MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 2: Bia đá không chữ
Ngày hôm sau, Nam quay lại gốc cây gạo từ sớm cùng một cán bộ địa chính của xã. Anh cán bộ tên là Tuấn, tuổi ngoài ba mươi, mang theo thước dây, máy định…
Nội dung chương
Ngày hôm sau, Nam quay lại gốc cây gạo từ sớm cùng một cán bộ địa chính của xã. Anh cán bộ tên là Tuấn, tuổi ngoài ba mươi, mang theo thước dây, máy định vị cầm tay và một cuốn sổ đo đã cũ. Hai người bắt đầu công việc đo đạc chi tiết quanh gốc cây trong lúc sương sớm còn đọng trên cỏ và mặt đường đất còn ẩm.
Việc đầu tiên là đo chu vi thân cây ở độ cao ngang ngực. Thước dây phải nối thêm một đoạn vì một vòng không đủ. Tuấn đọc số, Nam ghi vào sổ: chu vi thân 5,2 mét. Thân cây lớn, vỏ sẫm màu, gai nhọn mọc dày ở phần dưới, càng lên cao gai càng thưa. Có những chỗ vỏ cây nứt thành rãnh sâu, nhựa khô đóng thành vệt đen. Nam đưa tay chạm thử vào một múi vỏ, cảm giác ráp và lạnh, không giống vỏ của những cây gạo non anh từng thấy ở các công trình khác.
Tán cây tỏa rộng gần ba chục mét, bóng của nó nếu là mùa lá xanh hẳn sẽ phủ kín cả một khoảng đất lớn. Nhưng bây giờ là tháng Ba, cây không còn lá, chỉ có hoa. Hoa đỏ trùm lên các cành, từ dưới nhìn lên thấy nền trời bị cắt thành từng mảng nhỏ bởi những chùm hoa dày. Tuấn ngẩng cổ nhìn một lúc rồi lắc đầu.
- Đứng dưới này lâu hoa rơi trúng đầu cũng đau đấy anh. Hoa gạo nó nặng, rơi từ trên cao xuống không đùa được.
Họ đo tiếp khoảng cách từ gốc cây tới tim đường dự kiến, tới mép bến đò, tới ranh giới đất vườn của các hộ gần nhất. Rễ cây nổi chạy dài về phía bến đò rõ rệt hơn các hướng khác. Có những đoạn rễ trồi hẳn lên mặt đất rồi lại chìm xuống, tạo thành những hõm đất khuất. Nam đi dọc theo hướng rễ về phía sông, vừa đi vừa chụp ảnh, và ở phía gốc hướng ra sông, anh dừng lại.
Ở đó, nép sát vào một múi rễ lớn, là một tấm bia đá nhỏ.
Bia cao chưa đầy nửa mét, rộng chừng một gang tay rưỡi, đá đã ngả màu xám chì, rêu phủ kín gần hết các cạnh. Mặt bia hướng ra phía bến đò, nhẵn một cách lạ thường. Nam quỳ xuống, dùng tay gạt lớp rêu mỏng và bụi đất bám trên mặt bia. Không có chữ. Không có một nét khắc nào, dù là đã mòn. Mặt đá phẳng, lạnh, chỉ có những vết lốm đốm của thời gian và mấy đường nứt tóc rất mảnh ở góc dưới. Trước bia là một bát hương bằng đá, miệng bát đã nứt một đường dài, trong bát còn tro cũ và ba chân hương đã cháy hết từ lâu, cong lại như những sợi thép nhỏ.
Nam nhìn tấm bia rất lâu. Ở các làng quê Bắc Bộ, bia không chữ không phải là không có, nhưng thường vẫn có dấu vết của việc khắc dở hoặc một ký hiệu nào đó. Tấm bia này thì như thể người ta dựng lên chỉ để đánh dấu một chỗ, chứ không phải để nói rõ chỗ ấy là gì. Hoặc cũng có thể, người dựng bia biết rõ ai nằm ở đây, cả làng cũng biết, nên không cần chữ nữa.
- Anh Tuấn, bia này có trong hồ sơ đất của xã không.
Tuấn lại gần, nhìn qua rồi lắc đầu.
- Không có đâu anh. Mấy cái này là của làng tự đặt từ xưa. Đất quanh gốc cây vẫn là đất công cộng của thôn, không cấp cho hộ nào cả. Bia thì cứ ở đây từ hồi tôi còn bé, không ai động vào.
- Không ai biết bia thờ ai à.
- Chắc thờ thần cây hoặc thờ chung người chết đuối ở bến đò ngày xưa. Tôi cũng không rõ. Anh đừng ghi vào biên bản làm gì, ghi vào lại phải giải trình lằng nhằng.
Nam gật đầu nhưng vẫn lấy điện thoại chụp lại tấm bia từ nhiều góc, chụp cả bát hương đá nứt miệng, chụp cả múi rễ ôm lấy phía sau bia như một vòng tay giữ chặt. Anh mở sổ tay, ghi một dòng riêng tách khỏi phần số liệu đo đạc: bia đá không chữ ở phía gốc hướng ra sông, bát hương đá cũ, chưa rõ thờ ai, cần hỏi thêm. Anh gạch chân hai chữ không chữ.
Khoảng đất dưới tán cây buổi trưa nắng gắt lại là một cảnh khác hẳn những gì Nam chờ đợi. Trời tháng Tư dương lịch đã bắt đầu nóng, nắng đổ thẳng xuống đoạn đường đầu làng không có bóng cây nào khác. Tán cây gạo dù không có lá vẫn tạo ra một khoảng râm mát nhờ mật độ cành và hoa dày đặc. Theo lẽ thường, đó phải là chỗ trẻ con trong làng tụ tập, là chỗ người đi chợ ngồi nghỉ, là chỗ mát duy nhất ở đầu làng. Nhưng thực tế thì không có ai ở đó.
Ở bến đò, một đám trẻ con chừng bảy tám đứa đang chơi đuổi bắt, đá một quả bóng nhựa đã xẹp một nửa. Chúng chạy ồn ào khắp bãi đất trống, cười hét vang cả một khúc sông, nhưng không một đứa nào chạy vào khoảng đất dưới tán cây gạo, dù quả bóng có lần lăn tới gần mép bóng râm của tán cây. Đứa bé nhất chạy theo bóng, tới sát vệt bóng của tán cây thì khựng lại, đứng ở ngoài, dùng chân khều khều cho bóng lăn ra, chứ nhất định không bước vào trong. Nam nhìn cảnh ấy mà thấy lạ. Không có người lớn nào đứng đó nhắc chúng. Có vẻ như đó là một giới hạn mà trẻ con trong làng tự học lấy từ rất sớm, như học cách không nghịch dao, không xuống sông một mình.
Bà bán nước hôm qua cũng từng nói tới một lệ lạ khác. Nhân lúc nghỉ trưa, Nam ghé lại quán nước và hỏi Tuấn cho rõ.
- Tôi nghe nói phụ nữ mang thai trong làng tránh gốc cây lúc hoàng hôn, có đúng không anh.
Tuấn cười trừ, rót chén trà, đáp nửa đùa nửa thật.
- Lệ cũ các cụ truyền lại thế. Hoàng hôn là lúc âm dương lẫn lộn, cây gạo lại là cây hay tụ khí, người yếu vía thì tránh. Tôi thì không tin lắm, nhưng vợ tôi hồi mang bầu cũng không đi qua đây buổi tối đâu. Các cụ dặn thì cứ nghe, mất gì.
Nam không cười. Anh ghi thêm vào sổ một dòng nữa về lệ kiêng hoàng hôn và kiêng phụ nữ mang thai tới gần gốc cây trong tháng Ba. Anh không tin vào cách giải thích âm dương, nhưng anh tin vào sức bền của một tập tục. Một lệ kiêng giữ được qua nhiều thế hệ, không ai còn nhớ rõ bắt đầu từ đâu. Thường phải bám rễ vào một sự kiện thật nào đó đủ nặng để cả làng không dám quên, dù họ có thể đã quên mất cách kể lại sự kiện ấy một cách nguyên vẹn.
Buổi chiều, công việc đo đạc kết thúc. Tuấn cuộn thước, chào Nam rồi về xã trước. Nam ở lại thêm một lúc để kiểm tra lại các mốc sơn đỏ và chụp nốt mấy tấm ảnh toàn cảnh khi nắng đã xiên. Hoa gạo bắt đầu rụng lác đác nhiều hơn buổi sáng. Mỗi bông hoa rời cành đều rơi thẳng xuống, ít khi bị gió cuốn đi xa, và khi chạm đất đều kêu một tiếng bộp rõ to trong buổi chiều vắng. Tiếng ấy không đều, lúc thưa, lúc bỗng dồn lại hai ba tiếng liên tiếp, làm anh mấy lần ngẩng lên nhìn quanh như thể có ai đang đi lại trên nền đất sau lưng mình.
Buổi đo đạc hôm ấy còn để lại cho Nam một ấn tượng nữa mà anh không ghi vào sổ số liệu, chỉ ghi vào trí nhớ. Khi hai người đi vòng sang phía đông của gốc cây, nơi mặt đất hơi dốc xuống ruộng thấp, anh nhìn thấy những hốc rễ sâu hun hút, tối om dù nắng đang ở trên đỉnh đầu. Trong một hốc rễ, ai đó đã đặt một chiếc bát sành nhỏ úp ngược, cạnh bát là một bó hương đã cháy hết từ lâu và một đồng xu cũ đã xanh rỉ. Tuấn bảo đó là lễ của người đi sông, người ta vẫn hay thắp hương ở gốc cây trước khi ra bến đò vào những ngày nước lớn. Nam gật đầu, nhưng trong lòng anh lại nghĩ tới một điều khác: một gốc cây mà người ta phải thắp hương trước khi đi qua, một tấm bia không chữ mà cả làng đều biết nhưng không ai giải thích. Một khoảng bóng mát mà trẻ con cũng không dám bước vào, tất cả không thể chỉ là thói quen vu vơ của một làng quê. Chúng là những dấu hiệu của một ký ức tập thể đã bị nén xuống thành tập tục, thành lệ kiêng, thành sự im lặng, để người ta có thể sống tiếp bên cạnh một điều quá nặng mà không phải ngày nào cũng nhắc lại thành lời.
Anh cũng để ý tới những vết khắc cũ trên thân cây ở tầm thấp, những vết đã liền sẹo từ lâu, mờ đi dưới lớp vỏ mới. Không phải chữ, chỉ là những vạch ngắn song song, như ai đó từng dùng dao đánh dấu một điều gì rồi lại thôi. Tuấn không biết những vạch ấy là gì, chỉ bảo từ khi anh ta còn nhỏ chúng đã có ở đó. Nam chụp lại cả những vết khắc ấy, dù anh chưa hiểu chúng có ý nghĩa gì. Vì kinh nghiệm làm khảo sát dạy anh rằng những chi tiết không hiểu được ngay thường là những chi tiết quan trọng nhất về sau, khi bức tranh toàn cảnh dần hiện ra. Anh tự hứa sẽ quay lại hỏi cụ Duệ về tấm bia không chữ trong chuyến thăm vận động sắp tới, dù anh đoán trước rằng câu trả lời, nếu có, cũng sẽ không đến một cách dễ dàng và trọn vẹn.
Chập choạng, khi ánh sáng cuối ngày còn sót lại một vệt cam mỏng ở phía sông, Nam đứng một mình dưới tán cây để thu nốt chiếc cọc mốc cuối cùng. Anh vừa cúi xuống thì nghe một tiếng bộp ngay sau lưng, rất gần, như thể bông hoa rơi đúng vào chỗ anh vừa đứng vài giây trước. Anh giật mình quay lại thật nhanh.
Không có ai. Chỉ có một bông hoa gạo đỏ thẫm nằm trên mặt đất ẩm sương sớm chưa khô hẳn, cánh hoa còn nguyên, nhụy hoa hướng lên trời. Gió sông thổi nhẹ, tán cây trên đầu im phăng phắc, không một cành nào động đậy đủ để làm thêm một bông hoa nữa rơi xuống. Nam đứng yên một lúc lâu, nhìn bông hoa dưới chân, rồi chậm rãi bước ra khỏi bóng tán cây, về phía con đường đã lên đèn lác đác của làng.