MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 47: Trước lễ cúng tạ
Ngày mười sáu tháng Sáu, miếu thờ dưới bóng cây gạo bước vào những ngày hoàn thiện cuối cùng. Phần xây dựng chính đã xong từ mấy hôm trước. Tấm bia đá…
Nội dung chương
Ngày mười sáu tháng Sáu, miếu thờ dưới bóng cây gạo bước vào những ngày hoàn thiện cuối cùng.
Phần xây dựng chính đã xong từ mấy hôm trước. Tấm bia đá mười hai cái tên đã được dựng vào vị trí trung tâm, mặt bia hướng ra bến đò. Những ngày này, thợ chỉ còn làm những việc nhỏ nhưng cần sự tỉ mỉ: quét vôi lại một lượt cho tường miếu sáng đều, lát nốt khoảng sân gạch nhỏ phía trước. Trồng hai cây cau ở hai bên miếu theo ý của cụ Duệ, và dựng một cổng tam quan thu nhỏ ở lối vào, hướng ra đoạn đường cong mới. Cổng không lớn, chỉ đủ để người đi qua biết mình đang bước vào một nơi thờ tự, cột cổng bằng gạch, mái lợp ngói cùng loại với mái miếu. Trên trán cổng là một dòng chữ ngắn do thầy Hảo viết mẫu: tên của miếu thờ mười hai nữ du kích làng Xuân Đào.
Nam đi một vòng quanh công trình vào buổi sáng, kiểm tra từng hạng mục theo danh sách hoàn công anh cầm trên tay. Anh đo lại khoảng cách từ cổng miếu tới mép đường cong, kiểm tra rãnh thoát nước nhỏ chạy quanh nền miếu để bảo đảm mưa lớn không đọng vào chân tường, xem lại hàng rào bảo vệ quanh gốc cây vừa được dựng lại sau cơn giông đầu mùa. Mọi thứ đều khớp với hồ sơ. Nhưng khi đứng ở sân miếu, nhìn lên tán cây gạo đang xanh rợp sau mùa hoa, anh thấy mình kiểm tra công trình này bằng một tâm thế khác hẳn mọi công trình trước đây. Anh không chỉ kiểm tra xem nó có đúng bản vẽ không. Anh kiểm tra xem nó có xứng với những người nằm dưới gốc cây kia không, và anh biết câu hỏi thứ hai ấy không có một tiêu chuẩn kỹ thuật nào trả lời thay được.
Trong buổi họp ngắn ở UBND xã vào buổi trưa cùng ngày, làng và xã thống nhất việc tổ chức lễ cúng tạ kết hợp khánh thành miếu thờ.
Buổi lễ sẽ diễn ra vào rằm tháng Năm âm lịch, ngày hai mươi chín tháng Sáu, đúng một ngày trước hạn nghiệm thu đoạn đường. Trưởng thôn Thành trình bày kế hoạch: lễ cúng tạ theo lệ làng do thầy Hảo chủ trì, phần khánh thành miếu do xã chủ trì, hai phần nối tiếp nhau trong cùng một buổi sáng, tại sân miếu và gốc cây gạo. Đại diện huyện sẽ về dự, trong đó có ông Đỗ Quốc Bảo của Ban quản lý dự án, người đã ký quyết định phê duyệt điều chỉnh thiết kế. Đơn vị thi công được mời đầy đủ, từ công ty chủ thầu tới toàn đội của Đức và Kiên với tư cách người tài trợ vật liệu xây miếu.
Phần danh sách khách mời mà Nam chú ý nhất là phần thân nhân của mười hai chị.
Ngoài gia đình cụ Duệ là thân nhân của đội trưởng Mận ở ngay trong làng, xã đã liên hệ được với thân nhân còn lại của các chị ở những làng bên. Phần lớn là cháu chắt đời sau của các chị Sen, Liễu và Hạnh, những người mà trước đây, vì sự thật năm 1950 bị giữ kín quá lâu, thậm chí không biết rõ người bà, người cô của mình nằm ở đâu. Lan là người trực tiếp viết thư và gọi điện cho từng nhà. Cô kể với Nam rằng có một gia đình ở làng bên, khi nghe tin miếu thờ đã xây xong và bia đã khắc đủ tên người thân của họ, người cháu gái lớn tuổi nhất trong nhà đã khóc ngay trong điện thoại. Nói rằng gia đình đi tìm mộ của bà mình mấy chục năm, hỏi ở đâu cũng chỉ nhận được câu trả lời là mất tích trong kháng chiến, không ai ngờ bà nằm ngay dưới một gốc cây gạo cách làng mình không xa.
Toàn thể dân làng Xuân Đào cũng được mời dự lễ, như cách cả làng đã cùng có mặt trong đêm cúng lớn cuối tháng Ba. Cụ Duệ nói trong buổi họp rằng lễ này không phải lễ riêng của nhà cụ, cũng không phải lễ riêng của dự án đường. Đây là lễ của cả làng, khánh thành nhà mới cho mười hai chị, và cũng là lễ tạ cho một đoạn đường đã làm xong theo cách tử tế. Ai trong làng từng thắp một nén hương ở gốc cây trong những tháng qua đều có chỗ đứng ở sân miếu sáng hôm ấy.
Những ngày sau buổi họp, Nam bắt đầu dọn dần đồ đạc ở phòng trọ.
Việc của anh ở công trường đã vào giai đoạn kết thúc. Các biên bản hoàn công của đoạn tuyến cong được anh rà soát từng trang: biên bản kiểm tra nền đường sau cơn giông, biên bản nghiệm thu từng hạng mục của đội thi công. Hồ sơ đền bù và bàn giao mặt bằng đã khép kín từ tháng Năm, quyết định phê duyệt điều chỉnh thiết kế của huyện, hồ sơ công trình phụ trợ miếu thờ. Anh xếp hồ sơ thành từng tập, đánh số, ghi danh mục ở trang đầu, chuẩn bị cho ngày nghiệm thu tổng thể vào ba mươi tháng Sáu. Mỗi tập hồ sơ khép lại là một phần việc ở làng này kết thúc, và anh đếm được rất rõ mình còn lại bao nhiêu ngày ở Xuân Đào: chưa đầy hai tuần.
Một buổi chiều, khi đang gấp lại mấy bộ quần áo bảo hộ đã cũ trong phòng trọ, Nam chợt dừng tay và ngồi xuống mép giường, nhìn quanh căn phòng nhỏ mà anh đã ở hơn hai tháng. Hơn hai tháng. Anh tính thầm và tự thấy ngạc nhiên. Trước khi về Xuân Đào, công trình dài nhất anh từng ở liền một chỗ chỉ kéo dài vài tuần khảo sát. Anh là người của đơn vị tư vấn, đi từ dự án này sang dự án khác, ở đâu cũng là phòng trọ, là lán tạm, là những nơi anh tới với một bộ bản vẽ và rời đi khi bản vẽ thành hình. Nhưng chưa nơi nào anh ở lâu như làng này, và chưa nơi nào, khi dọn đồ để chuẩn bị đi, anh lại thấy mình dọn chậm như thế này. Hết cầm lên một vật lại đặt xuống, như thể mỗi thứ trong phòng đều gợi tới một người, một buổi chiều, một biến cố nào đó của hai tháng vừa qua.
Anh nghĩ tới buổi sáng đầu tiên đứng ở đầu làng với bản đồ quy hoạch. Nghĩ tới đêm đào rãnh và mảnh vải mục. Nghĩ tới nhát rìu của Kiên, tới đêm thầy Sâm buông đinh trong mưa hoa, tới buổi sáng một cai thầu quỳ trên lớp hoa ướt và một ông cụ tám mươi hai tuổi đưa tay đỡ ông ta đứng dậy. Một dự án đường liên xã, trên giấy tờ chỉ là vài kilômét mặt đường và một hạn nghiệm thu, đã chứa trong nó tất cả những việc ấy. Và anh biết khi sang dự án mới ở tỉnh khác, sẽ có những đêm anh nhớ lại làng này không phải như nhớ một công trình, mà như nhớ một nơi mình đã học lại cách làm nghề.
Trước khi về, Nam ghé qua miếu một lần nữa. Hai cây cau mới trồng đã được tưới đẫm, đất quanh gốc còn ẩm. Thầy Hảo đang quét lại sân gạch, thấy anh thì chỉ gật đầu, nói rằng mọi việc cho buổi lễ đã sẵn sàng, phần còn lại chỉ chờ tới ngày. Nam đứng ở cổng tam quan nhìn vào, thấy ban thờ đã được lau sạch, tấm bia sáng lên trong bóng râm của mái miếu, và anh biết sáng rằm tháng Năm, nơi này sẽ đông người như một ngày hội nhỏ của cả làng.
Chiều mười sáu tháng Sáu, cụ Duệ cho người gọi Nam tới nhà.
Cụ ngồi ở hiên, trước mặt là ấm trà và cuốn sổ bìa vải của cha cụ, vật đã theo cụ suốt mấy chục năm, nay được đặt cạnh một tập giấy mới. Bản sao danh sách mười hai chị do Lan chép tay, nét chữ nắn nót, mỗi tên một dòng, có ghi tuổi và vai trò của từng người, cuối trang có dòng xác nhận đối chiếu với sổ gốc. Cụ đẩy tập giấy ấy về phía Nam.
- Cái này, ông cho cháu. Cụ nói. - Bản chính thì làng giữ, hồ sơ thì xã giữ, bia thì đã có ở miếu. Bản này là bản tay của cái Lan, chép cho cháu. Cháu giữ lấy.
Nam cầm tập giấy bằng hai tay, chưa hiểu hết ý cụ.
- Cháu đi làm đường ở nhiều nơi. Cụ nói tiếp. - Sau này cháu sẽ qua nhiều làng, nhiều gốc cây, nhiều chỗ đất có người nằm mà bản vẽ không ghi. Ông cho cháu bản này không phải để cháu treo lên tường. Ông cho để cháu nhớ đường về làng này mỗi độ tháng Ba, và để mỗi lần cháu mở nó ra, cháu nhớ rằng làm đường thì phải biết dưới đất mình làm có những ai.
Nam nhìn xuống mười hai cái tên trong nét chữ của Lan. Anh đã đọc danh sách này không biết bao nhiêu lần, trên giấy hồ sơ, trên mặt bia đá, trong biên bản làm việc với huyện. Nhưng bản chép tay này khác. Nó là thứ duy nhất trong toàn bộ dự án mà anh được nhận riêng, không phải để lưu hồ sơ, không phải để trình cấp trên, mà để giữ cho mình.
- Cháu cảm ơn ông. Nam nói. - Cháu sẽ giữ cẩn thận. Và cháu hứa, tháng Ba năm sau, dù cháu đang làm ở đâu, cháu cũng về làng thắp hương cho các chị.
Cụ Duệ gật đầu, rót thêm chén trà cho anh, và hai ông cháu ngồi ở hiên nhà nhìn ra phía đầu làng một lúc lâu mà không cần nói thêm gì nữa. Ở phía ấy, qua những rặng tre, thấy được một phần tán cây gạo và mái ngói mới của miếu thờ vừa hoàn thiện, đỏ tươi trong nắng chiều tháng Sáu.
Tối hôm ấy, về tới phòng trọ, Nam lấy bản danh sách chép tay ra, đọc lại một lần từ đầu tới cuối, rồi gấp cẩn thận, cất vào túi áo ngực của chiếc áo anh sẽ mặc trong ngày lễ cúng tạ. Anh tự nhủ, đây là hồ sơ duy nhất của dự án này mà anh sẽ giữ riêng cho mình, không nằm trong bất cứ tập hoàn công nào. Không mang số công văn nào, và cũng là hồ sơ anh sẽ mang theo lâu nhất, qua tất cả những con đường anh còn làm trong đời.