MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 46: Những Việc Còn Lại
Sáng mười sáu tháng mười một, sau khi từ trạm xá về, Thành được đặt nằm ở gian trong đã kê lại, lưng tựa trên một chồng chăn gấp, sườn phải nẹp chặt, vết…
Nội dung chương
Sáng mười sáu tháng mười một, sau khi từ trạm xá về, Thành được đặt nằm ở gian trong đã kê lại, lưng tựa trên một chồng chăn gấp, sườn phải nẹp chặt, vết khâu trên trán băng trắng. Ông nằm yên theo lời bác sĩ dặn, chỉ nghiêng đầu được về phía cửa, và mỗi lần muốn ngồi dậy là Liên lại đặt tay lên vai ông giữ xuống. Sơn ngồi bên cạnh cha, mở cuốn sổ tay hiện tượng ra một trang mới, ghi ba việc ông Phấn dặn trước khi về Mai Hạ thành ba dòng riêng, mỗi dòng một việc, và đọc lại cho cha nghe để hai cha con cùng nhớ cho khớp.
- Việc một, cải táng trước ngày mười chín, Sơn nói. Việc hai, vàng xử lý công khai. Việc ba, dựng cột mới phải xin phép đất.
- Làm việc hai trước, Thành nói, giọng còn yếu nhưng rõ từng chữ. Vàng mà để qua đêm nữa trong nhà này, cha ngủ không yên.
Buổi trao vàng được hẹn vào đầu giờ chiều ngày mười bảy, ở ngay gian giữa của ngôi nhà còn nguyên, trước bàn thờ họ Bùi. Sơn và Hải khiêng cha từ gian trong ra, đặt cả tấm ván nằm của ông xuống chiếu giữa gian, để ông nằm mà chủ trì việc nhà mình. Vì bác sĩ đã dặn nằm yên ít nhất hai tuần và không ai trong nhà dám trái lời dặn ấy một lần nào nữa. Hằng kê thêm một chiếc gối thấp dưới đầu ông. Liên ngồi ở phía sau, tay đặt lên mép chiếu. Cụ Nguyệt ngồi trên ghế thấp gần bàn thờ, mắt không nhìn thấy nhưng tai nghe từng tiếng động trong gian nhà.
Người được mời tới đủ cả. Phía họ Hà có Điệp và vợ ông, cùng hai người cháu trong họ. Phía họ Bùi có Thắng và mấy người cao tuổi trong chi. Thầy hiệu trưởng trường bản Bó tới theo lời mời của Thành, mang theo cuốn sổ của nhà trường. Dân bản đứng ở thềm và ngoài sân, không ai chen vào gian giữa. Sơn đặt chiếc hòm gỗ dưới gầm sàn năm xưa lên chiếu, ngay trước mặt cha. Chiếc hòm ấy anh đã nhìn thấy lần đầu vào trưa mười bốn, khi Thành mở ra cho hai anh em xem. Và từ hôm ấy tới nay nó vẫn nằm nguyên dưới gầm sàn, khóa bằng một chiếc khóa đồng nhỏ, chìa khóa do chính Thành giữ trong túi áo.
Thành ra hiệu cho Sơn mở hòm.
Nắp hòm bật lên. Bên trong, tám lượng vàng lá nằm xếp thành hai chồng gọn, mỗi lá vàng mỏng được gói trong giấy dầu đã ngả màu, ánh vàng hắt lên mờ mờ dưới ánh sáng ban ngày lọt qua tấm bạt che phần mái sập. Cả gian nhà im hẳn. Sơn đã biết trước con số này từ trưa mười bốn, chính miệng cha anh nói, chính tay anh ghi vào sổ, nhưng nhìn tận mắt số vàng cuối cùng của hố của năm xưa nằm gọn trong một chiếc hòm nhỏ, anh vẫn thấy cổ họng mình khô lại. Năm mươi năm, một người con gái chết oan, một cây cột giam hồn, một nhà người đau bệnh suốt mấy chục năm, và cuối cùng còn lại từng này, nhẹ tới mức một đứa trẻ cũng bê được cả hòm.
- Đếm đi con, Thành nói. Đếm to cho cả hai họ cùng nghe.
Sơn đeo găng tay vải, nhấc từng lá vàng ra đặt lên một tấm khăn trắng trải giữa chiếu, đếm chậm, một, hai, ba, cho tới tám, không nhanh, không sót. Hải đứng bên đọc lại theo anh từng con số. Thắng cúi người nhìn, rồi gật đầu với phía họ Hà. Thầy hiệu trưởng ghi con số vào sổ của nhà trường, đọc lại một lần nữa cho mọi người cùng nghe: tám lượng vàng lá, đủ, không thiếu một lá nào.
Thành nằm trên ván, mắt nhìn lên xà nhà, nói phần của mình.
- Số vàng này là phần còn lại của hố của cha tôi chôn ở gò Mối năm xưa, ông nói. Của ấy lấy bằng một mạng người. Nhà tôi giữ tới hôm nay là giữ thêm một ngày nợ. Hôm nay tôi chia nó ra làm hai phần bằng nhau, trước mặt hai họ và dân bản, và nhà tôi không giữ lại một chỉ nào hết.
Ông ngừng lại lấy hơi, bên sườn phải phập phồng rất khẽ sau lớp nẹp, rồi nói tiếp, tay chỉ về phía Điệp.
- Phần thứ nhất, bốn lượng, tôi trao cho họ Hà, để lo cải táng và xây mộ cho Hà Thị Mận. Phần thứ hai, bốn lượng, tôi trao cho quỹ học sinh của bản, qua tay thầy hiệu trưởng, để trẻ con trong bản, cả bản Bó và bản Thung, có thêm sách vở và áo ấm. Đây là tiền chuộc lỗi của nhà tôi, không phải tiền từ thiện, và tôi nhờ thầy ghi đúng như thế vào sổ của trường.
Sơn gói bốn lượng đầu tiên vào một tấm vải mới, buộc lại, rồi nâng bằng hai tay trao sang phía họ Hà. Điệp đứng dậy đón. Tay ông run, run tới mức tấm vải trong tay ông rung lên nhè nhẹ, và vợ ông phải đưa tay đỡ dưới khuỷu tay chồng. Ông giữ gói vàng một lúc lâu mà không nói được câu nào, mắt nhìn xuống tấm vải như nhìn một thứ gì nặng hơn vàng rất nhiều.
- Nhà tôi nhận, cuối cùng ông nói, giọng khàn. Nhận để lo cho chị tôi một nấm mộ tử tế, có tên, có bia, như người ta. Tôi nhận để lo cho chị, chứ tôi không nhận để quên. Cái gì đã qua năm mươi năm, không gói vàng nào quên thay được.
- Tôi biết, Thành đáp từ trên ván nằm. Tôi không dám xin ông quên. Tôi chỉ xin ông nhận cho chị ấy có nơi về.
Bốn lượng còn lại được gói riêng, trao cho thầy hiệu trưởng. Thầy ghi biên nhận ngay tại chiếu, đọc to số lượng và mục đích trước hai họ, rồi đưa một bản cho Thành giữ. Sơn ghi vào sổ tay hiện tượng, ở trang ba việc hậu lễ, hai dòng ngắn: bốn lượng họ Hà, bốn lượng quỹ học sinh bản, trao công khai ngày mười bảy tháng mười một, đủ chứng kiến hai họ. Anh gạch một đường dưới dòng việc thứ hai trong ba việc ông Phấn dặn. Việc vàng, xong.
Trước khi mọi người ra về, Sơn mở ngăn tủ trong gian giữa. Lấy ra chiếc khăn tay cũ mà vợ Điệp đã dúi vào tay anh ở cổng nhà bản Thung hôm mồng bốn tháng mười một, bên trong là chiếc lược gỗ của Mận, răng gãy hai chiếc, vẫn nguyên như ngày anh nhận. Anh mở khăn cho Điệp và cha cùng nhìn, rồi gói lại cẩn thận, cất vào túi áo ngực của mình.
- Ngày mười chín, con tự tay đặt nó vào tiểu cho chị, anh nói với Điệp. Từ hôm nhận tới nay nó ở với con, không rời đi đâu khác.
Điệp gật đầu, mắt đỏ lên, và chỉ nói một câu rằng thế là chị ông sắp có đủ mọi thứ của mình quay về cùng một chỗ.
Cũng trong ngăn tủ ấy, gói vải trắng buộc kín đựng búi tóc và chiếc đinh gỗ dâu trục ra trong đêm lễ vẫn nằm yên một góc. Theo đúng lời ông Phấn dặn lúc ra về: cứ để nó buộc kín như thế, không ai được mở ra, việc xử lý sau cùng của nó theo lệ sẽ do ông và hai họ bàn khi cải táng xong. Sơn nhìn gói vải một lúc rồi đóng ngăn tủ lại. Có những thứ trong nhà này, từ nay cách xử lý đúng nhất là không chạm vào nữa khi chưa có lời của thầy.
Chiếc hòm gỗ rỗng được đóng nắp lại. Thành bảo Sơn mang hòm ra sân, để dưới chân cầu thang.
- Để nó ở ngoài ấy, ông nói. Từ nay nhà này không chứa nó nữa.
Chiều hôm ấy, Sơn còn một việc ở thị trấn. Bường đã đóng cửa tiệm mộc hai ngày nay, theo lời ông nói với anh qua điện thoại từ sáng mười sáu: tiệm đóng, không nhận việc, vì ông phải làm một việc cho xong trước ngày mười chín. Sơn tới nơi lúc nắng đã nhạt, thấy cửa tiệm khép, bên trong có tiếng đục gỗ đều và chậm. Anh gõ cửa, Bường ra mở, áo đầy mùn gỗ, sau lưng ông là một tấm gỗ tốt đã bào nhẵn dựng trên bàn thợ, mặt gỗ sáng và vân đều.
Tấm bia cho Mận đã gần xong. Trên mặt gỗ, dòng chữ khắc sâu và đều tay hiện rõ từng nét: Hà Thị Mận, 1956-1975. Bường khắc bằng đục tay, không dùng máy, mỗi nét chữ là một lần gõ búa nhỏ. Và ông nói ông đã làm hỏng một tấm đầu tiên vào sáng qua vì tay run ở đúng chữ Mận, nên bỏ tấm ấy đi, chọn tấm gỗ khác làm lại từ đầu. Tấm bia này là tấm thứ hai, và nét chữ không run một nét nào.
- Tên người ta, không được run, ông nói.
Sơn đứng nhìn tấm bia rất lâu. Năm mươi năm, người con gái ấy không có một tấm bia nào mang tên mình. Ngôi mộ gió ở nghĩa địa không tên, không tuổi. Nay tên cô nằm trên mặt gỗ, sâu và rõ, chờ ngày mười chín dựng lên ở đầu mộ thật. Anh đưa tay chạm nhẹ lên mép tấm gỗ, gỗ khô và ấm, thơm mùi gỗ mới bào, không có một chút lạnh nào như thứ gỗ anh từng chạm vào suốt hơn một tháng qua.
Bường rót cho anh chén nước chè, rồi ngồi xuống chiếc ghế thấp bên bàn thợ, và kể nốt cho anh chi tiết cuối cùng mà ông giữ từ đêm kể chuyện mười một tháng mười một tới nay chưa nói. Đêm tháng tám năm 1975, sau khi việc yểm làm xong, cha ông, Xa Văn Thêu, về tới nhà khi trời gần sáng. Ông cởi áo ngoài, ngồi ở thềm, rồi ói. Ói suốt đêm, ói tới khi trong bụng không còn gì, mặt trắng bệch, hai tay vẫn run không cầm nổi bát nước vợ đưa. Bường khi ấy mười bảy tuổi, đứng giữ đèn cho cha cả đêm ở nhà lang, về nhà lại đứng nhìn cha ói ở thềm mà không hiểu hết việc mình vừa phụ tay làm là việc gì. Từ đêm ấy cho tới ngày mất năm 2010, Xa Văn Thêu không nhận thêm một việc làm đêm nào nữa. Ai thuê làm đêm, trả bao nhiêu ông cũng lắc đầu. Người trong nghề tưởng ông sợ ma. Chỉ người trong nhà biết ông sợ chính đôi tay mình.
- Cha tôi làm nghề mộc cả đời, Bường nói. Việc duy nhất ông không ghi vào sổ được, là việc ông phải ghi rồi xé đi. Ông ấy trả bằng day dứt cả phần đời còn lại. Còn tôi, tôi trả bằng tấm bia này.
Ông đứng dậy, đi tới bàn thợ, đưa lòng bàn tay vuốt chậm qua mặt bia gỗ lần cuối, từ chữ đầu tới chữ cuối, như người thợ kiểm tra lần chót một việc làm mà mình sẽ không bao giờ làm lại lần thứ hai.
- Cha tôi đóng đinh vào cột nhà người ta bằng đôi tay này học được. Giờ cũng đôi tay này khắc tên cho cô ấy.