MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 42: Khoanh vùng gốc cây

Sáng mười tám tháng Năm, đoạn tuyến cong khởi công phần nền đường ở phía trong làng. Máy móc không vào từ đầu ngõ như những ngày đầu dự án nữa. Xe vật…

Nội dung chương

Sáng mười tám tháng Năm, đoạn tuyến cong khởi công phần nền đường ở phía trong làng.

Máy móc không vào từ đầu ngõ như những ngày đầu dự án nữa. Xe vật liệu đi vòng theo đường làng phía sau đình, đổ đất ở đoạn cách gốc cây gạo một khoảng đủ xa để tiếng máy chỉ còn vọng lại mờ mờ qua những rặng tre. Đức chia đội thành hai tổ. Một tổ làm nền ở phía trong, một tổ ở lại khu gốc cây để làm phần việc mà sáng nay cả làng cùng chứng kiến: khoanh vùng bảo vệ chính thức cho khu vực quanh gốc.

Nam tới hiện trường từ sớm, mang theo bản vẽ hiện trạng mới in và cuốn sổ tay đã sờn gáy. Trên bản vẽ, vòng tròn bảo vệ quanh gốc cây được anh tô bằng bút đỏ, bán kính tính từ thân cây ra ngoài tán và rễ, ôm trọn cả đoạn hố chôn dài khoảng mười hai mét hướng về phía bến đò. Hai điểm từng lộ hài cốt được đánh dấu bằng hai ô vuông nhỏ. Điểm thứ nhất là chỗ đào rãnh thoát nước cách gốc mười lăm mét, nơi câu chuyện bắt đầu vỡ ra. Điểm thứ hai là chỗ đào thăm dò sau gốc, việc làm trong đêm mà đội thi công đã nhận lỗi trước bàn thờ sáng hôm qua. Trên bản vẽ, hai điểm ấy không còn là những ghi chú rời rạc trong biên bản cũ nữa. Chúng nằm trong cùng một khoanh vùng, cùng một chế độ bảo vệ: giữ nguyên trạng, không khai quật, không di dời.

Thầy Hảo tới gốc cây cùng mấy thanh niên trong làng, mang theo cọc tre đã vót sẵn và cuộn dây cảnh báo. Ông đi một vòng quanh gốc, chậm rãi như mọi lần ông xem đất, thỉnh thoảng dừng lại, chống tay vào đầu gối nhìn xuống mặt đất phủ một lớp hoa khô mỏng. Tháng Ba âm đã qua, hoa gạo chỉ còn rụng lác đác, mặt đất quanh gốc phần nhiều là đất nâu và lá khô của những cây khác lẫn vào. Nhưng ai đi vào khu vực này sáng nay cũng tự động bước nhẹ, như thói quen của cả một tháng vừa rồi đã thành nếp.

- Cọc đầu tiên đóng ở đây. Thầy Hảo nói, chỉ vào một điểm ở phía hướng ra đường. - Đóng nông thôi, đóng để giữ dây, không đào sâu. Đất ở quanh gốc này, từ nay xẻng chỉ được chạm ở mức người ta cắm một cây cọc tre, không hơn.

Đức gật đầu, tự tay cầm cọc tre đầu tiên, cắm xuống đúng vị trí thầy Hảo chỉ. Ông không dùng búa, chỉ dùng tay ấn và một hòn đá nhỏ gõ nhẹ lên đầu cọc cho chắc. Thanh niên làng làm theo ở các điểm tiếp theo, đi thành một vòng tròn quanh gốc. Mỗi cây cọc cách nhau chừng hai mét, dây cảnh báo màu đỏ trắng được buộc nối giữa các cọc. Tạo thành một hàng rào tạm thấp, không kín, không gai góc, nhưng đủ rõ để bất cứ ai đi qua cũng hiểu đây là ranh giới không được bước qua khi không có việc.

Trưởng thôn Thành mang tới tấm biển do xã lập.

Biển bằng tôn sơn trắng, chữ sơn đen, đóng khung gỗ, nội dung được xã duyệt từ hôm trước: Khu vực có hài cốt liệt sĩ, cấm xâm phạm. Dưới dòng chữ lớn còn có một dòng nhỏ ghi người quản lý là thôn Xuân Đào và UBND xã An Hòa, cùng số điện thoại của trưởng thôn để ai thấy có dấu hiệu xâm phạm thì báo ngay. Tấm biển không nhắc tới chuyện ma quỷ, không nhắc tới lời đồn cũ. Nó nói đúng bản chất của nơi này bằng ngôn ngữ của pháp luật và của sự tôn trọng, thứ ngôn ngữ mà Nam đã học được rằng đôi khi còn mạnh hơn mọi câu chuyện kể trong đêm.

Biển được đóng lên một cột gỗ dựng ở lối vào phía đường, ngay chỗ trước đây đội thi công từng dựng biển giải phóng mặt bằng. Nam đứng nhìn hai người thanh niên siết lại con vít cuối cùng trên khung biển, và nhớ tới buổi sáng đầu tiên anh về làng, khi cây gạo trong hồ sơ của anh chỉ là một chướng ngại mang số hiệu. Lúc ấy anh cũng đứng gần vị trí này, cầm bản đồ quy hoạch, nhìn cây bằng con mắt của người tính toán tim đường và bán kính cong. Sáng nay anh vẫn đứng đây với bản vẽ trên tay, nhưng bản vẽ đã khác, và con mắt nhìn cây của anh cũng đã khác.

Phần việc còn lại trong buổi sáng là xác định vị trí hai điểm hài cốt trên thực địa để khớp với bản vẽ.

Nam cùng Đức và thầy Hảo đi tới điểm thứ nhất, chỗ rãnh thoát nước cũ đã được san phẳng lại từ lâu. Mặt đất ở đó giờ chỉ còn một vệt đất hơi khác màu so với xung quanh, nếu không có biên bản và trí nhớ của những người từng đứng ở đây thì người ngoài đi qua sẽ không nhận ra gì. Đức đứng nhìn vệt đất ấy một lúc lâu.

- Chỗ này là chỗ tôi ra lệnh lấp lại. Đức nói. - Hôm ấy tôi nghĩ lấp đi là xong việc của một buổi sáng. Giờ tôi mới hiểu, lấp đi mà không ghi lại, không báo lại, mới là việc làm cho mọi chuyện kéo dài tới tận hôm nay.

- Anh đã ghi nhận việc ấy trong biên bản bổ sung rồi. Nam nói. - Và sáng qua anh cũng đã nhận trước bàn thờ. Từ hôm nay, chỗ này nằm trong khoanh bảo vệ. Không ai đào lại để kiểm tra, không ai di dời đi đâu. Các chị nằm ở đâu thì yên ở đó.

Thầy Hảo gật đầu, cắm một cọc mốc nhỏ sơn trắng ở rìa điểm thứ nhất, ngoài phạm vi đất có hài cốt, chỉ để người quản lý sau này biết vị trí mà tránh, chứ không đánh dấu trực tiếp lên trên mặt đất ấy. Điểm thứ hai sau gốc cũng được làm theo cách tương tự. Cọc mốc đặt ở rìa, bản vẽ ghi tọa độ tương đối theo gốc cây và theo mép đường cũ, ảnh chụp hiện trạng được Nam lưu vào hồ sơ bằng điện thoại, từng tấm đều có tấm biển bảo vệ hoặc thân cây làm mốc nhận diện phía sau.

Tới trưa, Lan tới gốc cây, mang theo một túi hồ sơ của làng.

Trong túi có bản sao danh sách mười hai chị do cô chép, bản ghi chép sự thật năm 1950 cô viết trong buổi chiều cụ Duệ kể chuyện, và một phong bì giấy đã ngả vàng mà cô lấy từ ngăn kéo bàn làm việc ở trường. Nam nhận ra phong bì ấy. Đó là nơi anh đã cất mảnh vải mục từ những ngày đầu, mảnh vải lấy lên từ điểm hài cốt ở rãnh thoát nước. Vật chứng nhỏ bé mà anh từng giữ trong phòng trọ, từng lấy ra nhìn trong những đêm phân vân giữa tiến độ và lương tâm.

- Anh giữ mảnh vải này từ hôm đào rãnh tới giờ. Nam nói, đưa phong bì cho Lan bằng hai tay. - Tôi nghĩ nó không nên ở trong hồ sơ cá nhân của tôi nữa. Nó là của làng, của các chị. Cô đưa vào hồ sơ của làng giúp tôi, ghi rõ nguồn gốc: vật chứng tại điểm hài cốt cách gốc mười lăm mét, được giữ lại từ hiện trường và bàn giao hôm nay.

Lan nhận phong bì, mở ra xem qua rồi cẩn thận gấp lại, ghi ngay lên mặt phong bì bằng bút bi dòng chữ bàn giao với ngày tháng và tên người giao, người nhận. Cô nói xã sẽ lập một tủ hồ sơ riêng cho khu gốc cây và cho việc công nhận liệt sĩ, trong đó mảnh vải này sẽ nằm cùng cuốn sổ sao chụp của ông Thức và các biên bản hiện trường. Một vật nhỏ như thế, nằm trong tay một kỹ sư thì chỉ là bằng chứng của một lần áy náy. Nằm trong hồ sơ của làng, nó trở thành một phần của câu chuyện chung mà sau này con cháu mở ra là hiểu được cả quá trình.

Buổi chiều mười chín tháng Năm, công việc khoanh vùng hoàn tất.

Hàng rào cọc tre và dây cảnh báo đã khép kín một vòng quanh gốc. Tấm biển bảo vệ được đóng xong, cột biển được chôn thêm một chân đá cho chắc trước mùa mưa. Phần nền đường phía trong làng cũng đã thành hình một đoạn ngắn, đất mới màu nâu đỏ, được lu lèn cẩn thận, hướng tuyến uốn cong mềm ra xa gốc cây đúng như bản vẽ. Từ vị trí đứng ở cổng làng, Nam nhìn thấy cả hai việc cùng lúc: một con đường đang được làm, và một gốc cây đang được để yên. Lần đầu tiên kể từ ngày về làng, hai việc ấy không còn đối đầu nhau trong mắt anh nữa.

Một thói quen mới cũng bắt đầu từ hai ngày này, nhỏ tới mức nếu Nam không đi cùng đội mỗi sáng, anh đã không để ý. Công nhân đội thi công khi đi qua gốc cây đều bỏ mũ và đi chậm lại. Không ai ra lệnh cho họ làm thế. Không có nội quy nào ghi việc bỏ mũ khi qua khu bảo vệ. Tú là người làm đầu tiên vào sáng mười tám, khi anh vác một cuộn dây đo đi ngang qua tấm biển mới dựng, anh tự động cầm mũ xuống tay và đi chậm qua đoạn rào. Hậu làm theo. Rồi cả tổ làm theo. Đến chiều mười chín, cả những công nhân mới được điều tới bổ sung cho đoạn nền cũng học theo người cũ, đi qua gốc cây là bỏ mũ, bước chậm, không nói to.

Đức thấy Nam để ý tới việc ấy thì nói khẽ:

- Anh em nó tự thế đấy. Hôm qua quỳ ở đây rồi, hôm nay đi qua mà đội mũ nói to, tự mình cũng thấy không phải.

Chiều hôm ấy, trước khi đội thu dọn dụng cụ, cụ Duệ chống gậy ra gốc cây.

Lan dìu cụ đi dọc theo hàng rào mới, đi rất chậm, cụ dừng lại ở tấm biển bảo vệ, ngẩng lên đọc từng chữ trên biển. Cụ đọc chậm, môi mấp máy theo từng dòng, đọc hết dòng chữ lớn rồi tới dòng chữ nhỏ ghi tên thôn và xã. Đọc xong, cụ đứng yên một lúc, tay đặt lên đầu gậy, nhìn qua hàng rào vào gốc cây, nơi mẹ cụ và mười một người đồng đội của bà đã nằm yên bảy mươi sáu năm trong im lặng.

Rồi cụ gật đầu, và lần đầu tiên sau nhiều tuần căng thẳng, Nam thấy cụ cười nhẹ.

- Thế này là được rồi. Cụ nói với Lan, cũng là nói với Nam và Đức đang đứng gần đó. - Có biển, có rào, có giấy tờ. Các chị từ nay nằm yên mà có tên có tuổi đàng hoàng chờ ngày làm miếu. Tôi không còn phải sợ một buổi sáng nào tỉnh dậy nghe tin người ta đã đốn cây trong đêm nữa.

Cụ quay về khi nắng chiều đã ngả qua tán cây. Hàng rào tre thấp in bóng dài trên mặt đất. Nam ở lại sau cùng để ký xác nhận vào bản vẽ hiện trạng khoanh vùng, ký tên dưới dòng chữ ghi rõ: khu vực gốc cây gạo được bảo vệ nguyên trạng, không khai quật, không di dời hài cốt. Anh ký chậm, nắn nót hơn mọi chữ ký công trường trước đây của mình, rồi khép cuốn hồ sơ lại, biết rằng từ trang giấy này trở đi, cây gạo đầu làng Xuân Đào không còn đứng một mình trước bất cứ bản vẽ nào nữa.

Chương khác

Xem thêm