Ma Lai - Chương 25: Bình Minh Bãi Thơm - Yến Đón Nắng Mới

Nền gạch bông của gian nhà cổ phủ một lớp tro xám bạc mịn màng, lạnh tanh. Tôi quỳ bất động giữa đống hoang tàn, hai bàn tay rướm máu cào chặt vào mép…

Nội dung chương

Nền gạch bông của gian nhà cổ phủ một lớp tro xám bạc mịn màng, lạnh tanh.

Tôi quỳ bất động giữa đống hoang tàn, hai bàn tay rướm máu cào chặt vào mép phản gỗ lim. Khắp căn phòng sặc sùi mùi muối hột rang khét lẹt quyện với tro bùa, nhưng thứ mùi tanh tưởi của tử khí và đồ lòng thối rữa từng ám ảnh suốt những đêm qua đã tan biến sạch sẽ. Thanh then cửa bằng gỗ lim nằm lăn lóc bên chân tôi, mép gỗ sứt sẹo những vết cào sâu hoắm của móng tay quỷ. Trên ngực tôi, từng vệt cắn của hàm răng nhọn hoắt vẫn đang rỉ máu, buốt rát tận xương tủy, nhắc tôi nhớ rằng mọi chuyện vừa diễn ra hoàn toàn có thật.

Bên cạnh tôi, nửa thân xác của mẹ tôi nằm nghiêng bất động trên chiếu cói.

Phần thân dưới ấy mặc chiếc áo bà ba màu lam quen thuộc, vạt áo rách tơi tả vì những cú quẫy đạp điên cuồng. Vết cắt ngang cổ nhẵn thín, khô khốc, phủ đầy một lớp bụi tro màu bạc lấp lánh dưới luồng ánh sáng mặt trời đang rọi thẳng từ lỗ thủng trên mái ngói. Người đàn bà tảo tần nuôi tôi khôn lớn hai mươi sáu năm ròng qua từng gánh chè mè đen, từng bát quy linh cao ở đầu con hẻm Nguyễn Trãi, giờ đây vĩnh viễn câm lặng.

Nước mắt tôi trào ra, nóng hổi rơi xuống lớp tro tàn dưới sàn. Từng giọt nước nhỏ xuống làm lớp tro mịn xẹp lại, tạo thành những đốm tròn xam xám.

Tôi khẽ đưa bàn tay run rẩy chạm vào những ngón tay gầy guộc của thân xác mẹ. Da thịt bà lạnh ngắt như đá tảng dưới đáy giếng cổ. Những vết chai sần nơi đầu ngón tay trỏ vì bao năm cầm vá múc chè vẫn còn nguyên vẹn. Đó chính là bàn tay từng xoa trán tôi mỗi khi tôi lên cơn sốt lúc nửa đêm, bàn tay từng gom góp từng đồng bạc lẻ nhét vào đáy ba lô cho tôi đi học đại học. Thế nhưng cũng chính bàn tay ấy, trong vòng xoáy nghiệt ngã của tà thuật họ Trần, đã phải chịu đựng nỗi đau đứt lìa khỏi cuống họng mỗi đêm rằm tháng Tư để nuôi dưỡng một con quỷ đói khát máu tươi.

Tôi tự dặn lòng không được ngã gục lúc này. Nghi lễ thanh tẩy chưa hoàn tất, linh hồn mẹ tôi vẫn chưa thể hoàn toàn siêu thoát nếu phần tro tàn của chiếc đầu và thân xác không được quy về một mối trước khi mặt trời lên đến đỉnh đầu.

Tôi gượng đứng dậy, hai đầu gối run rẩy va vào nhau kêu lập cập. Toàn bộ cơ bắp trên người tôi đau nhức như bị bẻ gãy từng mẩu xương. Tôi lê bước về phía góc buồng, nơi có chiếc hũ sành màu da lươn mà mẹ tôi từng dùng để muối dưa cải Phúc Kiến. Tôi trút sạch phần dưa cải khô ra sàn, dùng vạt áo lau sạch lòng hũ, rồi mang nó quay lại bên chiếc phản gỗ.

Bằng tất cả sự cẩn trọng và lòng tôn kính sau cùng, tôi quỳ rạp xuống nền nhà. Tôi dùng hai bàn tay trần, cẩn thận gạt từng nhúm tro xám bạc gom lại thành từng cụm nhỏ. Tro tàn của chiếc đầu và chùm nội tạng con Ma Lai rất nhẹ, mịn như phấn thoa mặt của các cô đào hát bóng thời xưa, chạm vào ngón tay chỉ để lại một vệt bụi mát rượi chứ không hề gây bỏng rát. Cứ mỗi lần hốt một nắm tro bỏ vào lòng chiếc hũ sành, tôi lại lẩm nhẩm một câu chú vãng sinh bằng tiếng Triều Châu mà bà ngoại từng dạy cho tôi khi còn thơ bé.

Từng nắm tro xám bạc dần đầy lên trong miệng hũ sành. Tôi gom sạch từng hạt bụi vương trên mặt phản, trên các khe nứt của nền gạch bông, tuyệt đối không để sót lại một mẩu tàn tích nào của ác linh. Khi hạt tro cuối cùng được gạt vào hũ, tôi xé một mảnh vải sạch từ chiếc chăn bông cũ, bịt kín miệng hũ lại rồi dùng dây thừng gai buộc chặt ba vòng.

Tôi ôm chiếc hũ sành vào lòng, áp chặt vào ngực. Chiếc hũ mát lạnh, phẳng lặng, không còn một chút dao động tà khí nào.

Tiếp đó, tôi tiến về phía tủ gỗ sát vách buồng, lấy ra tấm vải liệm bằng lụa trắng mà mẹ tôi đã tự tay may sẵn từ nhiều năm trước và cất kỹ dưới đáy rương. Có lẽ từ rất lâu, bà đã linh cảm được kết cục bi thảm của chính mình. Tôi nhẹ nhàng trải tấm lụa trắng phủ kín toàn bộ thân xác không đầu của mẹ, chỉnh sửa vạt áo phẳng phiu, kéo ngay ngắn hai ống quần lụa đen. Tôi đặt chiếc hũ sành chứa tro cốt của phần đầu ngay sát phía trên vết cắt nơi cổ bà, đúng vị trí chiếc đầu từng ngự trị, tạo nên một hình hài trọn vẹn dưới lớp vải liệm trắng tinh.

Một mùi hương trầm thoang thoảng lại dấy lên, thanh tao và trang nghiêm, lấn át hoàn toàn những mùi tạp uế còn sót lại của trận huyết chiến.

Nhưng tôi biết, nguồn cơn của cơn ác mộng này vẫn chưa bị tiêu diệt tận gốc rễ.

Cội nguồn của lời nguyền Ma Lai đày đọa dòng họ Trần suốt ba đời qua bắt đầu từ cuốn sách cổ mà ông cố tôi mang theo từ vùng núi non hiểm trở của tỉnh Phúc Kiến sang đất Sài Gòn Gia Định vào đầu thế kỷ trước. Chừng nào cuốn sách da cừu ấy còn tồn tại trên cõi đời này, bóng tối của tà thuật vẫn có thể thức tỉnh và tiếp tục gieo rắc tai ương xuống đầu con cháu đời sau.

Tôi lau khô nước mắt, xoay người bước ra gian nhà ngoài.

Ánh sáng ban mai ngày rằm tháng Tư đã bắt đầu tràn ngập khắp gian phòng khách cổ kính. Bàn thờ tổ tiên bằng gỗ mun đen bóng ngự trị uy nghiêm ở gian chính giữa, nơi đặt bài vị của ba đời gia tộc họ Trần. Khói nhang từ đêm hôm trước đã tàn từ lâu, để lại một lớp tàn hương uốn cong rủ xuống mặt lư đồng.

Tôi trèo lên chiếc ghế đẩu bằng gỗ gụ kê sát vách tường. Bàn tay tôi vươn sâu vào hốc tối nằm khuất phía sau bài vị của ông cố Trần Văn Khải. Những ngón tay tôi chạm phải một bề mặt ráp thô cứng, lạnh buốt và nhớp nháp dầu bóng. Tôi nắm chặt lấy vật thể ấy, từ từ kéo nó ra ngoài ánh sáng.

Đó là một bọc vải điều đã mục nát theo thời gian. Mở lớp vải điều ra, cuốn sách bằng da cừu đen sẫm lộ diện.

Bìa sách làm bằng da thú sần sùi, mép da quăn queo như bị lửa cào xém. Trên mặt bìa khắc bốn chữ Hán cổ sâu hoắm. Trám đầy một thứ bột màu đỏ sẫm tựa như máu khô, ghi "Phi Đầu Man Khế" - khế ước của loài quỷ đầu bay. Chỉ cần nhìn vào những nét chữ uốn lượn như những con giun đất ngoằn ngoèo ấy, lồng ngực tôi lập tức nghẹn lại, tim đập thình thịch từng hồi dồn dập. Đây chính là thứ tà thư mà mẹ tôi từng giấu giếm đọc mỗi năm một lần trước đêm Phật Đản, thứ đã biến một người phụ nữ hiền lành thành loài ác thú gieo rắc kinh hoàng cho khu chợ đêm Bến Thành.

Tôi mở từng trang sách da cừu. Bên trong vẽ chi tiết sơ đồ các đường kinh mạch của thuật ngắt đầu lìa xác, cách thức chùm nội tạng hút sinh khí từ những góc chợ tanh tưởi, và những câu bùa chú bằng thứ chữ tượng hình kỳ dị dùng để ép buộc linh hồn người kế thừa phải phục tùng tà thuật. Ở trang cuối cùng, tôi nhìn thấy tên của mẹ tôi - Trần Thị Lâm - được viết bằng mực đỏ tươi rói, và ngay bên dưới dòng tên của bà, nét bút đã bắt đầu phác thảo họ tên của tôi: "Trần Thị Yến".

Tà thuật đã chọn tôi làm vật chứa tiếp theo cho mùa trăng năm sau. Nếu mẹ tôi không gục ngã dưới ánh sáng ban mai ngày hôm nay, chỉ cần một năm nữa thôi, chính tôi sẽ là kẻ bị tà thuật bẻ gãy cổ, bay lượn trên những mái tôn khu chợ để lùng sục máu tươi của đồng loại.

Cơn giận dữ và nỗi đau đớn dâng trào trong huyết quản tôi.

"Đến đây là hết rồi." Tôi nghiến răng nói thành tiếng, giọng tôi đanh lại trong gian nhà quạnh quẽ.

Tôi bước nhanh đến bàn thờ, quẹt que diêm bốc lửa. Ngọn lửa vàng rực bén vào ba cây nhang trầm cắm sẵn trong ống sứ. Tôi cắm nhang vào lư đồng trước bài vị tổ tiên, chắp hai tay cúi đầu lạy ba lạy thật sâu:

"Tổ tiên dòng họ Trần chứng giám. Con là Trần Thị Yến, đời thứ tư mang dòng máu họ Trần trên mảnh đất này. Hôm nay, con xin mạn phép đốt bỏ tà thư, chấm dứt nghiệp chướng của gia tộc. Dù phải gánh chịu tội bất hiếu với tiền nhân hay chịu đày đọa xuống chín tầng địa ngục, con cũng xin một mình gánh hết, tuyệt đối không để tà ma tiếp tục làm hại nhân gian!"

Dứt lời, tôi chộp lấy cuốn sách da cừu, cầm ngọn đèn dầu hỏa trên bàn thờ tưới một vệt dài lên khắp các trang giấy đen đặc tà khí.

Tôi dí que diêm rực cháy vào mép bìa cuốn sách.

Ngọn lửa lập tức bùng lên thành một quả cầu lửa màu xanh lục ma quái. Khí dầu hỏa quyện với chất da thú cổ xưa phát ra tiếng nổ "lách tách" giòn giã. Từ trong ngọn lửa xanh, những âm thanh the thé như tiếng khóc rấm rứt của trẻ con và tiếng thét giận dữ của ác linh rít lên từng hồi ghê rợn. Những trang sách quăn queo lại, từng dòng chữ đỏ rực như máu sôi sùng sục rồi chuyển sang màu đen thui.

Tôi ném cuốn sách đang bốc cháy hừng hực vào chiếc chậu đồng dùng để hóa vàng mã đặt giữa sân nhà.

Khói đen cuồn cuộn bốc lên cao, mang theo mùi khét lẹt của da thịt cháy xém xua tan đi sự ẩm mốc của gian nhà cổ. Tôi đứng trơ trọi giữa sân, ánh mắt trừng trừng nhìn ngọn lửa thiêu rụi từng mảnh da cừu tà thuật. Những chữ Hán cổ, những hình vẽ ma quái ngắt đầu lìa xác lần lượt hóa thành tro bụi đen ngòm, bị cơn gió sớm cuốn tung lên không trung, bay qua mái ngói rêu phong rồi tan biến vào bầu trời Sài Gòn bao la.

Ngay khi trang sách cuối cùng cháy rụi thành một đống tàn tro vô hại, một cơn đau rát nhói buốt bất ngờ ập đến nơi cổ tay trái của tôi.

Tôi giật mình lật ngửa cẳng tay lên nhìn.

Nơi cổ tay tôi, một vết bầm đen sẫm hình năm ngón tay quỷ cào sâu vào da thịt - dấu vết mà con quái vật đã để lại trong đêm tôi chạm trán nó ở chợ đêm Bến Thành - đang rung giật liên hồi. Vết bầm ấy từng là điềm báo cho thấy tà khí đã ngấm vào tủy xương tôi, định sẵn số mệnh biến tôi thành kẻ nối dõi tà thuật Ma Lai.

Nhưng dưới ánh nắng rạng đông ấm áp đang rọi rực rỡ khắp khoảng sân nhỏ, luồng tà khí màu đen bên dưới làn da tôi bắt đầu phản ứng dữ dội.

Lớp da đen thâm tím sủi lên những bọt khí li ti, phát ra tiếng xèo xèo êm dịu. Màu đen chết chóc nhạt dần, từ tím thẫm chuyển sang màu xám tro, rồi mờ hẳn đi như một vết mực tàu bị dòng nước tinh khiết gột rửa. Từng mảng tế bào nhiễm độc bong tróc ra, rơi lả tả xuống nền gạch như lớp vảy khô của vết thương lành miệng.

Chỉ còn lại làn da trắng ngần, khỏe khoắn nguyên vẹn của một cô gái hai mươi sáu tuổi, ấm áp và căng tràn sức sống dưới ánh mặt trời rực rỡ.

Dấu ấn Ma Lai truyền đời đã biến mất hoàn toàn.

Sợi dây xích vô hình trói buộc số phận dòng họ Trần vào tà thuật đầu bay suốt gần một thế kỷ qua chính thức đứt đoạn vĩnh viễn. Không còn ai phải chịu đựng những đêm rằm tháng Tư rùng rợn, không còn ai phải thức trắng đêm canh giữ thân xác cụt đầu trong nỗi sợ hãi tột cùng.

Tôi ngửa mặt lên trời, thở hắt ra một hơi dài cay đắng. Nước mắt lại chảy tràn trên má, nhưng lần này không còn là nỗi kinh hoàng hay tuyệt vọng, mà là một sự thanh thản muộn màng dành cho người mẹ đã khuất.

Mẹ tôi đã được giải thoát. Linh hồn bà giờ đây đã tự do bay về với cõi vĩnh hằng, không còn bị giam cầm trong hình hài quái vật nhớp nháp chốn chợ đêm.

Từ phía đầu con hẻm cụt đường Nguyễn Trãi, những âm thanh quen thuộc của một ngày mới bắt đầu dội vào không gian.

Tiếng lách cách của chiếc xe hủ tiếu gõ quen thuộc đang đẩy qua gờ giảm tốc đầu hẻm. Tiếng chổi tre của bác tổ trưởng dân phòng quét rào rạt trên mặt đường nhựa, gom những mảnh giấy vụn và tàn nhang sót lại từ đêm rằm. Tiếng mấy bà, mấy cô người Hoa í ới gọi nhau đi chợ sớm bằng thứ tiếng Quảng Đông giòn giã, tiếng cười đùa râm ran của lũ trẻ chuẩn bị theo cha mẹ lên chùa thắp hương cầu an nhân dịp lễ Phật Đản.

Cuộc sống bình dị, ồn ã của khu phố cổ Chợ Lớn vẫn tiếp diễn như nó vốn có từ hàng trăm năm nay. Không ai trong con hẻm nhỏ này hay biết về cuộc giằng co sinh tử đẫm máu vừa diễn ra sau cánh cửa gỗ khép kín của ngôi nhà cổ, nơi một lời nguyền tà ma vừa bị chôn vùi mãi mãi trong ánh sáng ban mai.

Đoong...

Tiếng chuông chùa Bà Thiên Hậu lại ngân nga một hồi dài, thanh thoát và trầm hùng, ngân vang qua từng mái ngói âm dương, xua tan đi tất cả những u ám, oan khiên còn vương vất giữa cõi trần.

Tôi quay bước vào nhà, cẩn thận cài then cửa gỗ lại để bắt đầu lo liệu hậu sự cho mẹ.

Bên ngoài hiên, một làn gió sớm mang theo hương hoa lài thanh khiết thổi qua, cuốn bay những hạt tro tàn cuối cùng của cuốn sách da cừu lên nền trời xanh biếc. Nắng sớm chan hòa rải vàng trên những phiến đá rêu phong, con hẻm người Hoa lại chìm vào sự an yên vĩnh cửu sau cơn bão giông rùng rợn của mùa Phật Đản năm ấy.

Chương khác

Xem thêm