MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 42: Nước Lá Bưởi
Bát nước lá bưởi nấu gừng gió đã để sẵn bên bàn lễ từ đầu đêm. Nó là một bát sành cũ của nhà, nước đã nguội, mặt nước nổi mấy lá bưởi cắt nhỏ đã ngả màu…
Nội dung chương
Bát nước lá bưởi nấu gừng gió đã để sẵn bên bàn lễ từ đầu đêm.
Nó là một bát sành cũ của nhà, nước đã nguội, mặt nước nổi mấy lá bưởi cắt nhỏ đã ngả màu và vài lát gừng gió vàng nhạt, mùi cay thơm bốc lên nhẹ. Chiều mười bốn tháng mười một, cả nhà đã nấu nồi nước ấy theo lời thầy Mo dặn, lá bưởi hái ở cây sau vườn, gừng gió Hải lên đồi sau đào về, nấu vừa sôi thì bắc xuống để nguội dần cho tới giờ này. Trong suốt một đêm lễ dài, bát nước đặt ở mép bàn lễ, không ai đụng vào, như một thứ thuốc đã kê sẵn chỉ chờ đúng vết thương mở ra mới được dùng.
Ông Phấn bưng bát nước bằng cả hai tay.
Ông đọc một đoạn mo ngắn, khác hẳn bài mo dẫn đường dài dằng dặc đã đi qua các tầng đất và tầng nước. Đoạn này ngắn, dứt khoát, từng câu như từng bậc thang cuối đặt xuống trước một ngưỡng cửa. Sơn quỳ ở bậc thềm trong, vẫn giữ ngọn đèn dầu trong tay, nhìn thầy Mo bước nửa bước tới sát chân cột, nâng bát nước lên ngang vết chém vừa nứt dọc ở mặt khuất, và nghiêng bát.
Ông giội cả bát nước vào vết chém, một lần, trọn vẹn, không chừa lại một giọt nào trong bát.
Nước lá bưởi chạm vào khe nứt thì bọt trắng sủi lên mạnh.
Không phải thứ bọt mỏng của nước gặp bụi gỗ. Bọt trào ra từ trong khe thành một lớp dày, trắng và sôi, dâng lên nhanh như nước đang sôi thật trong lòng thớ gỗ, mang theo hơi gừng cay xè xộc vào mặt ba người quanh chân cột, át hẳn chút mùi tanh cuối cùng còn sót lại. Sơn nheo mắt vì hơi cay, nước mắt ứa ra, nhưng anh không quay mặt đi. Bọt trắng trào qua mép khe nứt, chảy xuống mặt tảng đá kê chân cột, loang qua cả vũng dịch đỏ đã khô một nửa từ lúc bão lên đỉnh, và ở đâu bọt đi qua, vệt đỏ ở đó nhạt hẳn đi như bị rửa trôi. Thành quỳ bên kia khẽ kêu lên một tiếng không thành lời rồi tự bịt miệng mình lại, nhớ lời dặn không được kêu trong lễ. Ông Phấn đặt chiếc bát rỗng xuống sàn, lùi lại đúng một bước, và giơ tay ra hiệu về phía thềm.
- Bường, ông gọi. Tới phần tay nhà thợ.
Xa Văn Bường đã chờ ở thềm từ lúc nào, Sơn không rõ. Người thợ mộc sáu mươi bảy tuổi nắm chặt bó cành móc rừng trong tay, chỉ mặc chiếc áo vải cũ đã ướt hai vai. Theo phân công đã định từ chiều mười bốn tháng mười một, phần gỡ vật yểm là của ông. Tay nhà thợ đã đóng vào thì tay nhà thợ phải gỡ ra. Cha ông là người năm xưa khoét chân cột, đặt vật yểm và chốt đinh. Đêm nay con trai ông là người khều nó ra, trước mặt hai họ.
Bường bước qua vạch vôi vào gian giữa, đi rất chậm, rồi quỳ xuống trước chân cột. Đúng vào chỗ cha mình đã quỳ trong một đêm tháng tám năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm mà ông, khi ấy mười bảy tuổi, đứng giữ đèn và mài chu sa bên cạnh.
Tay ông run. Run rõ ràng, như chính ông đã kể tay cha mình run năm xưa khi đặt vật yểm vào lỗ mộng. Bó cành móc rừng trong tay ông rung theo, mấy chiếc móc nhỏ ở đầu cành va vào nhau khẽ khàng. Nhưng ông không để ai làm thay. Ông Phấn cũng không đưa tay ra đỡ. Sơn ngồi cách đó chưa đầy hai sải tay, nhìn người thợ già hít sâu một hơi, tự nắm lấy cổ tay phải của mình bằng tay trái một lúc cho tay bớt run, rồi đưa đầu cành móc vào khe nứt ở chân cột.
Cành móc rừng là thứ cành dây leo thân có móc tự nhiên, Hải đã lên rừng sau đồi hái về đúng loại thầy dặn. Tay người sống không được chạm trực tiếp vào vật yểm trước khi đoạn mo tiễn đọc xong. Đầu móc của cành chạm vào bóng tối trong khe, khều rất nhẹ, rất chậm, theo tay nghề của một người thợ mộc biết mình đang gỡ một thứ đã nằm trong thớ gỗ năm mươi năm mà không được làm nó đứt vụn thêm.
Thứ đầu tiên ra khỏi khe nứt là một búi tóc đen dài đã mục một phần, quấn chặt thành một cuộn nhỏ. Mấy sợi tóc ngoài cùng vừa chạm không khí đã rã ra như tro ướt, nhưng phần lõi của búi vẫn còn nguyên hình một lọn tóc được buộc quấn nhiều vòng. Sơn nhìn thấy, ở giữa cuộn tóc mục ấy. Có lẫn những thứ nhỏ hơn đã quấn chặt vào nhau suốt năm mươi năm trong bóng tối của lỗ mộng sâu mười hai xăng ti mét: những mẩu móng tay đã ngả màu và một mảnh vải áo mục dính vệt nâu sẫm. Vệt máu khô của một người con gái mười chín tuổi từ tháng tám năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm. Không ai trong gian giữa nói một lời nào khi búi tóc được cành móc kéo hẳn ra ngoài và đặt xuống. Bường đặt nó lên tấm vải trắng đã trải sẵn giữa gian, tay ông run đến mức phải đặt xuống hai lần mới ngay ngắn được.
Rồi ông đưa cành móc vào khe nứt lần nữa.
Lần này lâu hơn. Đầu móc dò trong khoang rỗng, chạm vào vật cứng, trượt đi, chạm lại. Ông Phấn quỳ xuống ngang với Bường, không nói, chỉ đưa ngọn đèn thứ hai lại gần khe cho người thợ nhìn rõ đường móc của mình. Sơn thấy vai Bường căng lên. Rồi cành móc kéo ra chậm rãi, và theo đầu cành, chiếc đinh bằng gỗ dâu hiện ra khỏi khe nứt từng chút một.
Chiếc đinh dài chừng chín phân, thân đinh sẫm màu vì năm mươi năm nằm trong thớ lim ẩm, trên thân còn vệt đỏ sẫm của chu sa đã phai, loang lổ chỗ còn chỗ mất. Đầu đinh đã lệch hẳn sau nhát chém trúng thớ, không còn đóng thẳng xuống như một chiếc chốt khóa nữa. Nó ra khỏi khe gỗ một cách yên lặng, không kẹt, không gãy, nguyên vẹn từ đầu tới mũi. Bường khều nó đặt lên tấm vải trắng, bên cạnh búi tóc mục, rồi buông cành móc xuống sàn và chống cả hai tay xuống chiếu, thở dốc như vừa khiêng một khối gỗ nặng hơn sức mình rất nhiều.
Trên tấm vải trắng giữa gian, trước mặt mọi người, nằm đủ hai thứ đã khóa một linh hồn vào cây cột này suốt nửa thế kỷ: búi tóc đã mục, và chiếc đinh gỗ dâu phai chu sa.
Không ai nói một lời.
Theo lời thầy gọi, hai họ đã được mời lên đứng ở thềm từ lúc nước lá bưởi sủi bọt, đứng ngoài vạch vôi, chen vai nhau dưới mép mái hiên ướt mưa, nhìn vào tấm vải trắng giữa gian giữa mà không một người nào thốt lên điều gì. Điệp đứng ở hàng đầu phía họ Hà, hai tay nắm chặt mép áo mưa, mắt không rời búi tóc mục trên vải trắng. Đó là tóc của chị ông, thứ tóc người ta đã cắt đi trong cái đêm chị ông không trở về, và đóng vào cột nhà kẻ giết chị suốt năm mươi năm. Ông không khóc thành tiếng. Nước mắt cứ chảy xuống mặt ông già sáu mươi lăm tuổi trong im lặng tuyệt đối của cả một thềm người.
Ông Phấn đứng dậy, đối diện tấm vải trắng và cây cột đã nứt, đọc đoạn mo cuối cùng, đoạn tiễn hồn về Mường Trời.
Giọng ông nhỏ dần theo từng câu, như người dẫn đường đã đi tới nơi và đang quay lưng bước nhẹ ra khỏi một cõi không thuộc về mình. Sơn không hiểu hết lời mo, nhưng anh nghe được trong đoạn cuối ấy sự thong thả khác hẳn đầu đêm: không còn gọi, không còn xin, không còn dẫn dắt qua tầng đất tầng nước nào nữa. Chỉ còn là tiễn. Một người con gái của bản Thung, chết oan năm mười chín tuổi, bị giam trong gỗ nhà người ta năm mươi năm, đêm nay có tội được nhận thay, có tên được gọi đúng. Có xác được hứa đưa về, có vật yểm được gỡ ra khỏi thớ gỗ, và có đường để đi về Mường Trời như mọi người Mường chết tử tế khác.
Khi câu mo cuối cùng tắt hẳn, gian nhà rơi vào một sự yên lặng trọn vẹn mà Sơn chưa từng nghe trong ngôi nhà này kể từ đêm tân hôn.
Không có tiếng gì từ cây cột nữa. Không cào, không khóc, không gõ. Cây cột lim trăm năm đứng đó với một đường nứt dọc ở chân, im lặng như một cây cột bình thường, lần đầu tiên sau năm mươi năm.
Sơn theo thói quen kỹ sư nhìn xuống cổ tay mình. Kim đồng hồ đã qua ba giờ sáng.
Anh sững người vì con số ấy. Suốt hơn một tháng ghi sổ tay hiện tượng, mọi dị tượng của ngôi nhà này đều nằm gọn trong khung giờ từ hai mươi ba giờ tới ba giờ sáng. Bây giờ đã qua khung giờ ấy, ở ngay trong đêm mưa lớn nhất của cả đợt, và không có gì xảy ra thêm nữa. Không phải vì hết giờ nên nó ngừng. Nó ngừng vì nó đã đi rồi.
Ông Phấn cúi xuống, tự tay gấp bốn góc tấm vải trắng lại quanh búi tóc và chiếc đinh gỗ dâu, gói lại thành một gói nhỏ ngay ngắn, và đặt gói ấy lên bàn lễ trước cột, bên cạnh chiếc rìu đồng đã nằm yên trên vải chàm. Việc xử lý gói vật yểm về sau là việc của thầy và của hai họ bàn nhau khi trời sáng, theo lệ, không phải việc của nửa đêm này. Đêm nay, phần của nó trong ngôi nhà này đã hết: nó không còn nằm trong gỗ nữa.
Thành được Sơn đỡ đứng dậy, hai chân tê cứng sau nhiều giờ quỳ, lảo đảo một lúc rồi đứng vững. Ông nhìn tấm vải trắng đã gấp, nhìn cây cột nứt, rồi quay ra thềm nhìn Điệp. Hai ông già nhìn nhau qua vạch vôi đã nhòe, không nói được câu nào, cũng không cần nói.
Phần trong nhà đã xong. Sơn đặt ngọn đèn dầu xuống bậc thềm trong, bước ra khỏi gian giữa, đi qua thềm ướt mưa xuống lán sân tìm vợ.
Hằng ngồi ở mép chiếu trong lán, cạnh Liên đang nằm nghỉ sau cơn ngất đầu đêm, một chiếc khăn ấm đắp trên trán mẹ chồng. Thấy Sơn tới, cô ngồi thẳng dậy. Mắt cô đỏ vì thức và vì khóc, nhưng người cô yên, không còn vẻ căng cứng như những đêm mưa trước khi cô phải quàng khăn kín cổ đi dạy. Cô nhìn anh một lúc như để chắc chắn anh vẫn nguyên vẹn, rồi không nói gì, tự đưa hai tay lên cổ, gỡ chiếc khăn mỏng cô vẫn quàng trong những ngày gần đây xuống.
- Anh xem này, cô nói rất khẽ.
Sơn quỳ xuống bên chiếu, nghiêng đầu nhìn dưới ánh đèn pin của Hải đang đứng gần đó. Trên cổ Hằng, vết bầm hình năm ngón tay đã theo vợ chồng anh từ sáng đầu tiên sau đêm tân hôn, đậm dần sau mỗi đêm mưa. Có đêm rỉ máu ở hai vệt giữa, thứ đã khiến cô giấu chồng suốt những ngày đầu và khiến cả nhà phải đi tới đêm nay, đang nhạt đi trông thấy ngay trong đêm. Năm vệt bầm chỉ còn là những bóng mờ nhạt, mép bầm loang ra và phai màu như một vết mực đang tan trong nước.
Hằng đưa ngón tay chạm nhẹ lên cổ mình, rồi nhìn Sơn, và lần đầu tiên sau hơn một tháng, cô mỉm cười mà không phải cố.