MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 47: Cải Táng
Sáng mười chín tháng mười một, trời tạnh ráo lần đầu tiên sau nhiều ngày mưa bão, và con đường từ nhà lang xuống cuối vườn khô dần dưới nắng nhạt. Sơn…
Nội dung chương
Sáng mười chín tháng mười một, trời tạnh ráo lần đầu tiên sau nhiều ngày mưa bão, và con đường từ nhà lang xuống cuối vườn khô dần dưới nắng nhạt.
Sơn dậy từ lúc trời chưa sáng hẳn. Anh kiểm tra lại từng thứ đã hẹn cho buổi cải táng như kiểm tra một danh mục bàn giao: chiếc tiểu sành mới đặt ở gian giữa, miệng tiểu phủ vải sạch; bó nhang. Nước thơm nấu từ chiều hôm trước; tấm bia gỗ của Bường đã được Hải mang từ thị trấn về từ tối qua, dựng ở thềm, mặt chữ quay vào trong, phủ một tấm vải mỏng cho khỏi bụi. Trong túi áo ngực của Sơn là chiếc khăn tay cũ gói chiếc lược gỗ của Mận. Anh chạm tay vào túi áo một lần nữa trước khi bước ra sân, như người kiểm lại một vật mình đã giữ suốt nửa tháng và hôm nay phải trao đi cho xong.
Ông Phấn tới nhà lang từ sớm, đi cùng một người cháu ở Mai Hạ. Ông xem lại tiểu sành, xem tấm bia, rồi gật đầu và nói chỉ một câu rằng mọi thứ đã đủ, giờ chỉ còn thiếu việc làm cho đúng.
Đoàn người tập trung ở cuối vườn, quanh cây dổi cổ thụ. Hai họ đều có mặt. Dân bản tới đông hơn Sơn tưởng, nhiều người đứng vòng ngoài, im lặng, có người mang theo một bó hoa rừng nhỏ. Thành được Sơn và Hải đưa từ nhà xuống bằng cách khác hẳn những ngày trước: ông vẫn nẹp sườn, vẫn không được đi lại bình thường theo lời bác sĩ. Nên hai anh em kê một chiếc ghế chắc chắn ở rìa khoảnh đất đã dọn, đỡ ông ngồi xuống đó, lưng tựa vững, một chiếc gậy chống dựng ngay bên tay. Ông ngồi ở đó suốt buổi, không đứng lên, chỉ cúi đầu theo lễ từ chỗ ngồi của mình, và không ai trong hai họ thấy điều ấy là thiếu sót. Người đàn ông bảy mươi tuổi gãy một xương sườn vì đêm lễ, có mặt ở đây sáng nay, đã là đủ.
Ở gốc dổi, ông Phấn làm lễ xin phép đất trước. Ông đọc một đoạn mo ngắn, khấn đất đai và cây cối ở cuối vườn nhà lang, xin cho người sống được đưa người chết về nơi chôn cất tử tế. Tiếng đọc của ông chậm và đều, không cao giọng. Khi đoạn mo dứt, ông gật đầu với Sơn.
Việc đào lại bắt đầu đúng chỗ cọc tre đánh dấu từ chiều mười ba. Sơn, Hải và hai người cháu họ Hà đào bằng tay và bằng xẻng nhỏ, từng lớp đất mỏng, đúng cách cả nhóm đã làm sáu ngày trước, chỉ khác là lần này không ai phải dừng lại vì sợ nữa. Đất dưới gốc dổi vẫn xốp và tối màu. Xuống tới độ sâu khoảng một mét hai, lớp vải thô đã mục hiện ra. Mọi dụng cụ sắt được đặt hết sang một bên. Từ đó trở đi, mọi việc làm bằng tay trần và tay đeo găng vải, chậm rãi, từng chút một.
Hài cốt của Hà Thị Mận được nhặt lên từng phần. Ông Phấn đứng bên miệng hố, chỉ dẫn theo lệ: phần nào đặt trước, phần nào đặt sau. Mỗi phần trước khi đưa lên đều được rửa qua bằng nước thơm trong một chiếc chậu sành đặt cạnh hố, nước do Hằng và vợ Điệp thay nhau giữ cho luôn sạch. Công việc kéo dài gần một giờ trong im lặng gần như tuyệt đối. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng ông Phấn nói rất khẽ một câu dặn, và tiếng Điệp đáp lại cũng rất khẽ. Sơn làm việc ở ngay miệng hố, và anh nhận ra tay mình không run. Suốt hơn một tháng qua, mỗi lần chạm vào những gì thuộc về người con gái này, anh đều ở trong tâm thế của một người điều tra. Sáng nay, lần đầu tiên, anh chỉ là một người nhà đang đưa một người thân về.
Ở phía tay trái của hài cốt, chiếc vòng bạc kiểu cũ của con gái Mường nằm nguyên đúng vị trí cả nhóm đã đặt lại hôm mười ba. Điệp tự tay nhấc chiếc vòng lên, lau sạch đất bám bằng mép khăn của mình, nhìn dấu khắc ở mặt trong một lần nữa, rồi đặt chiếc vòng vào tiểu sành, đúng phía tay trái, như nó đã nằm suốt năm mươi năm dưới gốc cây này.
Hài cốt xếp xong, Sơn lấy trong túi áo ngực ra chiếc khăn tay cũ. Anh mở khăn ngay trước mặt Điệp và ông Phấn. Chiếc lược gỗ nằm đó, răng gãy hai chiếc, gỗ đã sẫm màu theo năm tháng. Đây là vật vợ Điệp dúi vào tay anh ở cổng nhà bản Thung hôm mồng bốn tháng mười một, là vật của Mận mà em trai cô giữ suốt từ năm 1975. Và từ hôm ấy tới sáng nay nó ở trong tay Sơn, qua đêm họp họ, qua đêm lễ, qua ngày trao vàng, không rời đi đâu khác. Sơn nâng chiếc lược bằng hai tay, đặt vào trong tiểu sành, bên cạnh hài cốt của người chủ của nó.
- Chị nhận lại lược của chị, anh nói rất nhỏ. Em trai chị giữ cho chị năm mươi năm. Hôm nay nó về với chị.
Điệp đứng bên miệng hố khóc không thành tiếng, hai vai rung lên, và vợ ông đứng sau lưng chồng, tay đặt lên vai ông, cũng không nói gì. Nắp tiểu sành được đậy lại, buộc cố định theo lệ. Ông Phấn đọc thêm một đoạn mo ngắn nữa ngay bên gốc dổi, đoạn mo cho một người chết bắt đầu một chuyến đi ngắn sang nơi nằm mới của mình.
Tiểu sành được rước đi ngay sau đó. Bốn người cháu hai họ thay nhau khiêng, đi chậm từ cuối vườn nhà lang, qua sân bản, theo con đường đất hướng về nghĩa địa bản Bó. Dân bản đi theo thành một đoàn dài, không ai nói chuyện to. Sơn đi ngay sau tiểu, một tay đỡ hờ dưới đáy tiểu ở đoạn đường xóc nhất. Hằng đi bên cạnh anh, tay cầm bó nhang chưa thắp. Điệp đi ở đầu đoàn cùng ông Phấn. Còn Thành, sau khi tiểu đã qua khỏi cuối vườn, được Sơn quay lại cùng Hải đỡ lên một chiếc xe kéo tay của dân bản, đi chậm ở cuối đoàn. Vì ông nhất định không chịu ở nhà trong buổi sáng này, và hai anh em cũng không nỡ để cha mình vắng mặt ở chặng cuối của món nợ mà ông đã đứng ra nhận thay.
Đi ngang qua sân nhà lang, đoàn rước dừng lại một nhịp ngắn theo lời ông Phấn. Tiểu sành được đặt tạm trên chiếc chiếu trải giữa sân, đúng phía dưới gian giữa của ngôi nhà còn nguyên. Nơi cách đây bốn đêm Sơn đã quỳ trước cây cột và nói to lời hứa cải táng cho người trong cột nghe, với Điệp đứng ở thềm làm chứng. Sáng nay lời hứa ấy đang được làm ngay trước mắt cả hai họ. Ông Phấn thắp một nén nhang cắm ở đầu chiếu, đọc khẽ mấy câu, rồi ra hiệu đi tiếp. Sơn nhìn lên gian buồng đã sập của vợ chồng mình, nay còn là khung gỗ dọn dở dưới tấm bạt, và nghĩ rằng ngôi nhà này đã mất một góc, nhưng sáng nay, lần đầu tiên sau năm mươi năm, nó không còn nợ ai một người chết nữa.
Cũng trong lúc đoàn rước dừng ở sân. Hằng đi tới bên Điệp và nói nhỏ với ông một điều cô đã giữ từ hôm tìm thấy hài cốt: hôm mười ba, chính cô là người cầm sổ ghi lại từng lớp đất và vị trí chiếc vòng bạc ở phía tay trái trong hố. Trong những giấc mơ ở gian buồng, người con gái trong cột đã nhiều lần chỉ tay về phía cuối vườn, nơi chiếc vòng ấy nằm lại suốt năm mươi năm. Điệp nghe xong, gật đầu mấy lần, và nói rằng chị ông về được tới đây là nhờ cả những người không cùng họ máu với chị. Sơn đứng gần, nghe được hết, và ghi nhớ câu ấy như một phần của buổi sáng này, dù anh không mở sổ ra ghi chép gì nữa. Có những việc của ngày hôm nay, anh quyết định để trí nhớ giữ thay cho giấy.
Ở nghĩa địa bản Bó, huyệt mộ mới đã được đào sẵn từ chiều hôm trước. Còn ngôi mộ gió cũ mà gia đình Điệp lập năm 1976 ở nghĩa địa bản Thung, trong cùng buổi sáng nay, đã được người nhà họ Hà san bằng theo lệ ngay trước khi hạ tiểu. Lớp đất đắp cũ được san đều xuống, vì từ nay người con gái ấy đã có mộ thật. Không cần một ngôi mộ không có xác để giữ chỗ cho hồn nữa. Sơn nghe Điệp nói lại việc ấy trên đường rước và hiểu rằng một việc làm bằng tay của một cậu em trai mười sáu tuổi năm 1976, sáng nay đã được khép lại cho xong, ở cả hai đầu bản.
Tiểu sành được hạ xuống huyệt. Đất được lấp từng lớp, nén chặt theo lệ. Tấm bia gỗ của Bường được dựng lên ở đầu mộ, đóng cọc cố định, mặt chữ hướng ra đường đi của nghĩa địa. Bường tự tay chỉnh tấm bia cho thẳng, lùi lại nhìn một lần, rồi gật đầu. Trên mặt gỗ phơi ra nắng nhạt buổi sáng, dòng chữ khắc sâu hiện rõ: Hà Thị Mận, 1956-1975.
Rồi Điệp đọc điếu văn.
Bài điếu văn do chính ông viết, chép tay trên hai trang giấy học trò đã gấp tư cất trong túi áo. Chữ của ông vụng, câu của ông ngắn, có chỗ ông dừng lại rất lâu mới đọc tiếp được. Ông kể về người chị mười chín tuổi của mình, con gái nhà nghèo bản Thung, đội mưa lên đồi sau nhà lang hái nấm vì nhà hết gạo. Ông kể về ba ngày cả bản đi tìm, về chiếc giỏ nấm và một chiếc dép ở gần gò Mối. Ông kể về năm mươi năm chị ông không có đường về, nằm dưới một gốc cây trong vườn nhà người ta, không một nén nhang đúng nghĩa, không một tấm bia mang tên. Và ông kết bài điếu bằng một câu mà Sơn tin mình sẽ nhớ suốt đời: từ hôm nay, chị ông có mộ, có tên, có người thắp nhang, và có đường về nhà mỗi ngày giỗ.
Thành ngồi trên ghế ở phía sau cùng của đoàn người. Khi điếu văn đọc xong, ông chống gậy đứng lên, được Sơn và Hải giữ hai bên, và từ chỗ đứng ấy, với tấm nẹp còn chặt bên sườn phải, ông cúi người xuống thật chậm, lạy ba lạy về phía nấm mộ mới. Mỗi lần cúi xuống, mặt ông nhăn lại vì đau, nhưng ông lạy đủ ba lạy, không thiếu một lạy nào, rồi mới để hai con đỡ mình ngồi lại xuống ghế.
Nhang được thắp khắp quanh mộ. Khói nhang lên thẳng trong buổi sáng không gió.
Khi hạ tiểu và lấp đất xong, một cơn gió nhẹ đi qua nghĩa địa, cỏ trên các nấm mộ lay một lượt rồi yên; Điệp đứng rất lâu trước bia của chị mình mới chịu ra về.