MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 43: Hồn Về Mường Trời

Mưa ngớt xuống lúc nào, Sơn không nhận ra ngay. Anh ngồi trong lán sân một lúc lâu bên cạnh Hằng, tay cô đặt yên trong tay anh. Nghe tiếng mưa trên mái…

Nội dung chương

Mưa ngớt xuống lúc nào, Sơn không nhận ra ngay.

Anh ngồi trong lán sân một lúc lâu bên cạnh Hằng, tay cô đặt yên trong tay anh. Nghe tiếng mưa trên mái bạt thưa dần từ một trận trút nước thành những hạt nặng rơi lộp độp, rồi thành mưa nhỏ đều đều như một đêm mưa thường cuối mùa. Gió cũng lặng theo. Thứ gió đã quật đổ cây lớn sau vườn, đã giật tung mấy góc bạt ở lán sân lúc nửa đêm, giờ chỉ còn là hơi ẩm mát lùa qua sân ngập nước, mang theo mùi đất ướt và mùi lá mục của vườn sau. Và trong cái nền mưa nhỏ ấy, lần đầu tiên sau nhiều giờ, Sơn nghe được tiếng côn trùng cuối mùa ở phía vườn sau kêu lên từng đoạn ngắn, rời rạc rồi nối dần vào nhau.

Âm thanh bình thường ấy làm anh suýt bật khóc. Suốt từ mười chín giờ tối, tai anh chỉ được nghe những thứ không bình thường: bài mo, tiếng cào trong gỗ, tiếng khóc của đàn bà trong thân cột, tiếng cây đổ, tiếng người hô hoán trong bão. Bây giờ côn trùng kêu ở vườn sau, như ở bất kỳ ngôi nhà nào trong bản Bó vào bất kỳ đêm mưa nào trước tháng mười này.

Trong gian giữa, ông Phấn đã cho mọi người vào lại thềm và mép gian ngoài, đứng và ngồi quanh mâm lễ đã tàn, nhưng không ai bước qua chỗ chân cột nữa. Tấm vải trắng gói búi tóc và chiếc đinh gỗ dâu nằm yên trên bàn lễ. Chiếc rìu đồng nằm yên trên vải chàm. Cây cột cái đứng với đường nứt dọc ở chân, không còn dịch đỏ nào rỉ ra thêm, tảng đá kê chân cột chỉ còn ướt nước lá bưởi đã giội và nước mưa hắt vào.

Ông Phấn ngồi nghỉ ở thềm trong, lưng tựa vào một cây cột phụ, chiếc áo chàm tháo một cúc cổ, hai tay đặt lên đầu gối. Trông ông lúc ấy già đi rõ rệt so với lúc ông nâng rìu, như người vừa đặt xuống một gánh đã mang không phải một đêm mà là năm mươi năm. Kể từ cái lễ gọi hồn bị hủy của một người mẹ tìm con gái năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm. Sơn rót cho ông một chén nước ấm. Ông cầm bằng hai tay, uống chậm, rồi nói cho hai họ đang ngồi quanh thềm nghe, giọng đã khàn hẳn nhưng rõ từng câu, theo đúng cách nói ít lời của ông từ ngày đầu lên nhà này tới giờ.

- Hồn đã có đường đi, ông nói. Đã có người nhà nhận. Đã biết xác mình có nơi về. Từ giờ nó là hồn người ta đi về cõi của người ta. Không còn là ma của nhà nào nữa.

Ông nói thêm rằng người Mường chết tử tế thì hồn được gọi đúng tên, được người nhà tiễn, rồi lên Mường Trời, nơi không còn nhà ai cột ai, không còn tội của người sống nào giữ lại được nữa. Hà Thị Mận đêm nay đã được đủ những điều ấy, muộn năm mươi năm, nhưng đủ. Cô có tên trong lời nhận tội trước cả bản, có lời hứa cải táng có người làm chứng, và có đường về.

- Còn sợ nữa không, là sợ vì quen sợ thôi, ông Phấn nói. Ít bữa là hết.

Không ai cười, nhưng không khí trên thềm nhẹ đi một cách cảm nhận được, như nhiều người vừa cùng thở ra một hơi đã giữ từ đầu đêm.

Điệp ngồi ở mép thềm phía họ Hà, áo mưa đã cởi, chiếc áo vải bên trong ướt một mảng vai. Ông ngồi yên rất lâu nghe thầy Mo nói, hai tay để trên đùi, mắt nhìn vào gian giữa, nơi bàn thờ họ Bùi và tấm vải trắng gói vật yểm của chị ông đang nằm. Rồi ông chống tay đứng dậy, đi tới trước mặt ông Phấn và Thành, nói một câu xin phép rất nhỏ, nhỏ đến mức Sơn phải nghiêng người mới nghe rõ.

- Cho tôi thắp cho chị tôi một nén nhang. Ở thềm nhà này.

Thành đang ngồi tựa vào thành chiếu, người kiệt đi thấy rõ sau một đêm quỳ và khóc, nghe câu ấy thì chống tay ngồi thẳng dậy. Ông nhìn Điệp, rồi gật đầu, gật hai lần, và tự mình đưa tay ra hiệu cho Hải mang bát nhang tạm vẫn đặt ở mép bàn lễ từ đầu đêm ra thềm. Không ai trong họ Bùi nói một lời ngăn cản, cũng không ai nói một lời thừa. Thắng ngồi ở góc lán sân, ướt và im lặng từ sau lúc bị cha anh giữ trật tự trong bão, nhìn cảnh ấy mà không quay mặt đi.

Điệp rút một nén nhang từ bó nhang trên bàn lễ, châm vào ngọn đèn dầu Sơn vẫn giữ từ đầu đêm tới giờ, ngọn đèn đã chứng kiến đủ ba nhịp gõ, một nhát chém và một lần giội nước. Tay ông run khi đưa nhang qua lửa, run như tay Bường lúc gỡ đinh, run như tay cha anh lúc cầm trang sổ của người thợ năm xưa. Ông phải dùng cả hai tay mới giữ được nén nhang cháy đều. Rồi ông quỳ xuống thềm nhà lang, thềm của ngôi nhà đã giam chị ông suốt năm mươi năm, cắm nén nhang vào bát nhang tạm, chắp tay, và nói một câu rất nhỏ mà Sơn, đang quỳ gần đó đỡ bát nhang cho khỏi đổ, nghe được trọn vẹn.

- Chị về nhà rồi. Không ở nhà người ta nữa.

Đó là nén nhang đầu tiên Điệp thắp cho chị mình ngay ở thềm ngôi nhà này, sau năm mươi năm chị ông không có một nén nhang đúng nghĩa nào ở nơi chị bị giam giữ. Nén nhang đầu tiên của một người em trai đã giữ chiếc lược gỗ của chị suốt nửa thế kỷ, đã đứng ngoài cổng nhà lang không dám vào, và đêm nay quỳ ở thềm nhà ấy mà tiễn chị đi như một người nhà tiễn người nhà.

Cả nhà họ Bùi, từ Thành cho tới Hải, quỳ xuống lạy theo, không ai bảo ai.

Sơn quỳ ở hàng sau cha mình. Anh lạy xuống nền thềm ướt lạnh, trán gần chạm mặt gỗ ẩm, và trong đầu anh không hiện lên một con số, một bản vẽ hay một dòng sổ tay nào. Chỉ hiện lên hình ảnh một người con gái mười chín tuổi đội mưa lên đồi hái nấm vì nhà hết gạo, mà anh chưa từng gặp, chưa từng thấy mặt, chỉ từng nghe tiếng cào, tiếng khóc và một chữ đau truyền qua giấc mơ của vợ anh. Đêm nay người con gái ấy đã đi rồi. Việc lạy này không phải lễ. Nó là lời chào muộn của một nhà gửi tới một người đã ở trong nhà mình năm mươi năm mà chưa từng được coi là người.

Khi mọi người ngồi dậy, nén nhang của Điệp cháy thẳng trong gió đã lặng, khói đi lên đều, không tạt về phía nào. Liên được Hằng dìu từ lán sân lên thềm, người còn yếu sau cơn ngất đầu đêm nhưng mắt đã tỉnh táo. Bà ngồi xuống cạnh chồng, nhìn nén nhang, rồi nhìn Điệp, và khóc không thành tiếng. Cụ Nguyệt ở gian trong được người nhà dìu ra cửa, cụ không nhìn thấy rõ ai với ai vì mắt đã gần như mù, nhưng cụ nghe hết. Và cụ nói một câu khẽ khàng về phía thềm, rằng thế là nó được đi rồi, cô giữ chuyện này tới lúc nó được đi là cô nhắm mắt được rồi.

Thành được Sơn và Hải dìu vào gian trong nằm nghỉ trên chiếc chiếu trải sẵn, tránh xa phía gian buồng cạnh cột. Ông nằm xuống, thở đều dần, mặt thanh thản một cách Sơn chưa từng thấy ở cha mình trong suốt những tháng ngày căng thẳng vừa qua, cũng chưa từng thấy trong nhiều năm trước đó. Những năm ông sống với một câu nói không đầu không cuối của cha mình lúc lâm chung mà không dám hiểu. Ông nắm lấy tay Sơn khi anh kéo tấm chăn mỏng đắp lên người ông, nắm khá chặt so với một người vừa kiệt sức, và nói, giọng đã nhẹ như người vừa trút được một thứ mang theo quá nửa đời.

- Nhẹ người lắm, con ạ. Như vừa đặt xuống một cái gánh cha mang từ năm bảy tám tới giờ, mà hồi ấy cha còn không biết mình đang mang.

- Cha nghỉ đi, Sơn nói. Việc còn lại để con và Hải lo. Trời sáng là con đưa cha xuống trạm xá xem lại người, đêm nay cha quỳ lâu quá rồi.

Thành khẽ gật đầu, buông tay con trai ra, và nhắm mắt. Chỉ ít phút sau, hơi thở của ông đã đều và sâu. Ông ngủ ngay giữa ngôi nhà vừa trải qua một đêm lễ lớn nhất trong một trăm năm của nó, ngủ yên như chưa từng ngủ được trong những đêm mưa dầm của hai tháng qua, khi tiếng cào trong cột cái còn làm cả nhà ngồi dậy nhìn nhau.

Sơn để cha ngủ, dặn Hải trông ở gian trong, rồi đi một vòng quanh nhà xem xét hậu quả của bão trước khi trời sáng. Mái bếp phía sau đã sập từ lúc cây đổ, nước mưa đọng thành vũng trong nền bếp, đồ đạc ướt hết nhưng không có người nào bị thương ở đó. Sân ngập nước đang rút dần, để lại một lớp bùn mỏng và rác lá từ vườn sau trôi vào. Lán sân ướt và xộc xệch, dân bản người ngồi người nằm nghỉ quanh mấy chiếc đèn pin đã yếu pin, nói chuyện bằng giọng nhỏ của những người vừa thức trắng một đêm bão mà không có ai phải khóc vì thương vong.

Anh đi qua gian giữa để sang phía gian buồng xem phần mái phía trên có bị cây đổ làm tốc thêm chỗ nào không.

Chính lúc anh đi ngang qua chân cây cột cái, tiếng ấy vang lên.

Một tiếng rắc khô, ngắn, từ đúng chân cột. Rồi, trước khi Sơn kịp quay hẳn người lại, một tiếng rắc nữa, dài hơn, khô và rõ, như tiếng gỗ khô nứt ra trong nắng gắt giữa trưa hè, hoàn toàn khác với mọi âm thanh anh đã nghe từ cây cột này suốt hơn một tháng qua. Không có hơi lạnh nào lan ra. Không có mùi tanh nào quay lại. Không có tiếng khóc, tiếng cào hay tiếng gõ nào đi kèm. Chỉ là tiếng của thớ gỗ lim đã mục ruỗng bên trong từ lâu, thứ mục ruỗng mà khoang rỗng trong chân cột là một phần. Nay mất đi điểm tựa cuối cùng của nó và bắt đầu tự rời nhau ra bằng trọng lượng của chính ngôi nhà trăm tuổi đang đè lên.

Sơn hiểu điều đó bằng đầu óc của một kỹ sư xây dựng, ngay trong tích tắc tiếng rắc thứ hai kéo dài ra. Năm mươi năm hồn người ta bị giam trong thớ gỗ không làm cây cột này mạnh thêm ngày nào. Nó đã mục từ bên trong trong lúc che giấu một lỗ mộng và một chiếc đinh, và đêm nay, sau một nhát chém đúng thớ và một lần giội nước, phần gỗ còn lành quanh khoang rỗng là phần duy nhất còn gánh cả góc nhà này. Tiếng rắc khô ấy là tiếng của kết cấu đang báo trước, theo đúng ngôn ngữ mà nghề của anh được học để nghe.

Anh quay phắt về phía thềm, định mở miệng gọi thầy Mo.

Nhưng ông Phấn đã đứng bật dậy trước anh một nhịp.

Ông già tám mươi hai tuổi, vừa mới ngồi tựa cột phụ với chén nước ấm trong tay, giờ đứng thẳng ở thềm trong, mặt biến sắc hẳn. Và hô to một câu át cả tiếng mưa nhỏ ngoài sân, át cả tiếng côn trùng vừa mới kêu lại ở vườn sau.

- Ra hết! Ra khỏi nhà ngay! Cột không đứng được nữa!

Chương khác

Xem thêm