MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 43: Hai mét đất vườn

Ngày hai mươi hai tháng Năm, phần việc đền bù của tuyến cong bước vào đoạn cuối, và cũng bước vào chỗ khó nhất còn lại. Buổi sáng hôm ấy, tổ đo đạc của…

Nội dung chương

Ngày hai mươi hai tháng Năm, phần việc đền bù của tuyến cong bước vào đoạn cuối, và cũng bước vào chỗ khó nhất còn lại.

Buổi sáng hôm ấy, tổ đo đạc của xã quay lại vườn nhà cụ Duệ để cắm lại mốc giới theo bản vẽ điều chỉnh mới nhất. Nam đi cùng, mang theo thước dây, sổ đo và hồ sơ đền bù đã gần hoàn thiện. Theo tính toán ban đầu, phần đất vườn cụ Duệ hiến cùng phần thu hồi của hai hộ Thắng và Nhàn đã đủ cho tuyến cong né gốc cây tối thiểu hai mươi lăm mét. Nhưng khi đội thi công bắt đầu làm nền ở phía trong làng, Đức phát hiện bán kính cong thực tế ở đoạn qua vườn cần được nới thêm một chút mới đạt độ cong an toàn cho xe tải qua lại sau này. Nam tính lại trên bản vẽ, đối chiếu với trắc ngang tại hiện trường, và kết quả cuối cùng là một con số rất nhỏ nhưng rất khó nói: tuyến cần lấn thêm hai mét đất vườn của hộ Thắng, ngoài phần cụ Duệ đã hiến.

Hai mét. Trên bản vẽ, đó là một vệt hẹp chạy dọc theo chiều dài thửa vườn, cộng lại thành một dải đất không lớn. Trong hồ sơ, đó là một dòng điều chỉnh cần chữ ký đồng ý của chủ hộ và giấy cam kết không khiếu nại. Nhưng trong nhà cụ Duệ, hai mét ấy là đất vườn. Là nơi bà nội của Thắng từng trồng những cây chuối và hàng rau từ trước khi ông ra đời, là nơi cha ông, tức cụ Duệ, đã hiến một phần cho đường và cho miếu thờ mẹ mình chưa đầy hai tuần trước. Nói với Thắng rằng nhà ông cần nhường thêm, dù chỉ hai mét, là việc Nam đã hình dung sẽ khó ngay từ lúc anh cộng xong con số trên bản vẽ.

Quả như anh nghĩ, Thắng phản ứng ngay khi nghe cán bộ xã trình bày ở sân UBND vào cuối buổi sáng.

- Nhà tôi hiến rồi. Thắng nói, giọng không to nhưng cứng. - Bố tôi đứng trước xã hứa hiến đất vườn, không lấy một đồng. Cả làng biết chuyện ấy. Giờ lại thêm hai mét nữa. Các anh đo đi đo lại, phần thiệt cứ dồn về một nhà là thế nào. Đất này không phải đất bỏ hoang. Đây là vườn của nhà tôi từ đời bà nội tôi.

Cán bộ xã giải thích rằng phần lấn thêm là phần nhường, không tính đền bù, và xã sẽ làm hồ sơ riêng cho hai mét này, kèm giấy cam kết không khiếu nại của chủ hộ. Thắng lắc đầu. Ông nói tiền không phải chỗ ông cãi, ông cãi ở chỗ nhà ông đã nhường một lần trước mặt cả làng, sự nhường ấy đáng lẽ phải là lần cuối, chứ không phải mở đầu cho những lần nhường tiếp theo mỗi khi bản vẽ thay đổi. Nam ngồi nghe, không chen vào vội. Anh biết phần lỗi trong cảm giác ấy có phần của nghề mình: trên giấy, điều chỉnh là chuyện bình thường, nhưng với người mất đất, mỗi lần điều chỉnh đều là một lần người ta cảm thấy lời hứa ban đầu bị xê dịch.

Buổi trưa, Nam theo cụ Duệ về nhà, định trình bày lại toàn bộ con số một cách rõ ràng nhất cho cả hai cha con cùng nghe. Nhưng người thuyết phục Thắng hôm ấy, lạ thay, lại không phải anh, cũng không phải cán bộ xã.

Đó là vợ của Thắng.

Bà là người ít xuất hiện trong các cuộc họp của dự án, phần lớn thời gian ở nhà lo việc vườn và chăm mẹ già. Trưa hôm ấy, khi Thắng còn đang ngồi ở hiên nhà với vẻ mặt chưa nguôi, bà mang ra một ấm trà, rót cho cụ Duệ trước. Rồi rót cho chồng, và nói bằng giọng của một người đã suy nghĩ việc này suốt mấy ngày chứ không phải vừa nghe tin buổi sáng.

- Anh cứ tính phần nhà mình mất. Bà nói. - Sao anh không tính phần người ta sắp mất nếu nhà mình không nhường. Bản vẽ mà dịch sang phía ruộng bà Nhàn thì bà ấy còn gì. Bà ấy góa, một mình, sào ruộng ấy là chỗ bà ấy sống và là chỗ có đất mộ của chồng bà ấy ngay sát rìa. Nhà mình mất hai mét vườn, vườn vẫn còn. Bố vẫn còn ngồi đây với anh. Bà Nhàn mà mất thêm ruộng và mất cả yên ổn ở phần mộ của chồng, bà ấy biết dựa vào đâu.

Thắng im lặng. Ông cầm chén trà mà không uống.

Cụ Duệ ngồi ở ghế bên cạnh, từ đầu tới giờ chưa nói một lời nào về hai mét đất. Cụ chỉ nhìn ra vườn, nơi hàng rào tre cũ đánh dấu ranh giới phần đất đã hiến và phần còn lại của nhà. Một lúc lâu sau, cụ mới lên tiếng, giọng chậm như mọi lần cụ nói chuyện quan trọng.

- Thắng ạ. Cụ nói. - Bố hiến đất, không phải bố không tiếc đất của mẹ bố để lại. Đất này bà nội con trồng, bố biết. Nhưng con nghĩ xem, nếu hai mét này không nhường, đoạn cong phải dịch về phía ruộng bà Nhàn. Bà ấy là người ngoài họ, nhưng bà ấy là người làng này, chồng bà ấy cũng nằm ở đất làng này. Mẹ của bố nằm ở gốc cây kia bảy mươi sáu năm không có một tấm bia, không có một mét đất nào được ghi tên là của bà ấy. Giờ làng làm đường, làm miếu cho mẹ bố, mà nhà mình lại đẩy phần khó sang cho một bà góa trong làng, thì bố ngồi ở miếu ấy thắp hương cho mẹ bố, bố còn mặt mũi nào.

Thắng cúi đầu. Ông không cãi lại cha, cũng không gật đầu ngay. Ông đứng dậy, đi ra vườn một mình.

Nam ở lại hiên nhà với cụ Duệ và vợ Thắng, uống chén trà đã nguội, không nói thêm một con số nào nữa. Anh hiểu buổi trưa hôm nay, phương án của anh không còn đứng trên bản vẽ nữa. Nó đang đứng trong một thửa vườn, giữa một người cha đã hiến đất cho mẹ mình, một người con trai tiếc đất của bà nội mình, và một người con dâu nhìn sang phần thiệt của một bà góa hàng xóm. Nếu nó đứng được, nó sẽ đứng bằng những sự nhường nhịn ấy, không phải bằng thước đo của anh.

Thắng ở ngoài vườn gần hết buổi chiều.

Ông đi dọc theo hàng rào, thỉnh thoảng dừng lại, cúi xuống nhổ một cây cỏ, hoặc đứng nhìn những gốc chuối ở phía rìa vườn sắp phải dỡ đi. Nam không ra theo. Trưởng thôn Thành tới nhà vào lúc xế chiều, cũng chỉ ngồi ở hiên uống trà với cụ, không mang theo giấy tờ, không giục một câu nào. Cả nhà như cùng hiểu rằng việc này không thể xong bằng một buổi làm việc hành chính. Nó cần một buổi để một người đàn ông ở tuổi gần năm mươi tự đi hết suy nghĩ của mình trong khu vườn của tổ tiên.

Khoảng bốn giờ chiều, Thắng quay vào sân, tay cầm một con dao rựa của nhà.

Ông không nói gì với ai ở hiên. Ông đi thẳng ra phía hàng rào tre ở rìa vườn, chỗ đánh dấu ranh giới mới mà tổ đo đạc đã cắm cọc sơn đỏ vào buổi sáng. Rồi ông tự tay dỡ hàng rào. Từng cây tre được ông rút lên, xếp gọn sang một bên. Từng búi dây buộc được ông cắt bỏ. Khoảng đất hai mét chiều ngang, chạy dọc theo vườn, dần dần lộ ra, trống và rõ, như một lời đồng ý không cần nói thành lời trước. Vợ ông ra đứng ở đầu sân nhìn theo, không ngăn, cũng không phụ, chỉ để ông tự làm cho xong việc của mình. Cụ Duệ ngồi ở hiên, nhìn con trai dỡ hàng rào nhà mình, mắt cụ đỏ lên nhưng cụ không quay đi.

Dỡ xong hàng rào, Thắng mới vào nhà rửa tay, rồi cùng Nam và trưởng thôn lên UBND xã để ký giấy.

Tại phòng làm việc của xã, cán bộ địa chính đọc lại toàn bộ nội dung: hộ Nguyễn Văn Thắng đồng ý nhường thêm hai mét đất vườn cho tuyến đường điều chỉnh. Phần đất này được ghi nhận trong hồ sơ, chủ hộ cam kết không khiếu nại về phần đã nhường và phần cụ Duệ đã hiến trước đó. Thắng nghe hết, ký tên vào từng trang, chữ ký chắc và rõ. Khi ký xong trang cuối cùng, ông quay sang Nam, nói một câu mà anh biết mình sẽ phải ghi lại nguyên văn vào nhật ký công trình tối hôm ấy.

- Tôi nhường đất cho đường của làng và cho mẹ của bố tôi. Thắng nói. - Cậu kỹ sư nhớ mà ghi vào hồ sơ cho đúng như thế.

- Tôi sẽ ghi đúng như thế. Nam đáp. - Không ghi là thu hồi cưỡng chế, không ghi là vướng mắc đã xử lý xong. Ghi là gia đình cụ Duệ hiến và nhường đất cho tuyến đường và cho việc thờ tự mười hai liệt sĩ.

Thắng gật đầu, gấp bản sao giấy tờ của nhà mình lại, cho vào túi áo.

Tối hôm ấy, khi Nam còn đang ngồi ở phòng trọ hoàn thiện hồ sơ đền bù, Lan ghé qua báo một tin nhỏ. Bà Nhàn, sau khi biết tin tuyến cong được giữ nguyên ở phía vườn nhà cụ Duệ và phần ruộng cùng đất mộ của chồng bà được giữ nguyên như cam kết trước đó, đã mang sang nhà cụ Duệ một nải chuối trong vườn nhà bà. Bà tới lúc Thắng vừa đi ký giấy về. Theo lời Lan kể, bà Nhàn cầm tay cụ Duệ mà khóc, nói rằng bà không biết lấy gì cảm ơn một nhà đã hiến đất hai lần để nhà bà được yên phần mộ của chồng. Cụ Duệ chỉ nói một câu, rằng các chị ở gốc cây nằm yên được thì người sống trong làng cũng phải biết nhường nhau mà sống cho yên.

Nam ghi lại cả câu chuyện ấy vào cuốn sổ tay của mình, ở trang sau những con số đo đạc của buổi sáng.

Đêm hôm ấy, hồ sơ mặt bằng của tuyến cong chính thức hoàn tất. Toàn bộ đất cần cho đoạn đường đã được giải phóng: phần hiến của cụ Duệ, phần đền bù của bà Nhàn, phần nhường thêm hai mét của Thắng. Không còn một hộ nào vướng, không còn một mốc giới nào chưa cắm. Nam khép tập hồ sơ, nhìn dòng chữ anh vừa ghi theo lời Thắng, và hiểu rõ hơn bao giờ hết điều mà những chương đầu của dự án này chưa dạy anh. Một phương án tuyến đứng được trên đất của một ngôi làng không phải vì nó đúng kỹ thuật nhất, mà vì có những người đã chịu thiệt một phần đất của tổ tiên mình để nó được đứng.

Chương khác

Xem thêm