MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 38: Không ai đòi mạng thế ai

Ngày mười lăm tháng Năm, ngày hai mươi chín tháng Ba âm lịch, ngày cuối cùng trọn vẹn trước đêm lễ lớn, tại đình làng Xuân Đào. Thầy Hảo và cụ Duệ cùng…

Nội dung chương

Ngày mười lăm tháng Năm, ngày hai mươi chín tháng Ba âm lịch, ngày cuối cùng trọn vẹn trước đêm lễ lớn, tại đình làng Xuân Đào. Thầy Hảo và cụ Duệ cùng nói rõ một điều mà cả hai cụ đã thống nhất với nhau từ trước, trước mặt các cao niên trong làng và đại diện đội thi công.

Buổi nói chuyện này không phải một nghi lễ. Không có đàn lễ, không có khấn vái, chỉ có ấm trà ở gian giữa đình, các cụ cao niên ngồi hai bên, trưởng thôn Thành, Đức đại diện đội thi công, và Nam ngồi ở cuối bàn với cuốn sổ ghi biên bản làm việc cùng xã. Cụ Duệ nói rõ mục đích ngay từ đầu: trước khi làng làm lễ lớn vào đêm mai, có một lời đồn đã đi theo gốc cây gạo này suốt mấy chục năm. Làm người ngoài sợ làng này, làm cả người trong làng có lúc cũng sợ chính người thân của mình đã khuất. Lời đồn ấy, từ đêm mai trở đi, làng phải tự mình nói lại cho đúng, vì các chị không thể tự nói được nữa.

Thầy Hảo là người trình bày phán quyết chung của hai cụ, bằng giọng chậm rãi của một người thợ nói về nghề và về lệ làng.

- Tôi nói rõ một lần, trước mặt các cụ và trước mặt anh em thi công, để từ nay không ai trong làng này còn nhắc lại câu ấy theo kiểu cũ nữa. Ông nói. - Câu người ta đồn là các chị ở gốc cây gạo đòi người thế mạng. Câu ấy sai. Sai hoàn toàn. Suốt bảy mươi sáu năm các chị nằm ở đó, không một người làng nào sống cạnh cây, đi qua gốc cây mỗi ngày, ngồi dưới tán cây mỗi mùa, mà bị các chị làm hại một lần nào. Trẻ con làng này lớn lên dưới bóng cây ấy mấy thế hệ. Đàn bà làng này gánh nước qua gốc cây ấy cả đời. Nếu các chị đòi mạng thế ai, làng này đã không còn ai để mà sống tới hôm nay.

Cụ Duệ gật đầu, tiếp lời thầy Hảo bằng những điều cụ biết rõ nhất với tư cách con trai của đội trưởng Mận.

- Những gì xảy ra trong tháng Ba này, và cả những chuyện người làng kể lại từ xưa tới nay, các anh các cháu cứ nhìn lại cho kỹ mà xem. Cụ nói. - Nó chỉ nhắm vào đúng những người cầm cưa, cầm rìu, cầm xẻng động vào thân cây và động vào nấm mồ dưới rễ. Xích cưa đứt khi người ta định cưa cành. Người cầm rìu ngã ngất khi rìu vừa chém vào thân cây. Người đào trộm trong đêm bị bắt gặp ngay ở miệng hố. Ngoài những việc xâm phạm trực tiếp ấy ra, các chị không động tới một ai. Người đi ngang không sao. Người đứng xem không sao. Người làm đường ở ngoài phạm vi gốc cây, làm cả tháng nay, cũng không một ai sao cả. Các chị giữ cây, giữ mồ của mình. Có vậy thôi. Giữ không phải là hại người. Người gác cửa nhà mình không phải là người đi đòi mạng hàng xóm.

Đức ngồi nghe, gật đầu mấy lần trong lúc hai cụ nói. Ông là người của đội thi công, là người đã chứng kiến đủ cả ba sự việc mà cụ Duệ vừa nhắc: tay cưa Tú bị xích văng sượt tay trong ngày định cưa cây. Cai thầu Kiên ngất sùi bọt mép sau nhát rìu chém vào thân cây, và đêm đào thăm dò bị tổ tuần tra của thôn bắt gặp ngay tại phía sau gốc. Ông nói thêm một câu, bằng tư cách của người ngoài làng, để biên bản hôm nay có đủ tiếng nói của cả hai phía.

- Tôi xác nhận những điều hai cụ vừa nói là đúng với những gì đội tôi đã gặp. Đức nói. - Anh em tôi ai không động vào cây thì không ai bị gì cả. Bộ ngã giàn giáo là do sương ướt trơn trượt khi làm việc gần cành cây, chuyện ấy tôi đã nói rõ từ hôm xảy ra. Từ ngày đội dừng hẳn mọi việc trong phạm vi gốc cây, không còn một chuyện lạ nào xảy ra với bất cứ công nhân nào nữa, dù lán trại của chúng tôi vẫn ở ngay gần bến đò.

Một cụ cao niên ngồi ở hàng ghế bên trái, năm nay đã ngoài tám mươi, người cùng thế hệ với những đứa trẻ lớn lên sau năm một nghìn chín trăm năm mươi ở làng này. Lúc ấy mới chậm rãi lên tiếng góp thêm một câu chuyện của chính mình vào biên bản. Cụ nói hồi còn trẻ, có một năm mất mùa, một nhóm người từ nơi khác tới làng trong đêm, định đốn trộm một cành lớn của cây gạo để bán gỗ, và chỉ sau một đêm đứng quanh gốc cây. Sáng ra họ bỏ đi hết, dụng cụ để lại nguyên ở vệ đường, không ai trong làng biết chính xác họ đã thấy gì hay nghe gì trong đêm ấy. Cụ nói mình kể chuyện này không phải để dọa ai, mà để thấy rõ một điều hai cụ vừa nói: các chị giữ cây của mình rất nghiêm. Nhưng trong bao nhiêu năm, chưa một lần các chị bước ra khỏi phạm vi tán cây và rễ cây ấy để làm hại một người nào ở bất cứ đâu khác. Người làng đi làm đồng về khuya qua đầu làng suốt mấy chục năm, chưa một ai kể rằng mình bị đuổi theo, bị nhập, hay bị làm hại ở ngoài bóng cây ấy bao giờ.

Nam ghi cả câu chuyện ấy vào biên bản như một lời chứng của cao niên, rồi anh tự đối chiếu trong đầu với tất cả những gì mình đã trải qua từ ngày về làng. Hiện hình và tiếng ru chỉ xảy ra vào ban đêm của tháng Ba âm lịch, trong phạm vi tán và rễ cây. Riêng phản ứng khi thân cây hoặc hài cốt bị xâm phạm trực tiếp, như cưa, chém, đào, thì xảy ra ngay lúc hành vi xâm phạm diễn ra, kể cả ban ngày. Ngoài những giới hạn ấy, làng này sống cạnh gốc cây quanh năm, yên ổn, làm ăn, cưới hỏi, sinh con đẻ cái, không một điều gì bất thường. Sự nhất quán ấy, với đầu óc của một kỹ sư quen làm việc bằng số liệu và biên bản, lại chính là điều khiến anh tin vào phán quyết của hai cụ sáng nay hơn bất cứ lời giải thích mơ hồ nào khác.

Sau đó, thầy Hảo nói tới điều thứ hai, điều mà nhiều người làng tò mò nhất từ đầu tháng tới nay: tiếng ru con phát ra từ tán cây vào những đêm tháng Ba.

Ông nói rõ ràng, và khi ông nói, cả gian đình lặng đi, vì đây là lần đầu tiên người giữ nghề lâu nhất của làng này giải thích điều ấy một cách trọn vẹn trước mặt mọi người.

- Cả tổ mười hai chị, tôi nói điều này để các cháu ghi lại cho đúng, đều chưa chồng, chưa con. Ông nói. - Chị lớn nhất hai mươi sáu tuổi, em út mười bảy tuổi, tất cả đều ra đi khi chưa kịp có một gia đình riêng. Vậy thì tiếng ru ấy không phải tiếng một người mẹ đòi con, cũng không phải tiếng khóc đòi một đứa trẻ nào cả. Theo lệ của người làm nghề như tôi, và theo điều tôi tin sau từng ấy năm sống cạnh gốc cây này, tiếng ru là tiếng các chị gọi nhau trong đêm. Ngày các chị còn sống, tổ du kích ở với nhau như chị em một nhà, người lớn ru người nhỏ bằng những câu hát ru quê mình cho đỡ nhớ nhà trong những đêm đi chuyển tài liệu. Chết rồi, nằm chung một hố, các chị vẫn gọi nhau bằng tiếng ấy. Và cũng bằng tiếng ấy, các chị gọi người sống nhớ tới mình. Không phải đòi mạng. Không phải đòi con. Chỉ là gọi cho người ta đừng quên rằng dưới gốc cây này có mười hai con người đã nằm im lặng quá lâu rồi.

Nam ghi lại toàn bộ những lời ấy vào biên bản làm việc với xã, từng ý một, theo đúng yêu cầu của hai cụ: phán quyết các chị không đòi người thế mạng. Lời đồn thế mạng là sai và từ nay làng sẽ nói đúng sự thật; lý giải về tiếng ru con là tiếng gọi nhau và gọi người sống nhớ tới các chị. Và khẳng định chung kết lại một câu mà cụ Duệ tự đọc cho Nam ghi, chậm rãi từng chữ: các chị là người giữ làng, không phải ma đòi mạng.

Biên bản này, theo kế hoạch mà Nam và Lan đã bàn với trưởng thôn, sẽ là cơ sở trực tiếp cho nội dung tấm bia tưởng niệm sẽ dựng ở miếu thờ dưới gốc cây. Và là một phần tài liệu nền trong bộ hồ sơ đề nghị công nhận liệt sĩ cho bảy chị còn bị ghi là mất tích mà Lan đang chuẩn bị. Một lời đồn sai kéo dài mấy chục năm, vô tình, như chính cụ Duệ nói trong buổi sáng ấy, đã thành lớp vỏ bảo vệ cho nấm mồ của các chị suốt bảy mươi sáu năm. Khiến không kẻ trộm gỗ nào, không người đào trộm nào dám bén mảng lâu dài tới gốc cây này. Nhưng từ nay, khi nấm mồ đã có làng công khai đứng ra giữ, có biên bản của xã và huyện, có một ngôi miếu sắp xây và một tấm bia sắp khắc đủ mười hai cái tên, các chị không cần lớp vỏ của sự sợ hãi ấy nữa. Các chị cần sự thật.

Buổi nói chuyện ở đình kết thúc vào đầu buổi chiều. Các cao niên lần lượt ra về, ai cũng ghé qua bàn thờ đình thắp một nén hương trước khi bước qua ngưỡng cửa. Đức bắt tay thầy Hảo và cụ Duệ, nhận lời ngày mai sẽ đưa toàn đội về dự lễ từ lúc hoàng hôn, và quay về lán chuẩn bị.

Chiều xuống, bầu trời đầu làng trong vắt lạ thường, không một gợn mây ở phía bến đò. Cây gạo đứng im trong nắng cuối ngày của tháng Ba âm lịch, hoa nở đỏ rực kín cành, dày và đều hơn bất cứ ngày nào Nam từng thấy từ khi về làng. Như đang chờ một đêm quan trọng nhất của tháng, đêm cuối cùng, đêm mà mười hai cái tên sẽ được gọi lên thành tiếng trước mặt cả làng lần đầu tiên sau bảy mươi sáu năm.

Chương khác

Xem thêm