MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 36: Chuẩn bị một lễ lớn

Từ sáng mười ba tháng Năm, ngày hai mươi bảy tháng Ba âm, cả làng Xuân Đào bước vào ba ngày chuẩn bị một lễ cúng lớn chưa từng có trong đời sống của làng…

Nội dung chương

Từ sáng mười ba tháng Năm, ngày hai mươi bảy tháng Ba âm, cả làng Xuân Đào bước vào ba ngày chuẩn bị một lễ cúng lớn chưa từng có trong đời sống của làng suốt mấy chục năm qua.

Không phải lễ giỗ làng thường niên, không phải lễ đình theo lệ cũ, mà là một lễ cúng riêng cho mười hai nữ du kích dưới gốc cây gạo, làm tại chính gốc cây, vào đêm cuối cùng của tháng Ba. Thầy Hảo là người chủ trì phần lễ, và ngay từ buổi sáng đầu tiên, ông đã nói rõ nguyên tắc của mình trước mặt trưởng thôn. Và các cao niên: lễ này không làm theo kiểu trừ tà, không có bùa chú xua đuổi, không có thầy pháp nào đứng ra trấn yểm một điều gì. Đây là lễ tạ, lễ mời và lễ nhận lỗi của người sống đối với người đã khuất. Các chị là người của làng, là liệt sĩ của làng, đón các chị bằng lễ của người nhà, không phải đuổi các chị đi bằng lễ của người sợ ma.

Công việc được chia ra rất rành mạch, theo đúng cách một làng vẫn làm khi có việc lớn chung.

Thầy Hảo cùng mấy thanh niên dọn cỏ quanh gốc cây trong phạm vi niêm phong, nhưng dọn theo cách ông dặn kỹ: chỉ cắt cỏ mặt, không đào, không xới sâu một tấc đất nào trong toàn bộ khu vực rễ cây, cuốc xẻng chỉ dùng ở rìa ngoài. Bàn thờ tạm được dựng hướng ra phía bến đò, đúng hướng mà theo cuốn sổ của ông Thức, hố chôn các chị kéo dài theo rễ cây về phía ấy. Trên bàn thờ, ngoài bát hương chính và hoa quả chung, thầy Hảo cho chuẩn bị mười hai phần lễ giống hệt nhau, không phần nào lớn hơn phần nào, mỗi phần gồm một đĩa quả nhỏ, một chén rượu. Một phần xôi chè riêng, và phía trước mỗi phần lễ là một thẻ tên viết tay, nét chữ của Lan, ghi rõ họ tên và tuổi của từng chị theo đúng danh sách trong cuốn sổ: Nguyễn Thị Mận. Phạm Thị Sen, Trần Thị Liễu, Vũ Thị Hạnh, Nguyễn Thị Đào, Đỗ Thị Nhài, Phạm Thị Cúc, Trần Thị Huệ, Lê Thị Thắm, Vũ Thị Xuân, Nguyễn Thị Hồng, và Đỗ Thị Mai, em út của tổ, mười bảy tuổi.

Lan cùng các bà, các chị trong làng gói bánh và nấu chè ở sân đình suốt hai ngày. Bánh gói bằng lá dong lấy ở vườn trong làng, chè nấu bằng đậu xanh mà mấy gia đình cùng góp. Không nhà nào được dặn phải góp bao nhiêu, nhà có nhiều góp nhiều, nhà neo người góp một nắm đậu, một bó lá, một buổi công ngồi rửa lá ở sân đình. Thanh niên trong làng dựng rạp che ở khoảng đất trống gần gốc cây, chăng đèn điện dọc lối đi từ đình ra đầu làng, và kê thêm ghế cho các cụ cao niên ngồi dự lễ. Vì đêm mười sáu sẽ là một đêm dài, từ hoàng hôn tới qua nửa đêm, không cụ nào đứng nổi từng ấy giờ dưới tán cây.

Trong lúc mọi người làm việc, câu chuyện về mười hai cái tên được nhắc tới nhiều lần ở sân đình, và Nam nhận ra một điều làm anh suy nghĩ suốt cả buổi. Nhiều người làng, kể cả những người đã ngoài năm mươi tuổi, hôm nay mới lần đầu tiên nghe đủ cả mười hai họ tên đọc liền nhau như vậy. Trước đây họ chỉ biết chung chung là các cô du kích, là các chị dưới gốc cây, là người làng mình hy sinh năm ấy. Một cái tên cụ thể, đọc lên cùng tuổi đời mười bảy, mười chín, hai mươi, làm cho câu chuyện bỗng trở thành chuyện của những con người thật bằng xương bằng thịt. Có họ, có tên, có tuổi, chứ không còn là một lời đồn ma mị truyền miệng qua mấy thế hệ nữa. Một bà đứng gói bánh ở sân đình nói khẽ với người bên cạnh rằng bà nội của Đỗ Thị Mai vẫn còn một người em họ xa sống ở xã bên. Và gia đình bên ấy suốt mấy chục năm chỉ biết chị Mai mất tích trong chiến tranh, không hề biết chị nằm ở đâu. Lan nghe được câu ấy, lặng lẽ ghi thêm một dòng vào cuốn sổ nhỏ của mình, dòng đầu tiên trong một danh sách dài những gia đình cần được báo tin sau lễ này.

Thầy Hảo cũng dặn thêm một việc tưởng nhỏ mà ông coi là quan trọng ngang với mâm lễ: trong đêm cúng. Không ai được quay phim chụp ảnh bằng đèn sáng chĩa thẳng vào gốc cây, không ai được bàn tán chuyện thế mạng hay chuyện ma quỷ trước bàn thờ các chị. Ai muốn ghi lại, chỉ ghi bằng chữ sau lễ. Làng làm lễ này để các chị được gọi đúng tên và được đứng đúng vị trí của mình trong lịch sử của làng, không phải để có thêm một câu chuyện rùng rợn kể cho người nơi khác nghe chơi. Trưởng thôn Thành truyền lại lời dặn ấy tới từng nhóm thanh niên trực phục vụ lễ, và Nam ghi nó vào đầu bản kế hoạch hậu cần của mình như một nguyên tắc của cả đêm mười sáu.

Phần của Nam là khách mời và hậu cần, những việc cần giấy tờ và điện thoại hơn là cần tay chân.

Thư mời chính thức của thôn được gửi tới Ban quản lý dự án huyện, tới công ty chủ thầu, và một thư riêng, do chính tay Nam viết và nhờ Đức chuyển, gửi cho Trần Văn Kiên ở thị trấn. Trong thư cho Kiên, Nam viết ngắn và rõ: làng làm lễ cúng lớn cho mười hai chị tại gốc cây vào đêm mười sáu tháng Năm, cụ Duệ và trưởng thôn mời ông về dự với tư cách khách của làng. Không ai làm khó ông trong đêm ấy, và lời ông đã nói bên vệ đường hôm rời làng, rằng khi nào làng làm lễ cho các chị, cho ông được về, làng đã nghe được và làng nhớ. Đức đọc thư trước khi chuyển, gật đầu, và nhận lời đưa toàn đội về dự lễ: ông, Tú với cánh tay phải đã lành, Hậu, và cả Bộ đang dưỡng thương bong gân cổ chân trái. Sẽ chống nạng về dự, vì Bộ đã nhắn từ hôm trước rằng dù phải chống nạng đi chậm, ông cũng muốn có mặt ở gốc cây trong đêm ấy.

Trong những ngày chuẩn bị ấy, có một điều mà Nam để ý thấy và không ngày nào không nghĩ tới.

Cụ Duệ hay ngồi một mình bên cuốn sổ bìa vải của cha mình. Cụ ngồi ở hiên nhà, hoặc ở sân đình trong lúc mọi người bận rộn quanh đó, cuốn sổ mở trên đùi, mắt cụ lần theo từng trang chữ viết tay đã ố vàng của ông Thức. Môi cụ đôi lúc mấp máy rất khẽ, như một người đang thuộc lại một câu chuyện rất dài để chuẩn bị kể ra một lần cho trọn vẹn, không sót một đoạn, không sai một cái tên. Lan nói với Nam rằng từ hôm phương án được duyệt, cụ ăn ngon miệng hơn, ngủ cũng yên hơn, nhưng cứ tới buổi chiều là cụ lại giở sổ ra đọc, có trang cụ đọc đi đọc lại mấy lần trong một buổi. Nam hiểu cụ đang chuẩn bị cho một việc còn nặng hơn cả việc hiến đất: kể hết sự thật của năm một nghìn chín trăm năm mươi, phần sự thật mà cụ đã giữ kín suốt từ ngày cha cụ mất tới nay.

Chiều tối ngày mười bốn tháng Năm, khi công việc chuẩn bị đã xong ở mức khung, rạp đã dựng xong, bàn thờ tạm đã kê ngay ngắn. Mười hai thẻ tên đã viết xong và được Lan cất cẩn thận trong một hộp gỗ chờ tới đêm lễ mới bày ra, cụ Duệ gọi Nam và Lan vào nhà.

Nhà cụ hôm ấy thắp đèn sớm. Trên bàn giữa, cuốn sổ bìa vải đặt ngay ngắn bên cạnh ấm trà và một cuốn sổ trắng mới tinh cùng cây bút mà Lan vẫn dùng để chép danh sách. Cụ ngồi ở ghế chính, lưng thẳng hơn thường ngày, và nói rõ ràng từng điều một, như người đang dặn dò một việc hệ trọng của gia đình.

- Mai, ông sẽ kể hết. Cụ nói. - Kể từ đầu tới cuối, chuyện đêm bến đò năm ấy, chuyện ai chôn các chị, chuyện vì sao làng phải im lặng từng ấy năm. Ông kể một lần này thôi, kể cho trọn. Lan mang theo sổ và bút, ghi lại hết, chữ nào chưa rõ thì hỏi lại ngay lúc ấy, đừng để qua ngày khác. Từ nay chuyện này không giữ trong một cái đầu nữa. Cái đầu của ông già rồi, giữ thêm nữa là có lỗi với các chị, có lỗi với cả làng.

Lan gật đầu, hai tay ôm cuốn sổ trắng vào lòng. Nam ngồi bên, không dám chen vào một lời nào, vì anh hiểu mình sắp được nghe phần sự thật mà từ lần gặp cụ ở đầu tháng. Cụ đã nói rõ là chưa đến lúc, và cái lúc ấy, cuối cùng, đã tới vào ngày mai, ngày hai mươi tám tháng Ba âm, chỉ hai ngày trước đêm lễ lớn nhất của làng.

Cụ Duệ đưa tay lên vuốt nhẹ bìa cuốn sổ cũ, đầu ngón tay lần theo mép vải đã sờn của một vật đã đi qua tay hai đời người giữ kín. Rồi cụ nói khẽ, như nói với chính mình hơn là nói với hai người cháu đang ngồi trước mặt.

- Bố tôi giữ chuyện này tới lúc nhắm mắt. Tôi giữ thêm bốn mươi tám năm nữa. Mai là hết hạn của tôi rồi.

Đêm ấy, Nam ra về khi trời đã tối hẳn, đi ngang qua gốc cây gạo và thấy rạp lễ sáng đèn vàng. Bàn thờ tạm phủ vải trắng ngay ngắn, và mười hai chỗ trống trên mặt bàn đang chờ những thẻ tên sẽ được bày ra vào đêm lễ lớn. Anh đứng lặng một lúc trong mùi hoa gạo và mùi lá dong từ sân đình bay sang, và thấy lòng mình yên tĩnh một cách lạ lùng trước những ngày mà cả làng đều biết sẽ không bình thường chút nào.

Chương khác

Xem thêm