MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 50: Giỗ thứ bảy mươi bảy
Ngày mười bảy tháng Tư năm 2027, ngày mười hai tháng Ba âm lịch, Nguyễn Hoàng Nam trở về làng Xuân Đào. Anh về theo lời hứa của mình, lời hứa nói với cụ…
Nội dung chương
Ngày mười bảy tháng Tư năm 2027, ngày mười hai tháng Ba âm lịch, Nguyễn Hoàng Nam trở về làng Xuân Đào.
Anh về theo lời hứa của mình, lời hứa nói với cụ Duệ trong buổi chiều nhận bản danh sách chép tay, và nói lại một lần nữa dưới gốc cây trong ngày nghiệm thu đoạn đường. Gần một năm qua, Nam làm việc ở một dự án cầu đường tại tỉnh khác, ở một vùng đất khác hẳn, với những bản vẽ khác, những con người khác. Nhưng khi tháng Ba âm lịch tới gần, anh đã xin nghỉ phép từ trước đó cả tháng, xếp lại công việc cho đồng nghiệp, và bắt chuyến xe sớm nhất về Hải Dương vào đúng dịp giỗ. Không ai ở công ty hỏi anh về đâu. Chỉ có một đồng nghiệp cùng phòng, người từng xem hồ sơ của đoạn đường Xuân Đào khi anh bàn giao, nói một câu khi anh xách ba lô ra khỏi văn phòng: về thắp hương cho các chị của anh đấy à. Nam gật đầu. Các chị của anh. Sau một năm, cách gọi ấy nghe tự nhiên tới mức anh không thấy cần sửa lại.
Xe đưa anh về tới đầu làng vào lúc sáng sớm.
Cây gạo đã lại nở hoa đỏ rực đúng mùa. Từ xa, qua rặng tre đầu làng, tán cây hiện ra như một đám mây đỏ đứng yên trên nền trời tháng Ba trong trẻo, hoa nở kín những cành cao đã trút gần hết lá. Đúng như hình ảnh của mùa hoa năm ngoái, và của tất cả những mùa hoa trong bảy mươi sáu năm trước đó mà Nam chỉ được nghe kể. Nhưng đoạn đường dưới tán cây thì đã khác hẳn những ngày đầu anh tới. Đoạn đường cong chạy êm dưới bóng cây, mặt đường sau gần một năm sử dụng vẫn phẳng, rãnh thoát nước hai bên sạch và thông, biển báo đứng ngay ngắn. Xe cộ qua lại trên đoạn cong với tốc độ chậm tự nhiên của một vòng cung, và người lái xe nào đi qua gốc cây cũng vô thức đi chậm lại một chút ở đoạn trước cổng miếu, dù không phải ai cũng biết vì sao mình làm thế.
Miếu thờ khói hương không ngớt từ sáng sớm.
Nam xuống xe ở đầu đoạn cong và đi bộ vào, như cách anh vẫn thích làm mỗi lần về một công trình cũ: đi bằng chân trên con đường mình đã làm, để cảm được nó bằng cả bàn chân chứ không chỉ bằng mắt. Sân miếu sáng nay đông người từ rất sớm. Dân làng Xuân Đào tới thắp hương giỗ theo lệ cũ của làng, nhưng năm nay, buổi giỗ đông hơn mọi năm trước rất nhiều. Thân nhân của mười hai chị từ các làng bên về đủ mặt hơn cả ngày khánh thành miếu, có những gia đình đi cả ba thế hệ, ông bà dẫn con cháu tới đứng trước bia, chỉ cho bọn trẻ đọc tên người thân của nhà mình trên đá. Khói hương bay lên từ ban thờ trong miếu và từ bát hương đá cũ ở gốc cây, quyện vào nhau trong nắng sáng, bay ngang qua những cành hoa đỏ.
Tin vui lớn nhất của làng trong năm qua, Nam đã được Lan báo từ tháng Hai qua điện thoại, nhưng sáng nay anh mới được nhìn tận mắt văn bản của nó.
Quyết định công nhận liệt sĩ cho cả mười hai nữ du kích đã được cơ quan có thẩm quyền ký từ tháng Hai năm 2027. Mười hai chị, đủ mười hai người, không thiếu một ai. Năm chị vốn đã có hồ sơ liệt sĩ hoàn chỉnh từ trước được khẳng định lại trong cùng một quyết định. Bảy chị từng bị ghi là mất tích suốt mấy chục năm, những người mà sự hy sinh của họ chỉ tồn tại trong một cuốn sổ tay cất kín và trong trí nhớ của một ông cụ. Nay đều có tên chính thức trong danh sách liệt sĩ của xã, với đầy đủ họ tên, tuổi, ngày hy sinh và nơi an nghỉ. Bản sao của quyết định được đặt trang trọng trong miếu, đóng khung kính, treo ở vị trí bên cạnh ban thờ. Ngay dưới khung quyết định, trong một tủ kính nhỏ do xã trang bị, là cuốn sổ của ông Thức, bản gốc, được bảo quản như một hiện vật, cùng với mảnh vải mục năm nào và bản ghi chép sự thật năm 1950 của Lan.
Lan đón Nam ở cổng miếu.
Cô giờ không chỉ là giáo viên tiểu học của làng. Từ sau ngày miếu khánh thành, xã giao thêm cho cô phụ trách phần hồ sơ di tích của xã, trong đó có khu miếu thờ và gốc cây gạo. Cô mặc áo dài màu trầm, tóc búi gọn, tay cầm một cuốn sổ ghi chép mới, dày và được bọc cẩn thận, trong đó là danh sách khách về dự giỗ, danh sách thân nhân các chị, và kế hoạch tu bổ miếu trong năm tới. Cô dẫn Nam đi một vòng quanh khu vực, như một người hướng dẫn đã quen việc, kể cho anh nghe những thay đổi của một năm qua.
Bia đá trong miếu có thêm một hàng chữ mới, được khắc bổ sung sau khi quyết định công nhận liệt sĩ được ký: một dòng ghi nhận mười hai nữ du kích đã được Nhà nước công nhận liệt sĩ, với số quyết định và tháng năm ký. Hàng chữ mới nằm ngay dưới danh sách mười hai cái tên, nét khắc cùng một tay thợ, thầy Hảo đã quay lại sân miếu vào tháng Ba để khắc dòng chữ này, dù tuổi ông đã cao hơn và tay đã chậm hơn năm trước một chút. Bát hương đá cũ ở gốc cây vẫn còn nguyên ở vị trí của nó, không ai dời đi dù đã có miếu. Vì cụ Duệ nói bát hương ấy là nơi làng thắp hương cho các chị suốt mấy chục năm khi chưa có gì cả, nó phải ở lại như một phần của câu chuyện. Hàng rào bảo vệ quanh gốc được thôn chăm sóc đều đặn, cọc nào mục thì thay cọc ấy, biển báo được lau sạch mỗi tháng. Đoạn đường cong được duy tu một lần vào cuối mùa mưa, mặt đường không hư hỏng đáng kể, và theo lời trưởng thôn Thành nói với Lan, cánh lái xe trong vùng đã quen gọi đoạn đường này bằng một cái tên riêng: khúc cong cây gạo.
Buổi trưa, Nam ngồi ăn cơm giỗ với gia đình cụ Duệ.
Cụ đã yếu hơn năm ngoái rõ rệt. Cụ đi lại trong nhà phải có người dìu, tay run nhiều hơn khi cầm đũa, nhưng trí nhớ và sự minh mẫn của cụ thì không suy giảm chút nào. Cụ nhận ra Nam ngay từ khi anh bước vào sân, gọi đúng tên anh, hỏi anh về công trình mới, về những con đường anh đang làm ở tỉnh xa, hỏi cả chuyện anh đã có gia đình riêng chưa làm cả nhà cười. Thắng ngồi ở mâm cơm cùng cha và khách, thái độ đã khác hẳn người đàn ông từng cãi nhau với cả nhà vì hai mét đất vườn. Ông kể cho Nam nghe chuyện khu vườn sau khi nhường đất: hàng rào mới đã dựng xong, cây chuối trồng lại đã ra buồng đầu tiên, và ông nói một câu làm Nam nhớ mãi. Rằng giờ mỗi lần đi qua đoạn đường cong, ông không còn thấy tiếc phần đất đã mất nữa, ông chỉ thấy đó là phần đất nhà mình góp vào một việc mà cả làng cùng hưởng.
Khi bữa cơm gần xong, cụ Duệ cầm tay Nam, nói chậm rãi từng lời dặn mà anh biết mình sẽ mang theo rất lâu.
- Cháu làm đường ở đâu, cũng nhớ một điều thôi. Cụ nói. - Đường nào cũng nên đi qua cho đàng hoàng. Đừng đi qua trên đầu người khác. Đất nào cũng có người đã sống, đã chết ở đó trước mình. Mình hỏi cho rõ, mình nhường cho đúng, đường làm xong mới bền. Đường bền không phải vì bê tông tốt. Đường bền vì lòng người ở hai bên đường người ta yên.
Nam gật đầu, hứa với cụ rằng anh đã và sẽ làm đúng như thế, ở dự án hiện tại và ở mọi dự án sau này. Cụ nghe xong thì cười nhẹ, buông tay anh ra, tựa lưng vào ghế, nhìn ra sân nhà nơi nắng tháng Ba đang chiếu qua giàn hoa giấy, vẻ mặt của một người già đã nói xong những điều cần nói nhất với thế hệ đi sau.
Chiều xuống, sau khi khách dự giỗ đã thắp hương xong và phần lớn đã ra về, Nam ở lại gốc cây thêm một lúc.
Anh thắp một nén hương ở bát hương đá cũ, rồi đi vào miếu thắp thêm một nén trước ban thờ và tấm bia mười hai cái tên. Anh đứng đọc lại danh sách trên bia một lần, đủ mười hai người, từ đội trưởng Nguyễn Thị Mận tới em út Đỗ Thị Mai, rồi đọc dòng chữ mới khắc ở phía dưới. Trên đầu anh, qua mái miếu và qua những khoảng trống của tán cây, hoa gạo nở đỏ. Một vài bông hoa rời cành, rơi lác đác xuống đoạn đường cong và sân miếu trong gió chiều nhẹ, rơi đúng mùa của nó, theo đúng cách một cây gạo vẫn rơi hoa vào tháng Ba từ gần hai trăm năm nay. Không một người nào còn ở sân miếu lúc ấy coi những bông hoa rơi là điềm gở. Một đứa trẻ trong làng chạy nhặt một bông hoa đỏ còn nguyên, mang về đưa cho bà nó đang ngồi ở bậc thềm miếu, và bà cụ cầm bông hoa, chỉ cười.
Tiếng ru con năm nào, thứ âm thanh từng làm công nhân ở lán trại mất ngủ, từng làm cả một vùng quê xôn xao với những lời đồn về ma cây gạo đòi người thế mạng, giờ không còn ai nhắc tới như một điều đáng sợ nữa. Trong câu chuyện của làng Xuân Đào sau một năm, người ta kể về các chị bằng tên tuổi, bằng ngày giỗ, bằng tấm bia và quyết định liệt sĩ, chứ không bằng những tiếng động trong đêm. Các chị đã trở về đúng vị trí của mình trong ký ức của làng: mười hai người con gái đã hy sinh vì làng vì nước, nằm yên dưới gốc cây, được con cháu thắp hương đàng hoàng mỗi độ tháng Ba.
Lan tiễn Nam ra tới đầu đoạn đường cong khi trời đã ngả chiều.
Hai người đứng ở vệ đường, nhìn lại gốc cây gạo hoa đỏ, miếu thờ còn vương khói hương, và đoạn đường cong chạy êm trong nắng cuối ngày. Nam quay sang Lan, nói câu cuối cùng của anh trong lần trở về này, một câu nói mà anh biết không chỉ là lời chào tạm biệt.
- Năm sau tôi lại về. Nam nói. - Tháng Ba thì ở đây không cần ai nhắc đường về.
Lan cười, gật đầu, và đứng ở cổng miếu vẫy tay cho tới khi xe của Nam đi hết vòng cung quanh gốc cây. Qua cửa kính, anh nhìn thấy tán hoa đỏ lùi dần về phía sau, nhỏ lại trong khung cửa, nhưng không biến mất, như một điểm mốc đỏ đứng yên ở đầu làng Xuân Đào, chờ những người đã hứa sẽ trở về vào mỗi độ tháng Ba.