đỏ treo lơ lửng trên đầu làng, nổi bật đến mức làm nền trời xám buổi sáng như bị lùi lại phía sau.
Nam đứng lặng một lúc lâu hơn mức cần thiết cho công việc đo đạc. Ông Thành đứng bên cạnh cũng không giục. Gió từ phía sông thổi vào, mang theo mùi nước, mùi bùn non và một mùi ngai ngái rất nhẹ của nhựa cây. Một bông hoa gạo rời cành, xoay chậm trong không khí rồi rơi xuống mặt đường. Tiếng rơi nghe rõ đến lạ. Bộp. Không phải tiếng của một bông hoa nhẹ chạm đất, mà như có sức nặng riêng, rơi xuống rồi nằm im, cánh hoa dày vẫn giữ nguyên hình chén.
- Cây này bao nhiêu năm rồi bác.
- Các cụ bảo gần hai trăm năm. Hồi tôi còn bé, thân nó đã to như thế này rồi. Ông nội tôi bảo thời ông nội của ông ấy, cây đã có ở đây.
Nam mở sổ đo, đi một vòng quanh gốc. Thân cây lớn đến mức ba người ôm không xuể, phải sau này đo bằng thước dây anh mới có con số chính xác. Rễ nổi lên mặt đất thành từng múi lớn, bò dài ra xung quanh, có múi rễ chìa hẳn ra mép đường đất, có múi rễ hướng về phía bến đò, ôm lấy mặt đất như những ngón tay gầy guộc bám chặt. Ở các hốc rễ, anh nhìn thấy nhiều bát hương cũ. Có bát đã vỡ miệng, có bát chỉ còn lại chân hương đen sì cắm chi chít, có bát mới hơn, tro còn xốp. Không phải một bát, mà rải ở nhiều phía quanh gốc, chỗ nào có hốc rễ khuất gió là chỗ ấy có dấu hương khói.
Anh cúi xuống nhìn kỹ một bát hương ở phía rễ hướng ra đường. Tro đã đầy, chân hương cũ cháy dở cong queo. Bên cạnh bát hương là một đĩa nhỏ đã ố vàng, trên đĩa không còn gì ngoài mấy vệt loang của nước mưa và cánh hoa khô.
- Ở đây người ta thắp hương thường xuyên hả bác.
Ông Thành gật đầu, nhưng đáp rất gọn.
- Thỉnh thoảng. Người già trong làng vẫn giữ lệ.
Nam ghi vào sổ: quanh gốc có nhiều điểm thắp hương tự phát, cần làm rõ khi lập biên bản hiện trạng. Anh viết xong lại thấy dòng chữ của mình quá khô, không lột tả được cảm giác khi đứng ở đây. Cảm giác ấy không phải là sợ. Anh là kỹ sư, quen với số liệu và mặt cắt ngang, không tin vào những chuyện kể miệng ở quán nước. Nhưng có một sự lặng lẽ rất rõ ràng bao quanh gốc cây này. Người dân đi qua đây đều bước nhanh hơn một nhịp. Một bà cụ gánh rau đi ngang, tới gần gốc thì tự động vòng ra xa thêm nửa mét, mắt nhìn xuống mặt đường, không ngẩng lên nhìn tán hoa đỏ trên đầu. Hai thanh niên đi xe máy qua cũng giảm ga, nói chuyện nhỏ hẳn lại, qua khỏi tán cây mới lại cười nói to như cũ.
Nam để ý điều đó và hỏi.
- Sao mọi người đi qua đây cứ như tránh cái gì vậy bác Thành.
Ông Thành cười, nụ cười có phần gượng.
- Thói quen thôi cậu. Đường hẹp, gốc cây lại chìa ra, ai cũng vòng cho khỏi va.
Lời giải thích hợp lý, nhưng không khớp với những gì Nam vừa thấy. Bề rộng đường ở đoạn này không hẹp hơn các đoạn khác, và người ta vòng tránh ngay cả khi đường hoàn toàn vắng.
Anh tiếp tục đi dọc tuyến, cắm các mốc đo tạm bằng cọc tre và sơn đỏ, chụp ảnh hiện trạng bằng điện thoại, ghi tọa độ từng điểm. Ông Thành đi theo, thỉnh thoảng chỉ cho anh ranh giới đất của từng hộ, chỗ nào là đất thổ cư, chỗ nào là đất vườn, chỗ nào vướng mồ mả cũ đã di dời từ lâu. Mọi việc đều suôn sẻ, rõ ràng, cho tới khi cuộc trò chuyện quay lại gần gốc cây gạo.
- Phần tuyến qua gốc cây, hồ sơ xã đã thống nhất thế nào rồi bác.
- Tuyến đường thì dân nhất trí cả. Làng khổ vì đường lầy bao nhiêu năm rồi, ai cũng mong có đường bê tông tử tế cho con cháu đi học, cho xe chở lúa vào tận sân. Chỉ riêng cái gốc gạo này thì còn phải bàn thêm.
- Bàn thêm là sao ạ. Trong hồ sơ ghi cây nằm đúng tim đường, nếu giữ cây thì phải đổi tuyến, tốn thêm kinh phí và đất của các hộ bên cạnh.
Ông Thành im lặng một lúc, nhìn về phía tán cây.
- Thì thế mới phải bàn. Cậu cứ ghi nhận hiện trạng đã. Mấy hôm nữa họp dân ở đình, cậu sẽ nghe bà con nói.
Nam không hỏi dồn. Anh biết làm công tác giải phóng mặt bằng ở nông thôn không thể chỉ dựa vào bản vẽ. Có những thứ không nằm trong hồ sơ, như một ngôi mộ tổ nằm lệch vài mét, một cây khế do người đã khuất trồng, hay một lối đi tắt mà cả làng đã dùng mấy chục năm. Nhưng cây gạo này cho anh một cảm giác khác. Nó không giống một kỷ niệm riêng của một gia đình nào. Nó giống một điều mà cả làng cùng biết, cùng giữ, nhưng không ai muốn là người nói ra trước mặt người ngoài làng.
Buổi trưa, Nam ngồi nghỉ ở quán nước nhỏ cạnh bến Đò Ngang. Bến đò giờ không còn đò ngang qua sông như xưa, cầu đã xây ở phía hạ lưu, nhưng cái tên vẫn giữ, và bãi đất trống cạnh bến vẫn là nơi người làng chờ xe, gửi xe, uống nước khi đi chợ về. Bà bán nước tuổi ngoài sáu mươi, tóc búi gọn, rót cho anh một ấm trà nóng, thêm một đĩa kẹo lạc.
- Cậu là kỹ sư về làm đường phải không.
- Vâng, cháu về khảo sát bổ sung đoạn đầu làng.
- Cậu đo cả cái cây gạo kia à.
- Dạ, cây nằm trong phạm vi tuyến nên cháu phải ghi nhận.
Bà bán nước gật đầu chậm rãi, rót thêm trà vào chén của anh dù chén vẫn còn hơn nửa. Bà nhìn ra phía gốc cây, nơi tán hoa đỏ đang rực lên dưới nắng trưa đã đứng bóng, rồi quay lại nhìn Nam. Giọng bà không cao, không thấp, như nói một chuyện thời tiết rất bình thường.
- Tháng Ba rồi đấy cậu. Tháng này các chị lại về, đi qua gốc gạo thì đừng nói to.
Nam khựng tay đang cầm chén trà. Anh ngẩng lên, định hỏi các chị là ai, nhưng bà đã đứng dậy đi pha nước cho một người khách khác vừa ghé quán, dáng vẻ thản nhiên như vừa rồi chỉ dặn anh nhớ mang áo mưa. Ngoài kia, hoa gạo vẫn rơi lác đác xuống mặt đường đầu làng, từng bông, từng bông một, tiếng bộp khô và nặng vang lên trong buổi trưa vắng.