MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 50: Mưa Trên Mái Nhà Mới
Ngày hai mươi mốt tháng hai năm hai mươi sáu, ba tháng sau lễ Mát Nhà, bản Bó vừa qua Tết và đang ở trong những ngày đầu xuân yên nhất của năm. Ngôi nhà…
Nội dung chương
Ngày hai mươi mốt tháng hai năm hai mươi sáu, ba tháng sau lễ Mát Nhà, bản Bó vừa qua Tết và đang ở trong những ngày đầu xuân yên nhất của năm.
Ngôi nhà sàn của họ Bùi đã sửa xong hoàn toàn. Mái mới lợp kín, cột cái mới đứng vững ở gian giữa, gian buồng của vợ chồng Sơn được dựng lại khang trang trên nền cũ, sàn nhà khô ráo và ấm dưới nắng xuân yếu. Người qua đường nhìn vào chỉ thấy một ngôi nhà sàn trăm tuổi vừa được tu sửa tử tế sau bão. Không ai nhìn thấy trong nó một câu chuyện năm mươi năm nữa, trừ những người trong bản đã chứng kiến tận mắt những gì xảy ra từ tháng mười tới tháng mười một năm ngoái.
Trong gian giữa, bên cạnh cây cột mới, có một vật nhỏ mà khách tới nhà thường dừng lại nhìn lâu hơn mọi đồ đạc khác. Đó là một đoạn gỗ ngắn được đóng khung treo trên vách. Đoạn gỗ ấy Sơn tự tay cắt lấy từ cây cột cái cũ, đúng phần có vết khoan cháy đen do chính anh gây ra vào ngày mười tháng mười một, việc dại dột nhất của anh trong suốt vụ việc này. Khi cây cột cũ được xử lý cùng đợt dựng nhà tháng mười hai, anh xin giữ lại đúng đoạn ấy, cưa gọn, đóng khung, treo trong gian giữa. Bên dưới khung gỗ không ghi một chữ nào. Người trong nhà không cần chữ để nhớ, và khách lạ không cần biết để hỏi. Nó ở đó như một vật nhắc nhở thầm lặng cho chính người đã treo nó lên: nhà này từng suýt mất thêm người vì một kẻ nóng vội tưởng mình biết hết mọi đường đi.
Những ngày Tết trong ngôi nhà mới là cái Tết yên nhất mà người nhà họ Bùi còn nhớ được trong nhiều năm. Mùng một, hai họ qua lại chúc Tết nhau như lệ cũ của bản. Thắng sang nhà lang từ sớm, thắp nhang trước bàn thờ họ Bùi, và đứng lại rất lâu trước bài vị nhỏ của Hà Thị Mận đặt trong nhà thờ họ, rồi mới ra gian giữa uống chén rượu đầu năm với Thành. Không ai nhắc lại những lời qua tiếng lại của tháng mười một. Việc ông trưởng chi họ tự mình thắp nhang trước bài vị ấy vào sáng mùng một, trước mặt cả nhà, đã nói đủ mọi điều cần nói cho một năm mới. Điệp và vợ ông sang chơi vào mùng hai, mang theo bánh chưng của nhà mình. Liên giữ hai ông bà ở lại ăn cơm. Bữa cơm Tết ấy, Sơn ngồi nhìn hai họ ngồi chung một mâm trong gian nhà vừa dựng lại, nghe tiếng trẻ con họ hàng chạy qua sân, và nghĩ rằng một năm trước, không một ai trong gian nhà này hình dung nổi một mâm cơm như thế.
Cụ Nguyệt ăn Tết trong nhà mới với sức khỏe tốt hơn hẳn những mùa đông trước. Bà đã gần chín mươi tuổi, mắt vẫn gần như không nhìn thấy, nhưng tai thính và trí nhớ rành rọt. Chiều mùng ba, bà gọi Sơn vào ngồi cạnh, đưa tay lần tìm tay anh, và hỏi một câu mà bà đã hỏi anh một lần vào những ngày đầu anh về bản. Khi bà chỉ dám nói nửa vời về một cái tên không ai dám nhắc: còn nghe thấy gì trong nhà nữa không. Sơn đáp rằng không, trong nhà giờ chỉ còn tiếng người và tiếng mưa. Bà gật đầu, nắm tay anh một lúc, và nói thế là bà sống được tới ngày nghe câu này. Sơn ngồi với bà cho tới khi bà ngủ thiếp đi trong ghế, giấc ngủ yên và đều của một người đã đặt xuống được một việc giữ kín suốt nửa đời người còn lại của mình.
Sau Tết, nhịp sống của cả nhà trở về đường ray bình thường của nó, và chính sự bình thường ấy là điều Sơn trân trọng nhất mỗi ngày. Anh đi làm ở đơn vị xây dựng của huyện theo giờ hành chính, chiều về tới bản khi nắng còn chưa tắt. Hải nhận thêm việc chạy xe và phụ thợ trong bản, ăn uống điều độ, người đầy đặn lên trông thấy so với những ngày tháng mười gầy rộc. Liên trông coi việc nhà, vườn rau sau nhà xanh lại sau mùa bão. Thi thoảng, có người trong bản bị đau đầu vì cảm cúm hay thức khuya, và cả nhà lại nhắc nhau một câu nửa đùa nửa thật rằng đau đầu thì uống thuốc cảm, thế thôi, như mọi nhà khác trong bản vẫn làm từ trước tới nay. Những cơn đau đầu thường thường ấy không làm ai giật mình nữa. Chúng đã trở lại đúng kích thước của chúng trong đời sống: một chứng bệnh thường, có thuốc, có ngày khỏi, không mang theo một câu chuyện nào phía sau.
Tin vui đầu tiên của nhà mới tới vào đầu tháng hai. Hằng mang thai tháng thứ hai.
Cô biết tin từ một lần khám ở trạm xá xã, về nhà nói với chồng ở gian buồng mới dựng lại, bằng một giọng nhỏ và chắc. Sơn ngồi nghe, tay đặt lên bụng vợ còn phẳng nguyên, và trong một lúc lâu anh không nói được gì ngoài việc hỏi lại hai lần cho chắc rằng cô và đứa bé đều khỏe. Liên nghe tin thì khóc, khóc vì vui, rồi ngay trong buổi chiều hôm ấy bà đã bắt đầu tính chuyện ăn uống tẩm bổ cho con dâu như mọi bà mẹ chồng khác trong bản. Thành bỏ nẹp từ lâu, đi lại bình thường, ngày ngày ra ngồi ở thềm nhìn bản và nhìn con cháu qua lại trong sân. Ông nói với Sơn rằng nhà này sang năm sẽ có tiếng trẻ con, và một ngôi nhà có tiếng trẻ con thì không còn thì giờ đâu mà giữ những chuyện cũ trong lòng nữa.
- Nhưng không được quên, ông nói thêm ngay sau đó. Có cháu rồi càng phải nhớ, để sau này kể cho nó nghe cho đúng.
Vợ chồng Sơn quyết định ở lại bản ít nhất hết năm đầu của đứa trẻ. Quyết định ấy không ai trong nhà ép, và cũng không phải một quyết định nói ra trong một lúc xúc động. Hai vợ chồng bàn với nhau nhiều buổi tối trong gian buồng mới, cân từng việc một như cách Sơn vẫn làm với mọi việc quan trọng của đời mình. Sơn xin chuyển công tác về một đơn vị xây dựng ở huyện Mai Châu, đi về trong ngày, bỏ hẳn những năm tháng công trình xa nhà triền miên ở Hà Nội. Hằng tiếp tục dạy ở trường bản Bó. Đứa trẻ sẽ sinh ra trong ngôi nhà này, ngủ những đêm đầu tiên của đời mình trong gian buồng cạnh cây cột mới. Và cha mẹ nó đã chắc chắn một điều trước khi nó chào đời: gian buồng ấy giờ chỉ là một gian buồng, cột ấy giờ chỉ là một cây cột, và đêm trong nhà này giờ chỉ là đêm.
Ở trường bản Bó, một buổi sáng đầu xuân, Hằng kể cho học trò nghe một câu chuyện của bản mình ngày xưa. Cô kể về một cô gái hái nấm ở bản Thung, nhà nghèo, đội mưa lên đồi sau nhà lang hái nấm vì nhà hết gạo. Cô kể chuyện ấy như một truyền thuyết của bản làng, không ma quỷ, không dị tượng, chỉ là chuyện một người con gái tốt bị đối xử bất công. Mất đi không một nấm mộ tử tế, và cuối cùng, sau rất nhiều năm, đã có mộ, có tên, có hoa của người làng đặt lên. Lũ trẻ nghe im lặng lạ thường. Có đứa hỏi cô gái ấy tên là gì. Hằng đáp tên cô là Hà Thị Mận, và bảo các em nhớ tên ấy như nhớ tên một người của bản mình.
Mấy ngày sau, Sơn đi qua nghĩa địa bản Bó vào buổi chiều và dừng lại trước mộ của Mận. Trên nấm mộ đất đã xanh cỏ non đầu xuân, trước tấm bia gỗ đã ngả màu theo mưa nắng ba tháng, có mấy bông hoa rừng còn tươi được đặt ngay ngắn. Anh không cần hỏi cũng biết hoa ấy của ai. Học trò của vợ anh đã hái hoa rừng trên đường đi học và mang ra đây, đặt cho một người con gái của bản mà chúng chỉ vừa được nghe kể một lần trong lớp. Sơn đứng trước mộ một lúc, thắp một nén nhang mang theo trong túi áo, và nói nhỏ một câu chào như chào một người quen trong bản, rồi quay về nhà khi nắng chiều đã nhạt.
Chiều cuối trong những ngày đầu xuân ấy, Điệp ghé nhà Bùi chơi.
Ông tới không nhân dịp gì, chỉ là một buổi chiều rảnh sau Tết, mang theo ít chè khô của nhà mình. Thành ngồi ở thềm tiếp ông bằng ấm nước chè mới pha. Hai ông già ngồi uống nước chè với nhau, nói chuyện mùa màng năm nay mưa sớm hay mưa muộn, chuyện đường bản sắp được đổ lại, chuyện đứa cháu sắp chào đời trong nhà này. Sơn ngồi ở bậc thềm dưới, nghe hai người nói chuyện như hai ông già hàng xóm bình thường đã thân nhau từ lâu. Và anh phải tự nhắc mình rằng mới hơn ba tháng trước, một trong hai người này còn không bước qua cổng nhà người kia suốt năm mươi năm. Hòa giải, khi nó thật sự tới, trông không giống một buổi lễ nào cả. Nó trông giống một buổi chiều uống nước chè.
Trước khi trời tối hẳn, Sơn đi một vòng quanh nhà theo thói quen của một người thợ kiểm tra công trình sau mưa đầu mùa. Anh xem lại mái mới, xem chân cột mới đặt trên tảng đá tảng cũ, xem rãnh thoát nước quanh nền nhà vừa được khơi lại sau Tết. Mọi thứ đều khô ráo, chắc chắn và bình thường. Trên đường quay vào, anh dừng ở gian giữa, đưa tay chạm nhẹ lên khung gỗ treo đoạn cột cũ có vết khoan cháy đen, vật nhắc nhở duy nhất của một trăm năm cũ còn ở lại trong ngôi nhà này, rồi đi vào gian buồng với vợ. Ngôi nhà đứng yên sau lưng anh, như mọi ngôi nhà sàn khác trong bản đang lên đèn buổi tối.
Đêm ấy, một cơn mưa xuân đổ xuống thung lũng.
Mưa không lớn, mưa đều và êm trên mái nhà mới, nước chảy xuống mép mái thành từng dòng nhỏ trong veo, tiếng mưa lẫn vào tiếng suối xa và tiếng gió nhẹ qua rặng tre đầu bản. Trong nhà sàn, Liên ngủ ở gian trong, Hải ngủ ở gian bên, Thành ngủ yên sau một ngày ngồi thềm tiếp khách, hơi thở đều và sâu. Ở gian buồng cạnh cột cái mới, Hằng ngủ say, một tay đặt nhẹ lên bụng, bên cạnh là Sơn nằm nghe tiếng mưa một lúc theo thói quen của người đã sống qua một mùa mưa không quên được, rồi cũng chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Đồng hồ trong gian giữa điểm hai mươi ba giờ, và không một ai trong nhà tỉnh giấc.