MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 4: Lán trại bên bến đò
Sáng ngày 20 tháng Tư, bãi đất trống cạnh bến Đò Ngang ồn ào từ lúc trời còn chưa sáng hẳn. Hai chiếc xe tải chở vật liệu vào trước, rồi hai máy xúc được…
Nội dung chương
Sáng ngày 20 tháng Tư, bãi đất trống cạnh bến Đò Ngang ồn ào từ lúc trời còn chưa sáng hẳn. Hai chiếc xe tải chở vật liệu vào trước, rồi hai máy xúc được hạ xuống bằng xe chuyên dụng, xích sắt nghiến lên mặt đất làm cả một vệt dài. Công nhân dựng lán trại bằng khung thép và bạt xanh, đóng cọc, căng dây, dựng một nhà ăn tạm, một kho chứa dầu và dụng cụ, một dàn giáo xếp gọn ở góc bãi. Một chiếc máy cưa xích công nghiệp được đặt riêng trong thùng gỗ, khóa cẩn thận, chỉ đội trưởng mới giữ chìa khóa.
Nguyễn Hoàng Nam tới hiện trường khi lán vừa dựng xong phần khung. Anh đứng ở mép bãi, nhìn toàn bộ khu trại mọc lên chỉ trong một buổi sáng ngay trong tầm nhìn của cây gạo ở đầu ngõ. Từ lán trại nhìn sang, tán hoa đỏ của cây gạo chiếm gần hết một góc trời. Gió sông thổi bạt lán kêu phần phật, hoa gạo thỉnh thoảng rơi xuống mái bạt, tiếng bộp nghe rất rõ giữa tiếng búa và tiếng máy nổ.
Cai thầu Trần Văn Kiên tới sau cùng bằng xe bán tải. Ông năm mươi hai tuổi, người cao, vai rộng, da sạm nắng công trường, giọng nói to và dứt khoát. Ông không vào lán ngay mà đi một vòng khắp hiện trường, tay chắp sau lưng, mắt xem xét từng vị trí đặt máy, từng lối xe ra vào. Tới đoạn đường gần gốc cây, ông dừng lại, ngẩng lên nhìn tán cây một lúc lâu rồi quay lại nói với toàn đội đang đứng chờ.
- Nghe rõ đây. Khởi công ngày 25 tháng Tư. Việc đầu tiên khi khởi công là đốn cây gạo này lấy mặt bằng. Không đốn được cây thì không làm được nền, không làm được nền thì cả đoạn này tắc. Hạn hợp đồng là 30 tháng Sáu, không chờ một ai, không chờ một cái lễ lạt nào của làng cả. Chậm ngày nào là tôi mất tiền ngày đó, mà tôi mất tiền thì các anh cũng không có lương mà lĩnh đâu.
Mấy công nhân gật đầu, không ai hỏi lại. Đội trưởng Phạm Văn Đức đứng bên cạnh Kiên, ghi chép vào cuốn sổ công trường, nét mặt không biểu lộ đồng tình hay phản đối. Đức bốn mươi bốn tuổi, ít nói, làm công trường đã nhiều năm, quen với việc đứng giữa cai thầu và công nhân. Khi Kiên nói xong và đi vào lán xem hồ sơ, Đức ở lại phân công việc cho từng tổ, giọng đều đều và thực tế: ai phụ trách điện nước, ai trực đêm, ai kiểm tra dầu máy.
Nam tranh thủ làm việc với Đức về trình tự thi công trong phòng lán tạm. Trên bàn là bản vẽ tuyến, lịch thi công dự kiến, danh sách vật tư. Nam chỉ vào đoạn qua gốc cây.
- Phần cây gạo, biên bản họp dân tối qua mới thông qua phần tuyến đường, phần cây để lại xem xét. Anh Đức biết chuyện này chưa.
Đức nhìn bản vẽ, đáp chậm.
- Tôi biết. Ông Thành có gọi điện báo. Nhưng anh Kiên bảo cứ chuẩn bị theo bản vẽ gốc. Nếu trên quyết giữ cây thì tính sau, còn chuẩn bị thì không thừa.
- Nếu dân làng chưa đồng ý đốn mà mình đã chặt, sẽ rắc rối lắm.
- Tôi hiểu. Tôi làm công trường lâu rồi, đất đai đền bù chưa xong mà động vào là khổ. Nhưng anh cũng hiểu cho tôi, người quyết là anh Kiên, tôi chỉ là đội trưởng thi công. Tôi sẽ cố giữ trình tự, cái gì chưa có giấy tờ thì chưa làm tới mức không quay lại được.
Nam nhìn Đức và nhận ra người đàn ông này không hẳn đồng tình với cách làm gối đầu của Kiên. Đức biết sợ những rắc rối không nằm trong bản vẽ, biết sợ cả những điều mà người làm công trường lâu năm ở nông thôn thường học được bằng kinh nghiệm: có những chỗ đất, động vào thì dễ, lấp lại thì không bao giờ còn như cũ. Nhưng Đức cũng là người làm thuê, sợ mất việc không kém gì sợ những chuyện khó nói. Anh ta chọn cách đi ở giữa, giữ cho mọi việc không vượt quá giới hạn cho tới khi buộc phải chọn một phía.
Buổi chiều, lán trại hoàn thiện. Công nhân trải chiếu, mắc võng, nấu bữa cơm đầu tiên bằng bếp ga du lịch. Cơm công trường đơn giản, canh rau và thịt kho, nhưng không khí khá vui vì ngày đầu bao giờ cũng còn nhẹ nhàng. Trong đội, Nam để ý tới hai người trẻ nhất. Nguyễn Văn Tú, hai mươi sáu tuổi, tay lái cưa chính của đội, người nhanh nhẹn, hay đùa, được giao giữ chiếc cưa xích công nghiệp. Lê Văn Hậu, hai mươi ba tuổi, trẻ nhất đội, người gầy, ít nói hơn Tú, làm việc chăm chỉ nhưng thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn về phía cây gạo với ánh mắt rất lạ, như người đang nghe ngóng một âm thanh mà người khác không nghe thấy.
Đêm đầu tiên ngủ lán, Nam không ở lại. Anh thuê một phòng trọ nhỏ trên xã, cách làng chừng hai cây số, để tiện làm hồ sơ buổi tối. Nhưng câu chuyện của đêm ấy, anh được nghe kể lại ngay sáng hôm sau từ chính miệng Hậu, khi anh tới lán sớm để kiểm tra mốc tuyến.
Hậu kể rằng khoảng gần hai giờ sáng, anh ta tỉnh giấc vì nghe tiếng ru con. Tiếng ru nỉ non, nhỏ và đều, vẳng tới từ phía tán cây gạo. Không phải tiếng người hát rõ lời, chỉ là một giai điệu ru quen thuộc của vùng đồng bằng Bắc Bộ, à ơi kéo dài, ngắt quãng, như một người mẹ trẻ đang ru con trong đêm khuya mà không muốn làm ai thức giấc. Hậu nằm im trên võng, lắng nghe, thấy tiếng ru mỗi lúc một rõ hơn, dù gió đêm hôm ấy thổi từ phía sông vào, lẽ ra phải cuốn âm thanh đi hướng khác.
Anh ta lay Tú đang ngủ ở võng bên cạnh dậy.
- Anh Tú, anh có nghe thấy gì không. Có ai ru con ở ngoài kia kìa.
Tú càu nhàu, trở mình, lắng nghe vài giây trong cơn ngái ngủ rồi lắc đầu.
- Ru con gì giờ này. Chắc nhà nào trong làng có trẻ nhỏ khóc đêm thôi. Ngủ đi, mai dậy sớm.
Những ngày đầu ở lán trại, Nam còn làm quen với nếp sinh hoạt rất khác của đội thi công so với văn phòng tư vấn của anh ở thành phố. Công nhân dậy từ lúc trời còn tối, ăn sáng bằng cơm nguội và cá khô, kiểm tra máy móc bằng những động tác thuần thục không cần nhìn. Đức đi một vòng kiểm tra từng thùng dầu, từng mối dây điện, từng chiếc cọc tiêu, ghi chép bằng bút chì vào cuốn sổ đã quăn mép. Kiên thì chỉ xuất hiện vào những lúc cần ra lệnh hoặc cần ký giấy, còn lại ông ở trên thị trấn lo việc vốn và vật tư, gọi điện về lán nhiều lần trong ngày để hỏi tiến độ chuẩn bị. Sự phân chia ấy làm Nam hiểu rõ thêm về cơ cấu của gói thầu nhỏ này: Kiên là người chịu rủi ro tiền bạc và cũng là người quyết định mọi việc lớn, Đức là người giữ cho hiện trường không rối. Còn công nhân là những người trực tiếp chịu nắng mưa và cũng là những người đầu tiên phải đối mặt với bất cứ điều gì xảy ra ở gốc cây, dù họ là người ít quyền quyết định nhất.
Anh cũng tranh thủ hỏi chuyện mấy công nhân về những công trình trước đây của đội. Họ kể đã làm đường ở nhiều xã trong huyện, đã từng gặp mồ mả vô chủ, đã từng phải di dời hài cốt có giấy tờ đầy đủ theo đúng quy trình, và mọi việc đều xong xuôi không có chuyện gì lạ. Chính vì thế, không khí ở Xuân Đào làm họ hơi bất an theo một cách mà họ không gọi tên được. Một công nhân lớn tuổi nói nhỏ với Nam trong lúc nghỉ trưa rằng làm đường thì ở đâu cũng có đất có đá. Nhưng ở làng này, đất quanh gốc cây có cảm giác khác, đi qua buổi trưa nắng chang chang mà vẫn thấy lạnh gáy, không giống bất cứ đoạn đường nào ông từng làm. Nam nghe, không bình luận, chỉ nhìn về phía tán hoa đỏ đang rung nhẹ trong gió sông và thấy câu chuyện của người công nhân ấy khớp một cách kỳ lạ với cảm giác của chính anh trong hai ngày đầu tiên về làng.
Hậu ngồi dậy, nhìn ra ngoài cửa lán. Bãi trại tối om, chỉ có một bóng đèn bảo vệ ở kho dầu hắt ra vệt sáng vàng yếu ớt. Phía đầu ngõ, cây gạo đứng đen đặc, tán cây không nhìn rõ hoa nữa, chỉ là một khối tối lớn hơn cả bóng đêm xung quanh. Tiếng ru lúc ấy đã tắt hẳn, như thể nó chỉ tồn tại trong đúng khoảng thời gian Hậu còn nửa tỉnh nửa mê, và khi có thêm một người thứ hai cùng lắng nghe thì nó biến mất. Tú đã ngủ lại rất nhanh, tiếng thở đều đều. Hậu thì không ngủ lại được nữa.
Tối hôm ấy, trước khi rời lán về phòng trọ, Nam còn đứng lại một lúc ở bãi đất trống nhìn công nhân chia ca trực đêm và kiểm tra lại khóa kho dầu. Anh thấy Hậu tự nguyện xin trực ca đầu để Tú được ngủ sớm, và thấy Đức lặng lẽ đặt thêm một chiếc đèn pin dự phòng ở cửa lán cho người trực đêm. Những việc nhỏ ấy cho anh cảm giác đội thi công này, dù bị sức ép tiến độ đè nặng, vẫn là những con người biết lo cho nhau. Và chính vì thế, những gì sắp xảy ra ở gốc cây kia mới càng làm anh day dứt khi nghĩ tới.
Anh ta ngồi trằn trọc tới sáng trên võng, thỉnh thoảng lại nhìn về phía tán cây đen đặc ngoài kia và tự hỏi trong làng này, ai còn ru con giữa đêm khuya như thế. Ru ở ngoài gốc cây, vào lúc hai giờ sáng, trong tháng Ba âm lịch mà bà bán nước đã dặn là tháng các chị lại về. Nam nghe Hậu kể xong, ghi vào sổ tay một dòng ngắn rồi gập sổ lại. Anh không nói tin hay không tin. Anh chỉ thấy từ khi về làng này, mỗi ngày lại có thêm một chi tiết nhỏ không khớp với bản vẽ sạch sẽ trên giấy của anh, và tất cả những chi tiết ấy đều xoay quanh cùng một gốc cây.