MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 48: Lễ cúng tạ và sẹo liền
Rằm tháng Năm âm lịch, ngày hai mươi chín tháng Sáu, lễ cúng tạ và khánh thành miếu thờ mười hai nữ du kích diễn ra dưới bóng cây gạo đầu làng Xuân Đào.…
Nội dung chương
Rằm tháng Năm âm lịch, ngày hai mươi chín tháng Sáu, lễ cúng tạ và khánh thành miếu thờ mười hai nữ du kích diễn ra dưới bóng cây gạo đầu làng Xuân Đào.
Từ sáng sớm, sân miếu đã đông người. Dân làng tới trước tiên, người mang theo mâm lễ nhỏ của nhà mình, người chỉ mang theo một bó hương và một cành hoa vườn nhà. Thân nhân của mười hai chị từ các làng bên về từ lúc trời còn mát, được Lan và các bà trong làng đón ở cổng miếu, dẫn vào thắp hương trước bia. Có những người cháu chắt lần đầu tiên trong đời đứng trước một tấm bia có khắc tên bà mình, tên cô mình, đọc đi đọc lại dòng chữ trên đá như để thuộc nằm lòng một điều lẽ ra họ phải được biết từ rất lâu rồi. Đại diện huyện và xã tới đúng giờ đã định, trong đó có ông Đỗ Quốc Bảo, người bước xuống xe, đi bộ từ đầu đoạn đường cong vào miếu, vừa đi vừa nhìn hai bên đường như một người kiểm tra lần cuối công trình mà mình đã ký.
Kiên tới cùng đội thi công của Đức.
Ông mặc áo sơ mi sáng màu, đi trong đoàn người của đội, không đi đầu, không đi cuối, chỉ là một người trong số những người đã làm đoạn đường này. Khi vào sân miếu, ông thắp hương trước bia đá theo thứ tự khách mời. Nam đứng ở phía bên kia sân, nhìn thấy rõ cảnh ấy: Kiên đứng trước tấm bia, hai tay cầm nén hương, và tay ông đã hết run. Người đàn ông từng cầm rìu với đôi tay run vì giận và vì mất ngủ, từng quỳ trên lớp hoa ướt với đôi vai run vì hối hận, sáng nay đứng thẳng trước mười hai cái tên. Cắm nén hương vào bát hương trước bia một cách vững vàng, rồi đứng lặng rất lâu ở dòng tên đầu tiên trên mặt bia, tên của đội trưởng Nguyễn Thị Mận. Không ai giục ông. Người đứng sau tự động chờ, như cả sân miếu đều hiểu ông cần khoảng lặng ấy lâu hơn người khác một chút.
Thầy Hảo chủ trì phần lễ cúng tạ theo lệ làng.
Mười hai phần lễ được bày trước ban thờ trong miếu, giống hệt nhau, mỗi phần gắn một thẻ tên. Bài khấn của thầy Hảo sáng nay không dài như bài khấn trong đêm cúng lớn cuối tháng Ba. Đêm ấy là đêm gọi tên các chị ra trước cả làng sau bảy mươi sáu năm im lặng. Sáng nay là buổi lễ của người sống báo lại một việc đã làm xong: đường đã làm vòng qua gốc cây, miếu đã xây xong, bia đã khắc đủ tên, hồ sơ đã gửi lên cấp trên đề nghị công nhận liệt sĩ. Thầy Hảo đọc từng việc ấy trong bài khấn bằng giọng rõ ràng, như đọc một bản báo công trước những người đã khuất, rồi ông khấn xin các chị chứng giám cho làng từ nay giữ gìn nơi này, giỗ chạp đầy đủ, không để miếu lạnh hương khói.
Cụ Duệ ngồi ở vị trí trang trọng nhất của buổi lễ, trên chiếc ghế đặt phía trước miếu, bên cạnh là đại diện huyện và xã. Cụ mặc bộ quần áo nâu đã cũ nhưng được Lan là phẳng từ tối hôm trước, tóc bạc chải gọn, cuốn sổ bìa vải của cha cụ được đặt trên bàn nhỏ bên cạnh ghế ngồi, như một nhân chứng lớn tuổi nhất của buổi lễ. Khi thầy Hảo đọc tới mười hai cái tên trong bài khấn, cụ chống tay vào đầu gậy,hơi nghiêng người về phía trước, nghe từng tên một, môi mấp máy đọc theo, như cụ vẫn làm mỗi lần danh sách này được đọc lên ở bất cứ đâu.
Phần khánh thành miếu diễn ra ngắn gọn sau phần lễ. Trưởng thôn Thành đọc quyết định công nhận hạng mục miếu thờ là công trình phụ trợ văn hóa trong hồ sơ dự án đường, giao cho thôn Xuân Đào quản lý và hương khói thường xuyên. Đại diện xã trao cho cụ Duệ, với tư cách thân nhân của đội trưởng tổ du kích, một bản sao hồ sơ đề nghị công nhận liệt sĩ đã được gửi lên cấp trên. Không có cắt băng ồn ào, không có pháo, chỉ có một hồi trống nhỏ của đình làng và tiếng vỗ tay của dân làng khi tấm vải đỏ phủ trên trán cổng miếu được kéo xuống, để lộ dòng chữ tên miếu trong nắng sáng.
Trong lúc buổi lễ đang diễn ra, Nam rời sân miếu, đi vòng ra phía thân cây gạo.
Anh đi qua hàng rào bảo vệ đã được mở một lối nhỏ cho người quản lý, bước vào khu vực quanh gốc mà từ tháng Năm tới nay rất ít người đặt chân vào. Mặt đất trong khoanh vùng vẫn khô ráo và sạch, lá khô được người của thôn quét dọn định kỳ từ phía ngoài rào bằng cào dài, không ai bước vào giẫm lên mặt đất ấy. Nam đi chậm quanh thân cây, dừng lại ở phía hướng ra đường, nơi ở độ cao một mét tư từng có vết rìu của buổi sáng tháng Tư năm nào, vết chém đã đi theo câu chuyện này từ những ngày đen tối nhất tới hôm nay.
Anh đưa tay lên, chạm nhẹ vào vị trí ấy.
Vết sẹo đã liền hẳn. Mặt gỗ ở chỗ từng bị chém sâu nay đã khép kín hoàn toàn, vỏ cây mới phủ kín miệng vết thương, chỉ còn lại một vệt sẫm chạy dọc theo thớ gỗ. Dài chừng một gang tay, sờ vào thấy hơi gồ lên so với vỏ xung quanh nhưng không còn một khe hở nào. Nam đứng yên, tay đặt trên vệt sẫm ấy, nhớ lại những gì anh từng thấy ở đúng vị trí này: nhựa đỏ sẫm rỉ ra như máu trong ngày cây bị chém. Miệng vết thương há ra suốt nhiều tuần, rồi mép sẹo bắt đầu khép lại trong rạng sáng sau đêm cúng lớn, nhựa chuyển trong và nhạt dần như da non đang lên. Hôm nay, quá trình ấy đã hoàn tất, đúng như lời cụ Duệ từng nói với anh trong một lần hai ông cháu đứng ở gốc cây: khi nào lòng người yên, cây sẽ tự lành.
Nam không gọi ai tới xem cùng. Việc sẹo cây liền hẳn vào đúng ngày lễ cúng tạ là một chi tiết anh biết dân làng sẽ tự phát hiện trong những ngày tới, khi người quản lý miếu đi vòng quanh gốc và nhìn lên thân cây. Sáng nay, anh chỉ ghi nhận nó một mình, ghi vào cuốn sổ tay của mình bằng một dòng ngắn: rằm tháng Năm âm lịch, vết rìu ở độ cao một mét tư đã liền hẳn, chỉ còn vệt sẫm. Rồi anh khép sổ, đứng dưới tán cây thêm một lúc, nghe tiếng lễ từ sân miếu vọng sang, tiếng khấn, tiếng trống nhỏ, tiếng người nói khẽ. Tất cả đều là âm thanh của người sống đang lo một việc cho người đã khuất, không còn một âm thanh nào của sợ hãi nữa.
Đúng lúc anh quay lại sân miếu, một cơn gió nhẹ đi qua tán cây.
Gió không mạnh, chỉ đủ làm những cành cao rung nhẹ trong nắng. Từ trên tán cây, vài bông hoa gạo muộn cuối mùa rơi xuống, nhẹ và chậm, xoay trong không khí một lúc rồi đáp xuống sân miếu, phủ lên bậc thềm đá trước ban thờ. Đó là những bông hoa cuối cùng của mùa hoa năm nay, mùa hoa đã hết từ lâu trên khắp những cây gạo khác trong vùng, chỉ còn sót lại trên cây gạo đầu làng này. Dân làng đứng trong sân nhìn những bông hoa rơi, nhìn nhau, không ai nói to. Bà bán nước ở bến đò, người đã bán nước ở đầu làng từ rất nhiều năm, đứng gần cổng miếu, nói khẽ một câu mà nhiều người xung quanh nghe được và gật đầu theo: hoa rơi thế này là các chị gật đầu.
Không một ai trong sân miếu sáng hôm ấy nhắc lại hai tiếng thế mạng. Lời đồn cũ, thứ đã bọc lấy gốc cây này suốt bảy mươi sáu năm như một lớp vỏ của sợ hãi, đã lặng lẽ biến mất khỏi câu chuyện của làng. Thay bằng một cách hiểu mà thầy Hảo và cụ Duệ đã nói rõ từ ngày cuối tháng Ba: các chị là người giữ làng, là liệt sĩ của làng. Và hoa gạo rơi trong ngày lễ là hoa của một cây cổ thụ trong mùa của nó, được người làng đọc bằng lòng biết ơn chứ không bằng nỗi sợ.
Cuối buổi lễ, khi khách đã thắp hương xong và dân làng bắt đầu dọn phần lễ của nhà mình, Nam thấy cụ Duệ vẫn ngồi nguyên ở ghế của cụ dưới bóng cây.
Cụ nhìn ra phía trước, nơi đoạn đường cong chạy êm qua phía trong làng. Mặt đường mới còn chưa được nghiệm thu chính thức nhưng đã thành hình trọn vẹn, và nơi miếu thờ vừa khánh thành đứng dưới bóng cây, khói hương bay lên đều đều từ ban thờ. Lan ngồi xuống bên cạnh ông nội, cầm quạt nan quạt nhẹ cho cụ trong nắng trưa đang lên.
- Ông sống được tới ngày này là đủ rồi. Cụ nói với Lan, giọng cụ nhẹ như một người vừa đặt xuống một gánh nặng đã mang gần hết một đời người. - Từ nay giỗ các chị sẽ đông người lắm. Có miếu, có bia, có cả thân nhân các làng bên về. Mẹ ông nằm ở đây không còn là người bị giấu đi nữa. Ông mà có đi theo các chị, ông cũng đi yên lòng.
Lan cầm tay ông nội, nói rằng cụ còn phải sống để tới ngày hồ sơ liệt sĩ có kết quả, để tự tay thắp hương báo tin ấy trước bia. Cụ cười nhẹ, gật đầu, rồi lại nhìn ra đoạn đường và miếu thờ, ánh mắt của một người đã chờ bảy mươi sáu năm và sáng nay, lần đầu tiên, không còn phải chờ thêm một việc nào cấp bách nữa.
Nam đứng cách hai ông cháu một khoảng, không xen vào câu chuyện của họ. Anh nhìn sân miếu đang thưa dần người, nhìn những bông hoa gạo muộn nằm trên bậc thềm đá, nhìn vệt nắng chiếu qua tán cây xuống mặt bia khắc mười hai cái tên. Và anh biết buổi lễ hôm nay đã khép lại phần tâm linh của toàn bộ câu chuyện này một cách trọn vẹn. Ngày mai, ba mươi tháng Sáu, là việc của người sống và của giấy tờ: nghiệm thu một đoạn đường. Còn hôm nay, dưới gốc cây gạo đầu làng, mọi món nợ với quá khứ, từ nấm mồ không tên tới vết sẹo trên thân cây, đều đã được trả xong.