MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 37: Đêm bến đò năm 1950
Sáng mười bốn tháng Năm, ngày hai mươi tám tháng Ba âm, tại nhà cụ Duệ, câu chuyện của năm một nghìn chín trăm năm mươi cuối cùng cũng được kể trọn. Có…
Nội dung chương
Sáng mười bốn tháng Năm, ngày hai mươi tám tháng Ba âm, tại nhà cụ Duệ, câu chuyện của năm một nghìn chín trăm năm mươi cuối cùng cũng được kể trọn.
Có mặt trong gian nhà hôm ấy, ngoài cụ Duệ, chỉ có ba người: Lan, cháu nội của cụ, ngồi ở vị trí ghi chép với cuốn sổ trắng và cây bút đã chuẩn bị từ hôm trước. Thầy Hảo, người được cụ mời tới vì gia đình ông có một phần trong câu chuyện này mà tới hôm nay cụ mới nói ra; và Nam. Người ngoài đầu tiên của làng được nghe, đúng như lời cụ đã hứa từ lần gặp ở đầu tháng, rằng khi nào làng dám nói ra, anh sẽ là người ngoài đầu tiên được nghe. Cuốn sổ bìa vải của ông Nguyễn Văn Thức đặt mở trên bàn giữa, từng trang được cụ Duệ lật ra đúng tới đoạn cần kể, đối chiếu từng chi tiết một. Không kể theo trí nhớ mơ hồ của một đứa trẻ sáu tuổi năm ấy, mà kể theo ghi chép của chính người cha đã sống qua đêm ấy và viết lại tất cả.
Cụ kể từ đêm mười một tháng Ba âm lịch năm Canh Dần, một nghìn chín trăm năm mươi.
Tổ du kích nữ của xã có mười hai người, do Nguyễn Thị Mận, hai mươi sáu tuổi, vợ của ông Thức và là mẹ của cụ Duệ, làm đội trưởng. Đêm ấy, tổ có nhiệm vụ chuyển một gói tài liệu quan trọng qua sông ở bến Đò Ngang, nơi dòng sông Đáy chảy qua đầu làng, cách gốc cây gạo chỉ khoảng bốn mươi mét. Việc chuyển tài liệu đã được chuẩn bị kỹ, người đưa đò là người của tổ chức, giờ qua sông chọn lúc nửa đêm khi bến vắng nhất. Nhưng tin tức đã bị lộ từ trước đó. Giặc phục kích sẵn ở phía bên kia bến đò và cả ở lối mòn quay về làng.
Cả tổ mười hai người bị bắn chết ngay tại bến trong đêm ấy.
Cụ Duệ kể tới đoạn này thì dừng lại một lúc lâu. Cụ nói mình năm ấy mới sáu tuổi, ở nhà với người họ hàng, chỉ nhớ mẹ đi từ lúc sẩm tối và không bao giờ về nữa. Nhớ tiếng khóc bị bịt miệng của người lớn trong nhà vào những ngày sau đó, tiếng khóc của những người biết tin mà không dám khóc thành tiếng. Phần còn lại của câu chuyện, cụ không chứng kiến, cụ kể lại đúng theo cuốn sổ của cha mình và theo những gì ông Thức đã kể cho con trai nghe khi con trai đủ lớn để giữ một bí mật của cả làng.
Sau khi bắn chết cả tổ, giặc cho phơi xác các chị ở bến đò, cấm dân làng chôn cất, cấm cả việc tới gần, để làm gương răn đe cho bất cứ ai còn ý định theo du kích. Mười hai người con gái của làng nằm ở bến đò suốt một ngày một đêm, giữa sự canh giữ và đe dọa, trong khi gia đình của từng người chỉ dám đứng nhìn từ rất xa. Đó là nỗi đau và cũng là nỗi hổ thẹn lớn nhất mà thế hệ của ông Thức mang theo suốt phần đời còn lại, và cụ Duệ nói rõ, khi kể lại. Rằng không được trách những người làng năm ấy đã không dám đứng ra ngay giữa ban ngày, vì bất cứ ai lộ ý định chôn cất lúc đó đều có thể bị bắn theo ngay tại bến.
Đêm hôm sau, đêm mười hai tháng Ba âm, ông Nguyễn Văn Thức, chồng của đội trưởng Mận, dẫn theo bảy người đàn ông trong làng, lén ra bến đò.
Trong bảy người ấy, cụ đọc rõ từng cái tên theo sổ, và khi đọc tới một cái tên, cụ dừng lại, nhìn sang thầy Hảo đang ngồi lặng ở góc bàn: ông nội của thầy Hảo là một trong bảy người đàn ông đêm ấy. Thầy Hảo gật đầu rất chậm. Ông nói khẽ rằng trong nhà ông, chuyện này chỉ được truyền lại bằng một câu duy nhất từ đời ông nội tới đời cha ông rồi tới ông: dưới gốc cây gạo có người nằm. Người làm nghề mộc trong nhà này đời đời không được động vào cây ấy, không được hỏi vì sao. Tới hôm nay, ngồi ở đây, ông mới được nghe trọn vẹn cái vì sao của câu dặn ấy.
Tám người đàn ông trong đêm mười hai tháng Ba đã đưa thi thể của mười hai chị từ bến đò về phía gốc cây gạo. Họ chọn gốc cây vì đất ở đó mềm, vì tán cây che kín, vì đầu làng vào ban đêm ít người qua lại nhất, và vì theo lời trong sổ. Ông Thức nói một câu mà tám người đều đồng ý ngay trong đêm ấy: các chị sống là người của làng này, chết cũng phải nằm ở đất đầu làng, nơi các chị vẫn nhìn thấy bến đò và con đường về làng. Họ đào vội một hố chung dài theo rễ cây về phía bến đò, sâu khoảng hơn một mét, đặt các chị nằm cạnh nhau ngay ngắn nhất trong điều kiện của một đêm phải làm thật nhanh và thật lặng. Các chị được đặt nằm trên những tấm ván quan tài tạm do ông nội thầy Hảo, thợ mộc của làng, đẽo vội trong đêm. Lấp đất, phủ lại lá và cỏ như cũ, rồi trở về làng trước khi trời sáng, mỗi người một ngả, mang theo một lời thề chung.
Lời thề ấy là giữ kín chuyện này cho tới khi nào đất nước yên hẳn và con cháu đủ sức lo cho các chị một nấm mồ đàng hoàng.
Nhưng rồi năm tháng không đi theo lời thề. Chiến tranh kéo dài, hòa bình tới rồi lại có những năm tháng khó khăn khác, và nỗi sợ bị quy tội che giấu. Sợ việc chôn giấu không khai báo năm xưa bị đào lại thành tội của những gia đình đã làm việc ấy, khiến lời thề giữ kín cho một thời gian dần thành một sự im lặng kéo dài suốt bảy mươi sáu năm. Từng người trong tám người đàn ông đêm ấy lần lượt qua đời, mang theo phần bí mật của mình. Ông Thức ghi lại tất cả vào cuốn sổ tay này, vị trí hố chôn, danh sách mười hai chị, tên bảy người cùng đào, và lời dặn cho con trai duy nhất của mình: khi nào làng dám nói ra, hãy là người nói.
Cụ Duệ kể thêm một đoạn mà trong cuốn sổ chỉ ghi vài dòng ngắn, nhưng qua lời cụ, đoạn ấy hiện lên rõ hơn bất cứ đoạn nào khác trong buổi sáng hôm ấy. Cụ nói, theo lời cha cụ kể lại nhiều năm sau, khi tám người đàn ông đặt chị cuối cùng xuống hố và bắt đầu lấp đất, không một ai trong số họ nói với nhau câu nào. Họ làm việc bằng tay không và bằng những chiếc xẻng nhỏ mang theo, đất đầu làng tháng Ba còn ẩm và nặng, rễ cây gạo lúc ấy đã lớn, ôm quanh khoảng đất họ đào như những cánh tay. Ông Thức, người chồng vừa mất vợ chưa đầy hai ngày, là người tự tay đặt một nắm đất đầu tiên lên người vợ mình. Rồi ông quỳ ở miệng hố rất lâu tới mức hai người bên cạnh phải đỡ ông đứng dậy để công việc kịp xong trước khi gà gáy. Trên đường trở về làng trong đêm ấy, tám người đàn ông đi qua đình, dừng lại cùng nhau một lúc trước sân đình tối, và từng người một đặt tay lên cánh cửa đình mà thề lại lời thề giữ kín. Không giấy tờ, không nhân chứng nào ngoài chính họ và một gốc cây gạo đứng ở đầu làng.
Cụ cũng nói rõ một điều để Lan ghi vào sổ bằng nét chữ riêng, tách ra thành một mục độc lập: trong bảy mươi sáu năm qua. Gia đình nào trong làng có người nằm dưới gốc cây cũng đều giữ một nén hương riêng cho các chị vào ngày mười hai tháng Ba âm lịch hằng năm, ngày giỗ tập thể mà làng tự giữ với nhau trong im lặng. Họ thắp hương ở nhà mình, không ai dám lập bàn thờ chung, không ai dám gọi đó là ngày giỗ liệt sĩ, chỉ gọi tránh đi là ngày giỗ các cô. Sự im lặng ấy, cụ nói, không phải là quên. Nó là một cách nhớ bị ép phải lặng đi, và chính vì nhớ mà không được nói ra, nỗi nhớ ấy mới nặng tới mức truyền qua ba, bốn thế hệ trong làng mà không hề phai đi chút nào.
Lan ghi chép lại toàn bộ buổi kể hôm ấy, ghi không nghỉ tay suốt mấy giờ liền.
Nam ngồi nghe và để ý thấy tay Lan run lên rõ rệt khi cô viết tới đoạn tên bà nội mình, Nguyễn Thị Mận, đội trưởng của tổ. Người đàn bà mà cô chỉ biết qua một tấm ảnh thờ mờ và qua sự im lặng của cả gia đình mỗi khi có ai nhắc tới. Cô dừng bút một lúc, hít một hơi dài, rồi viết tiếp, vì ông nội cô vẫn đang kể. Và cô đã hứa với chính mình từ tối hôm trước rằng chuyện này từ nay không được phép mất thêm một chi tiết nào nữa vì sự yếu đuối của người ghi.
Buổi kể kết thúc vào đầu buổi chiều. Ngoài sân nhà cụ Duệ, nắng tháng Ba âm chiếu xuống khoảng vườn mà cụ vừa hiến cho con đường, và tiếng người làng chuẩn bị lễ ở phía đình vẫn vọng sang đều đặn. Như một đời sống bình thường đang tiếp tục quanh một câu chuyện vừa được mở ra sau bảy mươi sáu năm khóa kín.
Cụ Duệ gấp cuốn sổ bìa vải lại, lần cuối cùng với tư cách người giữ nó một mình, rồi đẩy cuốn sổ qua phía Lan đang ngồi.
- Từ hôm nay, chuyện này là của cả làng. Cụ nói. - Của cả các cháu nữa. Tôi nhẹ người rồi.
Nam nhìn cụ già tám mươi hai tuổi ngồi tựa lưng vào ghế, hai bàn tay đặt yên trên đùi, gương mặt thanh thản một cách hiếm thấy sau gần một tháng anh biết cụ. Và anh hiểu rằng buổi sáng hôm nay, một gánh nặng đã thật sự được đặt xuống sau bảy mươi sáu năm, không phải bằng một quyết định hành chính nào. Mà bằng việc một câu chuyện cuối cùng cũng được kể ra thành lời, ghi lại bằng chữ, trước mặt những người sẽ giữ nó tiếp từ đây.