MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 39: Đêm hoa rụng
Lễ cúng lớn bắt đầu lúc hoàng hôn ngày mười sáu tháng Năm, đêm ba mươi tháng Ba âm lịch, đêm cuối cùng của tháng Ba. Trời tối dần trên đầu làng Xuân Đào…
Nội dung chương
Lễ cúng lớn bắt đầu lúc hoàng hôn ngày mười sáu tháng Năm, đêm ba mươi tháng Ba âm lịch, đêm cuối cùng của tháng Ba.
Trời tối dần trên đầu làng Xuân Đào theo một cách trong trẻo lạ thường. Không mây, không gió lớn, chỉ có ánh nắng cuối ngày rút dần khỏi mặt sông ở bến Đò Ngang và tán cây gạo chuyển từ đỏ rực sang đỏ sẫm, rồi thành một khối tối lớn in lên nền trời còn sáng ở phía tây. Dân làng kéo ra gốc cây từ lúc mặt trời chưa lặn hẳn, người già ngồi vào hàng ghế đã kê sẵn dưới rạp, thanh niên đứng thành vòng ngoài như đêm trực giữ cây hôm mồng chín. Phụ nữ lo phần hương hoa và nước uống ở phía đình, trẻ con được dặn đứng cạnh cha mẹ, không chạy qua phạm vi bàn thờ. Đông đủ một làng, Nam ước chừng phải hơn trăm con người, mà không gian quanh gốc cây vẫn yên tĩnh một cách lạ lùng, như tất cả cùng giữ một hơi thở chung.
Đội thi công về dự lễ gần như đầy đủ.
Đức đi đầu, mặc áo sơ mi sạch thay cho bộ đồ lao động thường ngày. Tú đi bên cạnh, cánh tay phải đã lành, thỉnh thoảng lại vô thức xoa nhẹ chỗ vết sẹo khâu năm mũi ngày nào. Hậu đi sau, tay cầm theo một bó hương lớn của cả đội góp lại. Và Bộ, Vũ Văn Bộ, chống đôi nạng, cổ chân trái còn bó nẹp mềm, đi chậm từng bước từ phía đình ra gốc cây với sự đỡ tay của một công nhân khác, nhưng nhất định không chịu ngồi xe hay ngồi chờ sẵn ở ghế. Ông nói với Đức lúc tới nơi, giọng nửa đùa nửa thật, rằng ngã ở cái cây này thì cũng phải chống nạng tới dự lễ ở cái cây này cho có đầu có cuối. Đại diện xã và đại diện Ban quản lý dự án huyện cũng có mặt: Đỗ Quốc Bảo về tới nơi từ lúc chiều, đứng ở hàng khách mời phía gần bàn thờ. Lặng lẽ quan sát một buổi lễ mà vài tuần trước, trong suy nghĩ của một cán bộ quen ép tiến độ, chắc chắn không hề tồn tại trong bất cứ kế hoạch dự án nào.
Kiên về tới nơi khi lễ vừa bắt đầu.
Ông đi một mình từ phía đầu đường liên xã, bộ quần áo sẫm màu, tay cầm một bó hương nhỏ, và lặng lẽ đứng vào hàng cuối cùng của đám người dự lễ, sau lưng những người làng cuối cùng, cách bàn thờ một khoảng xa nhất. Không ai nói với ông một câu nào. Không ai mời ông lên, cũng không ai xua ông đi. Sự im lặng dành cho ông trong buổi tối ấy không phải là sự tha thứ, cũng chưa phải là sự lên án. Nó chỉ là một khoảng trống mà cả làng để lại, để ông tự đứng trong đó với những việc mình đã làm, trước khi bất cứ lời nào được nói ra vào một ngày khác. Nam nhìn thấy ông từ vị trí của mình gần bàn thờ, gật đầu rất khẽ về phía ông như một sự ghi nhận rằng ông đã tới. Đúng lời ông xin bên vệ đường hôm rời làng, và Kiên gật lại, một cái gật đầu nhỏ tới mức gần như không ai khác nhận ra.
Thầy Hảo chủ lễ.
Ông mặc áo dài sẫm, đứng trước bàn thờ tạm hướng ra bến đò, và bắt đầu buổi lễ bằng việc thắp bát hương chính. Mười hai phần lễ giống hệt nhau đã được bày ngay ngắn trên bàn, phía trước mỗi phần là một thẻ tên viết tay đã được Lan đặt vào đúng vị trí từ lúc chiều. Thầy Hảo khấn bài khấn của lệ làng dành cho người đã khuất là người nhà, không phải bài khấn trừ tà, không một câu nào có ý xua đuổi. Rồi ông, bằng giọng đã yếu vì tuổi tác nhưng rõ ràng tới mức cả vòng ngoài cùng cũng nghe được trong đêm lặng gió, lần lượt gọi tên từng chị.
Nguyễn Thị Mận, hai mươi sáu tuổi, đội trưởng. Phạm Thị Sen, hai mươi bốn tuổi. Trần Thị Liễu, hai mươi ba tuổi. Vũ Thị Hạnh, hai mươi hai tuổi. Nguyễn Thị Đào, hai mươi mốt tuổi. Đỗ Thị Nhài, hai mươi tuổi. Phạm Thị Cúc, hai mươi tuổi. Trần Thị Huệ, mười chín tuổi. Lê Thị Thắm, mười chín tuổi. Vũ Thị Xuân, mười tám tuổi. Nguyễn Thị Hồng, mười tám tuổi. Đỗ Thị Mai, mười bảy tuổi, em út của tổ.
Mười hai cái tên, đọc lên thành tiếng, chậm rãi, trước mặt cả làng, lần đầu tiên sau bảy mươi sáu năm.
Nam đứng trong hàng người nghe những cái tên ấy và thấy nhiều người làng quanh mình khóc lặng đi. Lan đứng cạnh cụ Duệ, tay giữ cuốn sổ ghi chép, khóc không thành tiếng từ cái tên thứ ba. Cụ Duệ ngồi trên ghế, hai tay đặt trên đầu gậy, mắt cụ ướt nhưng lưng cụ thẳng, như một người lính già đang nghe đọc danh sách đơn vị của mình. Ở hàng cuối, Kiên cúi đầu xuống từ lúc nào, hai vai rung nhẹ, bó hương trong tay ông chưa được thắp.
Buổi lễ tiếp tục qua những giờ đầu của đêm bằng phần thắp hương của từng gia đình, bằng những câu chuyện nhỏ được các cụ kể khẽ bên rạp, bằng tiếng đọc văn tế của thầy Hảo và mùi hương trầm quyện với mùi hoa gạo trong đêm. Hoa vẫn rơi lác đác bình thường suốt buổi tối, từng bông một, tiếng bộp thưa và đều trên mặt đất.
Trong phần thắp hương của các gia đình, Nam để ý một cảnh mà anh sẽ kể lại nhiều lần sau này mỗi khi có người hỏi anh về đêm lễ ấy. Từng gia đình trong làng lần lượt bước lên trước bàn thờ, thắp một nén hương vào đúng phần lễ mang tên người chị là người nhà của mình: nhà cụ Duệ thắp ở phần lễ của chị Mận. Một gia đình họ Đỗ ở cuối làng thắp ở phần lễ của chị Mai, em út mười bảy tuổi, và người đàn bà lớn tuổi nhất của gia đình ấy. Khi cắm nén hương xuống, đã nói rất khẽ một câu mà những người đứng gần đều nghe thấy: cô về tới nhà rồi đây, từ nay cô có tên ở làng này rồi. Không gia đình nào tranh nhau, không ai chen lấn, thứ tự cứ tự nhiên mà thành, như thể bảy mươi sáu năm chờ đợi đã dạy cho cả làng này cách xếp hàng trước một nấm mồ chung mà không cần ai phải nhắc.
Đỗ Quốc Bảo, trong phần thắp hương của khách mời, bước lên bàn thờ cùng trưởng thôn Thành. Ông thắp hương chậm rãi, đứng lặng một lúc lâu hơn mức xã giao thông thường của một cán bộ về dự lễ ở địa phương, rồi khi quay xuống. Ông nói khẽ với Nam đang đứng gần đó rằng về huyện, ông sẽ ký xác nhận bổ sung vào hồ sơ điều chỉnh, ghi rõ khu vực gốc cây là khu vực có hài cốt liệt sĩ đã được địa phương và nhân chứng xác nhận. Để sau này bất cứ dự án nào khác có chạm tới đầu làng này cũng phải đọc được dòng ấy trước khi vẽ bất cứ đường thẳng nào qua đây. Nam gật đầu và cảm ơn ông, không phải bằng lời xã giao, vì anh hiểu dòng xác nhận ấy, trên giấy tờ, sẽ bảo vệ gốc cây này bền hơn bất cứ hàng rào niêm phong tạm thời nào mà thôn đã căng trong tháng qua.
Đúng nửa đêm, khi bài khấn cuối cùng của thầy Hảo vừa dứt, gió lặng hẳn.
Lặng theo đúng cách nó đã lặng trong đêm buông đinh, lặng tới mức tuyệt đối, lặng tới mức Nam nghe rõ tiếng tim mình đập trong lồng ngực. Rồi toàn bộ hoa gạo trên cây, cùng một lúc, rời cành và rụng xuống.
Trận mưa hoa thứ ba, và là trận mưa hoa lớn cuối cùng của tháng Ba này, phủ đỏ rực cả đoạn đường đầu làng trong tiếng bộp bộp dày đặc không ngắt quãng. Hoa rơi như một tấm màn đỏ chuyển động chậm rãi dưới ánh đèn lễ, phủ lên bàn thờ, phủ lên vai áo của hơn trăm con người đang đứng quanh gốc cây, phủ kín mặt đất tới mức không còn nhìn thấy lối đi. Không một ai chạy. Không một ai la hét. Tất cả đứng yên trong mưa hoa, như đã chờ đợi giây phút này từ rất lâu rồi.
Và trong lớp hoa đang rơi, mười hai bóng áo trắng hiện ra quanh gốc cây.
Họ đứng thành một vòng lặng lẽ quanh thân cây, hướng mặt về phía bến đò, đúng hướng mà đêm mười một tháng Ba năm một nghìn chín trăm năm mươi họ đã đi và không bao giờ trở về. Lần này, tất cả mọi người có mặt đều nhìn rõ: đó là bóng của những người con gái trẻ, áo trắng dài, tóc dài, có đủ hình hài, đầu của các chị hiện rõ dần trong ánh sáng của đêm lễ. Chỉ là trước kia, trong những lần thoáng thấy giữa bóng tối của tán lá vào những đêm người làng đi qua một mình và hoảng sợ, phần đầu chìm trong bóng tối khiến người nhìn tưởng thành không đầu. Không hề đáng sợ như lời đồn đã truyền đi suốt mấy chục năm. Chỉ lặng lẽ, trẻ trung, và buồn tới mức không một ai trong hơn trăm con người đứng đó nỡ nói một lời nào phá vỡ giây phút ấy.
Nam đứng yên, hoa phủ đầy vai, và anh biết mình sẽ nhớ đêm này suốt phần đời còn lại, nhớ hơn bất cứ bản vẽ hay biên bản nào anh từng ký.
Ở hàng cuối cùng, Kiên quỳ xuống giữa đường lúc nào không hay. Hai tay ông chống xuống lớp hoa đỏ dày trên mặt đất, đầu ông cúi thấp, cả thân người của một cai thầu năm mươi hai tuổi run lên trong tiếng khóc nén lại mà ông không còn giữ được nữa. Không ai đỡ ông dậy. Không ai tới gần. Cả làng để ông quỳ ở đó, trong mưa hoa, trước mặt mười hai người con gái mà ông đã từng ra lệnh đốn cây trên nấm mồ của họ và đã từng cầm rìu chém vào thân cây che chở họ.
Khi mưa hoa thưa dần, mười hai bóng áo trắng cùng quay về phía gốc cây và lặng lẽ tan vào thân cây trong sương đêm đang bắt đầu dâng lên từ phía bến đò. Để lại đoạn đường phủ đỏ và một sự im lặng không ai muốn phá vỡ.