MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 46: Tấm bia mười hai cái tên

Ngày mồng chín tháng Sáu, công việc xây miếu thờ bắt đầu trên khoảnh đất dưới bóng cây gạo, phía hướng ra bến đò. Đó là vị trí thầy Hảo đã chọn từ nhiều…

Nội dung chương

Ngày mồng chín tháng Sáu, công việc xây miếu thờ bắt đầu trên khoảnh đất dưới bóng cây gạo, phía hướng ra bến đò.

Đó là vị trí thầy Hảo đã chọn từ nhiều tuần trước và xem ngày cẩn thận theo lệ làng. Khoảnh đất nằm trong bóng cây nhưng ngoài khoanh vùng bảo vệ quanh gốc, đủ gần để người thắp hương ở miếu nhìn thấy thân cây và bát hương đá cũ, đủ xa để việc xây dựng không động vào rễ cây và khu vực hài cốt. Đất ở đó cao ráo, hướng mặt ra bến Đò Ngang, đúng hướng các chị đã đi trong đêm cuối cùng của mình năm 1950, và cũng là hướng bàn thờ tạm của làng vẫn quay về trong mọi lễ cúng ở gốc cây từ trước tới nay.

Miếu được thiết kế nhỏ, vừa với quy mô một miếu thờ của làng. Nền miếu bằng đá ong, tường gạch, mái ngói, bên trong đủ đặt một ban thờ và tấm bia đá. Trước miếu là một khoảng sân gạch nhỏ, đủ cho vài chục người đứng trong những ngày giỗ, còn ngày thường chỉ cần một hai người tới thắp hương cũng không thấy trống trải. Nam xem bản vẽ mặt bằng của miếu do thầy Hảo phác thảo và một cán bộ kỹ thuật của xã hoàn thiện, rồi ký xác nhận phần vị trí công trình phụ trợ theo đúng hồ sơ đã được huyện phê duyệt. Anh không can thiệp vào kiểu dáng miếu. Việc ấy là của làng, của thầy Hảo, của những người sẽ thắp hương ở đây lâu dài sau khi anh rời đi.

Kiên tài trợ toàn bộ vật liệu xây miếu và tiền công thợ.

Xe chở gạch, đá ong, ngói và xi măng tới khoảnh đất vào buổi sáng đầu tiên, đi theo đúng đường tạm vòng qua phía trong làng, không một chuyến xe nào cắt qua khu vực quanh gốc. Kiên có mặt khi vật liệu được bốc xuống, tự tay kiểm tra từng kiện đá ong, hỏi thợ chính về tiến độ từng ngày. Nhưng có một điều ông dặn đi dặn lại với cả thợ xây và cán bộ xã, và sau này ông nhắc lại với Nam: tên của ông, và tên của công ty, không được xuất hiện ở bất cứ đâu trong khuôn viên miếu. Không khắc lên bia, không gắn biển nhà tài trợ, không ghi trong bảng thông tin của di tích sau này.

- Tiền này là tiền tạ tội, không phải tiền quảng cáo. Kiên nói. - Người ta tới miếu này là để thắp hương cho mười hai chị, không phải để đọc tên tôi. Ai hỏi ai bỏ tiền xây, làng cứ nói là tiền của dự án và của người có lỗi góp lại cho làng. Thế là đủ.

Nam ghi nhận ý ấy vào biên bản làm việc, và cán bộ xã cũng đồng ý đưa nó thành một ghi chú chính thức trong hồ sơ công trình: hạng mục miếu thờ không gắn tên nhà tài trợ cá nhân.

Phần việc quan trọng nhất của những ngày xây miếu không nằm ở tường gạch hay mái ngói. Nó nằm ở tấm bia đá.

Thầy Hảo tự tay tạc bia. Ông là thợ mộc đời thứ tư, nhưng nghề đá của làng xưa nay cũng qua tay họ Phạm trong những việc đình chùa, và thầy Hảo là người duy nhất trong làng mà cụ Duệ tin tưởng giao cho việc khắc tên mẹ mình. Tấm đá được chọn là đá xanh nguyên khối, mang về từ đầu tháng, đặt trên hai thanh gỗ kê ngang ở góc sân miếu, mặt đá đã được mài phẳng từ trước. Trên mặt đá ấy, thầy Hảo sẽ khắc dòng chữ mở đầu và mười hai cái tên, những cái tên đã nằm im trong một cuốn sổ tay suốt bảy mươi sáu năm.

Lan phụ trách phần danh sách.

Cô mang tới sân miếu bản danh sách chép tay của mình, đối chiếu với bản sao cuốn sổ của ông Thức, từng chữ một, tới lần thứ ba trong buổi sáng ngày tạc bia. Cô đọc to từng tên, từng tuổi, để thầy Hảo nghe và để cụ Duệ, người ngày nào cũng chống gậy ra ngồi xem thợ làm, xác nhận lần cuối trước khi thợ hạ dao xuống đá.

Dòng chữ mở đầu của mặt bia, do cụ Duệ và các cao niên trong làng thống nhất, được thầy Hảo khắc trước tiên, từng nét chậm và sâu: Nơi an nghỉ của 12 nữ du kích xã An Hòa, hy sinh ngày 12 tháng Ba năm Canh Dần 1950.

Rồi tới mười hai cái tên.

Tên đầu tiên là Nguyễn Thị Mận, hai mươi sáu tuổi, đội trưởng. Khi thầy Hảo khắc tới tên này, cụ Duệ đang ngồi trên chiếc ghế đẩu đặt dưới bóng cây, cách tấm bia vài bước. Cụ không nói gì, chỉ ngồi rất thẳng trong khả năng của một người già, hai tay đặt lên đầu gậy, mắt nhìn vào từng nhát đục. Bụi đá trắng bay lên mỏng mỏng trong nắng sáng, rơi xuống mặt đá, và người học việc đứng cạnh thỉnh thoảng lại dùng chổi lông quét nhẹ để mặt chữ hiện rõ. Khi tên của mẹ mình hiện đủ trên đá, cụ mới khẽ gật đầu, và Lan đứng bên cạnh thấy mắt ông nội mình ướt, nhưng cụ không đưa tay lên lau, cứ để yên như thế cho tới khi thợ chuyển sang tên tiếp theo.

Phạm Thị Sen, hai mươi bốn tuổi. Trần Thị Liễu, hai mươi ba tuổi. Vũ Thị Hạnh, hai mươi hai tuổi. Nguyễn Thị Đào, hai mươi mốt tuổi. Đỗ Thị Nhài, hai mươi tuổi. Phạm Thị Cúc, hai mươi tuổi. Trần Thị Huệ, mười chín tuổi. Lê Thị Thắm, mười chín tuổi. Vũ Thị Xuân, mười tám tuổi. Nguyễn Thị Hồng, mười tám tuổi.

Mỗi cái tên được khắc kèm theo tuổi của người ấy ở dòng nhỏ bên dưới, và sau mỗi tên, thầy Hảo đều dừng lại, thổi bụi đá, đọc thầm lại một lần, rồi mới nhìn sang Lan. Lan gật đầu xác nhận đúng chữ, đúng thứ tự trong danh sách gốc, ông mới khắc tiếp tên sau. Không một tên nào bị khắc vội. Có những quãng nghỉ giữa các tên, thợ xây ở phía miếu cũng tự động làm khẽ tay hơn, như cả công trường nhỏ ấy đều hiểu rằng phần việc đang diễn ra ở góc sân này không tính bằng tiến độ.

Có hôm, cụ Duệ ngồi ở sân miếu từ sáng tới tận khi thợ tạc xong một tên mới chịu về. Lan kể với Nam rằng có buổi trưa nắng gắt, cả nhà giục cụ về nghỉ, cụ chỉ nói ngồi thêm một lát, đợi thợ khắc xong tên của một chị nữa rồi về cũng chưa muộn. Với cụ, mỗi cái tên hiện lên trên đá là một người đồng đội của mẹ mình được gọi ra ánh sáng sau bảy mươi sáu năm nằm trong một cuốn sổ cất kín trong nhà. Cụ đã chờ cả đời để được ngồi xem việc này. Nắng một buổi trưa tháng Sáu không làm cụ bỏ ghế được.

Nam tới sân miếu vào cuối mỗi ngày làm việc của đoạn đường để xem phần bia. Anh không can thiệp, chỉ đứng ở khoảng cách đủ xa để không vướng việc của thầy Hảo, đọc lại những cái tên đã khắc trong ngày, đối chiếu thầm với danh sách anh thuộc từ lâu. Anh nhận ra một điều: đọc mười hai cái tên trên giấy hồ sơ là một việc, đọc chúng trên đá, dưới bóng cây, cạnh nơi các chị đang nằm, là một việc hoàn toàn khác. Trên giấy, chúng là dữ liệu của một hồ sơ công nhận liệt sĩ đang chờ cấp trên thẩm định. Trên đá, chúng là người, là mười hai người con gái của làng này và những làng bên, chết ở tuổi từ mười bảy tới hai mươi sáu, trong một đêm tháng Ba ở bến đò cách chỗ anh đang đứng bốn mươi mét.

Tên cuối cùng được khắc vào một buổi chiều khi nắng đã dịu qua tán cây.

Đỗ Thị Mai, mười bảy tuổi, em út của tổ du kích.

Thầy Hảo khắc tên này chậm hơn tất cả các tên trước. Khi nét chữ cuối cùng hoàn thành, ông đặt cây đục xuống, lấy bàn tay đã chai sạn của một đời thợ mộc và thợ đá, thổi nhẹ lớp bụi đá còn bám trên mặt bia. Rồi lùi lại một bước, nhìn toàn bộ tấm bia từ dòng chữ mở đầu tới cái tên cuối cùng.

- Bảy mươi sáu năm. Thầy Hảo nói, giọng ông nhỏ nhưng mọi người ở sân miếu đều nghe rõ. - Hôm nay các chị mới lại có tên ở ngoài trời.

Cụ Duệ ngồi dưới bóng cây, nghe câu ấy, chống gậy đứng dậy. Lan đỡ cụ tới trước tấm bia. Cụ đưa bàn tay gầy và run của mình chạm nhẹ lên mặt đá, chạm vào tên của mẹ mình ở dòng đầu tiên. Rồi chạm lần lượt xuống những tên bên dưới, chậm như người điểm danh một tổ du kích đã tập hợp đủ sau một thời gian quá dài. Cụ không khóc thành tiếng. Cụ chỉ đứng như thế một lúc lâu, tay đặt trên đá ấm nắng chiều.

Tấm bia hoàn thành phần tạc trong ngày hôm ấy. Nó sẽ được dựng vào vị trí trung tâm của miếu khi phần xây dựng xong, mặt bia hướng ra bến đò. Mười hai cái tên, từ nay, không còn nằm duy nhất trong một cuốn sổ tay cất trong nhà một ông cụ tám mươi hai tuổi nữa. Chúng nằm trên đá, ở ngoài trời, dưới bóng cây gạo, nơi bất cứ ai đi qua đoạn đường cong mới cũng có thể dừng lại, đọc lên. Và biết rằng dưới gốc cây này là nơi an nghỉ của mười hai nữ du kích xã An Hòa, hy sinh ngày mười hai tháng Ba năm Canh Dần 1950.

Chiều hôm ấy, trước khi thợ thu dọn dụng cụ, Lan lấy điện thoại chụp lại toàn bộ mặt bia, gửi ảnh về cho gia đình để lưu vào hồ sơ của làng. Cô nói những bức ảnh này sẽ được in ra, kẹp cùng bản sao quyết định phê duyệt miếu thờ. Để sau này dù hồ sơ liệt sĩ đi qua bao nhiêu cấp, làng vẫn giữ một bộ đầy đủ ở nhà, không phải trông chờ vào một cuốn sổ duy nhất như trước nữa.

Điều kiện duy nhất cụ Duệ đặt ra khi hiến đất vườn ngày nào, xây một miếu thờ nhỏ dưới bóng cây, có bia ghi đủ tên, tới chiều hôm ấy đã được thực hiện đầy đủ, từng chữ một.

Chương khác

Xem thêm