Ma Tràng - Chương 25: Rừng Bà Hơn Bình Minh Bình An

Vạt sương mù cuối cùng bám trên vách đá cửa hang từ từ tan rã khi luồng gió nam từ mé biển Bãi Thơm thổi lướt qua ngọn đồi. Gió mang theo vị chát đắng…

Nội dung chương

Vạt sương mù cuối cùng bám trên vách đá cửa hang từ từ tan rã khi luồng gió nam từ mé biển Bãi Thơm thổi lướt qua ngọn đồi.

Gió mang theo vị chát đắng quen thuộc của vỏ tràm gió và hơi mặn nồng nàn của biển khơi Phú Quốc, thổi sạch mùi khói dầu rái cùng tàn tích khét lẹt đọng lại sau trận đối đầu rạng sáng nay. Nơi thềm đá xám trơ trụi, chỗ con Hổ Tinh vừa tan thành mây khói, đám tro tàn mịn màng đã bị gió cuốn đi từng chút một, bay là đà trên mặt cỏ rồi chìm vào tầng đất mùn ẩm ướt của rừng già.

Tôi đứng tựa lưng vào mép vách đá dựng đứng, hai mắt nhắm nghiền, lồng ngực phập phồng hít từng hơi dài buốt lạnh. Cảm giác đau nhức âm ỉ từng cắn xé cơ bắp suốt ba ngày ba đêm qua đã biến mất sạch trơn. Vết cào rách toạc bên sườn phải, nơi móng vuốt quỷ quyệt của chúa sơn lâm từng cắm sâu vào da thịt, giờ chỉ còn là một vệt sẹo non màu hồng nhạt, khô ráo và không còn rỉ một giọt máu nào. Đó là dấu vết duy nhất nhắc nhở tôi nhớ về ranh giới sinh tử mà mình vừa bước qua.

Tiếng nước nhỏ giọt đều đặn từ thạch nhũ trên trần hang buông xuống, gõ nhịp lách tách vào một vũng nước trong veo dưới chân tôi.

Bên ngoài thung lũng, bóng tối của đêm thứ ba đang dần nhường chỗ cho sắc trời lam thẫm. Nền trời phía đông, nơi đường chân trời nối liền mặt biển vịnh Thái Lan với dải rừng nguyên sinh Bà Hơn, bắt đầu ửng lên một vệt sáng màu hồng đào pha cam ấm áp. Những chòm sao lấp lánh từng chứng kiến bầy Ma Tràng bay lên cõi vĩnh hằng lúc nửa đêm giờ đã lặn dần sau những rặng mây xốp trắng lững lờ trôi dạt.

Tôi mở mắt, nhìn chằm chằm vào khoảng đất trống trước mặt.

Dưới chân tôi, khẩu súng săn hai nòng nằm chỏng chơ bên mép đá. Thân súng bằng gỗ sến đỏ bóng loáng mỡ trăn qua bàn tay truyền đời của ông nội và cha tôi nay đã nứt toác một đường dài dọc theo báng súng. Nòng sắt ram đen bóng lộn từng là niềm kiêu hãnh của một tay săn thiện nghệ giờ bám đầy muội than cháy đen, rỉ sét loang lổ bởi hơi nóng của ngọn lửa thiêng.

Tôi cúi người xuống, chầm chậm nhặt món vũ khí lạnh ngắt ấy lên.

Khẩu súng này đã theo tôi suốt hơn mười năm lặn lội khắp các cánh rừng từ Hàm Ninh, Cửa Cạn cho đến tận góc rừng sâu Bà Hơn hẻo lánh này. Nó đã hạ gục hàng trăm con thú lớn nhỏ, mang về những món tiền săn bắn phi pháp để tôi trang trải cuộc sống bụi bặm và nuốt trôi những chén rượu cay xè nơi quán cóc ven biển. Nhưng cũng chính nó, trong đêm trăng non ba hôm trước, đã bắn ra phát đạn chí mạng vào đầu con hổ già, để rồi mở toang cánh cửa địa ngục, đánh thức bầy Trành ma đói khát và kéo tôi vào vòng xoáy tội lỗi kinh hoàng tưởng chừng không lối thoát.

Nghiệp sát sinh của người thợ săn nặng như tảng đá ngàn cân treo trên đỉnh đầu. Nếu đêm qua tôi mềm lòng trước lời cám dỗ của bầy ma, nếu tôi chấp nhận lừa gạt một người vô tội vào rừng để làm vật thế mạng cho bản thân, thì giờ đây linh hồn tôi cũng đã mục ruỗng, trở thành một con quỷ dữ đội lốt người trôi dạt giữa rừng hoang.

Tôi miết ngón tay chai sạn qua rãnh nứt trên thân gỗ. Mùi kim loại tanh nồng lẫn với mùi thuốc súng cháy khét xộc thẳng vào cánh mũi, gợi lại tiếng gầm rú điên loạn của ác thú và tiếng than khóc ai oán của chú Tư Hổ, chị Lụa cùng hàng chục vong linh từng quỳ rạp dưới chân tôi.

Bầy Ma Tràng đã rũ bỏ được oán niệm mà siêu thoát về cõi sáng nhờ sự lựa chọn kiên định của tôi. Nhưng phần tôi, món nợ máu đối với Mẹ Rừng nguyên sinh này vẫn chưa thể nào xóa sạch chỉ sau một đêm lửa đỏ.

- Đã đến lúc kết thúc rồi - Tôi tự nhủ bằng một giọng trầm khàn, mắt nhìn thẳng vào nòng súng đen ngòm.

Tôi xoay người, bước những bước chân chậm rãi nhưng vững chãi rời khỏi lòng hang đá. Cửa hang Bà Hơn mở ra khoảng rừng thưa ngập tràn mùi hương thảo mộc thanh sạch. Cách cửa hang chừng ba mươi bước chân, một cây gừa cổ thụ sừng sững vươn cao giữa đất trời. Bộ rễ khổng lồ của nó chằng chịt, uốn lượn như bầy trăn đá cuộn mình ôm chặt lấy khối đá tảng mẹ, cành lá sum suê đan cài thành một tán lọng xanh ngắt che rợp cả một góc rừng. Dân đi rừng Bãi Thơm xưa nay vẫn gọi gốc đại thụ này là cây Cột Buồm, coi đó là mốc ranh giới linh thiêng đánh dấu trái tim của khu rừng cấm.

Tôi tiến lại gần gốc gừa ngàn năm, dừng lại bên một khoảng đất bằng phẳng giữa hai chùm rễ nổi gồ ghề. Đất ở đây đen nhánh, xốp mềm và phủ đầy một lớp lá mục mục rữa qua năm tháng.

Tôi hít một hơi thật sâu, dồn toàn bộ sức mạnh vào hai cánh tay, nhấc bổng khẩu súng săn lên cao rồi đập mạnh báng súng xuống cạnh sắc của tảng đá hoa cương nhô ra bên gốc cây.

Rắc!

Một tiếng nứt gãy khô khốc xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai. Báng gỗ sến đỏ nứt toác làm đôi, các mảnh gỗ dăm bắn tung tóe trên thảm cỏ. Bộ phận kim hỏa và chốt khóa nòng bằng đồng văng ra xa, rơi lách cách xuống khe rễ cây.

Cơn giận dữ và quyết tâm dồn nén trong lòng bấy lâu bùng phát, tôi giẫm chân lên nòng sắt, dùng hai tay nắm chặt đầu nòng còn lại, nghiến răng bẻ cong thanh kim loại ram đen thành một góc tù quái dị. Khẩu súng kiêu hãnh từng gieo rắc cái chết khắp núi rừng Phú Quốc giờ đã biến thành một đống sắt vụn vô dụng, không còn khả năng đoạt mạng bất cứ một sinh linh nào nữa.

Tôi buông hai tay ra. Tiếng kim loại va chạm với đất đá vang lên trầm đục, như một tiếng thở phào trút bỏ gánh nặng ngàn cân đeo bám trên vai tôi suốt một đời trai trẻ.

Rút con dao găm đi rừng giắt bên hông, tôi quỳ rạp xuống nền đất ẩm ướt dưới gốc cây gừa. Lưỡi thép cắm phập vào lòng đất mùn đen. Tôi bắt đầu đào. Tôi dùng mũi dao xới tung từng lớp đất chặt, dùng hai bàn tay trần cào từng vốc đất cát lẫn lá mục sang hai bên. Đất rừng bám chặt vào từng kẽ móng tay tôi, ram ráp và lạnh buốt, nhưng tôi không dừng lại.

Tôi đào một cái hố sâu chừng ba gang tay, tròn trịa và ngay ngắn ngay giữa khoảng không gian che chắn bởi những chiếc rễ gừa cổ thụ.

Khi đáy hố đã chạm tới lớp đất sét pha sỏi mát rượi, tôi dừng tay lại. Tôi nhặt từng mảnh gỗ gãy của báng súng, nhặt từng chiếc lò xo, con ốc kim loại bị vỡ nát đặt cẩn thận xuống đáy hố. Cuối cùng, tôi cầm lấy nòng sắt bị bẻ cong, đặt nằm ngay ngắn lên trên những mảnh gỗ vụn.

Toàn bộ công cụ tội lỗi của nghiệp thợ săn đã nằm gọn dưới đáy huyệt.

Tôi ngồi quỳ trên hai gót chân, chắp hai bàn tay dính đầy bùn đất trước ngực, ngẩng mặt nhìn lên vòm lá rậm rạp của cây đại thụ. Qua những kẽ lá chằng chịt, tia nắng đầu tiên của ngày mới vừa xuyên thủng màn sương sớm, rọi xuống một vệt sáng vàng óng ả, lung linh tựa như một sợi chỉ vàng kết nối đất trời.

- Thưa Thần Rừng Bà Hơn... Thưa anh linh đất Bãi Thơm - Tôi cất lời, giọng dõng dạc và rành rọt từng tiếng một - Con là Võ Văn Tài, ba mươi hai tuổi, sinh sống tại đảo Phú Quốc này. Bao năm qua con u mê tăm tối, cậy sức cậy súng mà tàn sát muông thú, làm hoen ố sự thanh tịnh của chốn rừng thiêng. Đêm nay, trước anh linh của muôn loài và sự chứng giám của bầy Ma Tràng vừa được siêu sinh, con xin dứt bỏ hoàn toàn nghiệp sát sinh.

Tôi cúi gập người xuống, trán chạm sát mép đất mùn ẩm ướt.

- Khẩu súng này, con xin vùi sâu dưới cội rễ đại thụ, vĩnh viễn không bao giờ cầm lại vũ khí giết chóc. Phần đời còn lại của con, con xin dâng trọn cho rừng già. Con nguyện làm một người gác rừng vô danh, đi tuần từng tấc đất, bảo vệ từng nhành cây ngọn cỏ, chuộc lại nợ máu mà con đã gây ra cho mảnh đất này. Nếu con bội ước, xin trời tru đất diệt.

Lời thề vừa dứt, một cơn gió sớm ào qua vòm lá gừa, tạo nên những tiếng xào xạc rì rào như một lời chuẩn thuận trầm hùng của đại ngàn.

Tôi ngồi thẳng dậy, dùng hai tay vun từng vốc đất đen lấp kín chiếc hố. Tôi nén đất thật chặt, phủ lên trên một lớp lá mục dày để ngụy trang, xóa đi mọi dấu vết nhân tạo giữa chốn rừng sâu nguyên sinh. Đống sắt thép giết chóc giờ đây đã vĩnh viễn nằm sâu trong lòng đất mẹ, để rỉ sét và thời gian phân hủy nó thành cát bụi hư vô.

Đúng lúc tôi vừa phủi sạch lớp đất bám trên lòng bàn tay, một hiện tượng lạ lùng diễn ra ngay trước mắt tôi.

Tia nắng mặt trời rọi thẳng vào chính giữa mô đất tôi vừa vun lại. Dưới sức ấm dịu dàng của ánh quang ban mai, lớp đất mùn bỗng cựa mình nhè nhẹ. Một hạt mầm vốn nằm ngủ vùi trong lòng đất sâu bỗng tách vỏ, đội lớp đất mùn trồi lên trên mặt phẳng.

Một mầm cây non xanh biếc, mỡ màng như ngọc bích nhú lên khỏi mặt đất, vươn thẳng hai chiếc lá mầm bé xíu đón lấy giọt nắng vàng ươm. Hai lá mầm khẽ rung rinh trong ngọn gió nam thoang thoảng, tràn trề nhựa sống non tơ của một sự khởi đầu mới mẻ.

Tôi sững sờ nhìn mầm cây non.

Nơi vừa chôn vùi một công cụ của cái chết và sự hủy diệt, sự sống mới lại lập tức đâm chồi nảy lộc. Đó không phải là ảo giác, mà là món quà tha thứ bao dung tuyệt đối của Mẹ Rừng nguyên sinh dành cho kẻ biết quay đầu hối lỗi. Sự sống đã nảy mầm từ chính nơi tội lỗi bị chôn vùi.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má sạm đen vì sương gió của tôi, rơi trúng vào kẽ đất ngay cạnh mầm cây non.

Ngay lúc ấy, từ trên ngọn cây bằng lăng cổ thụ phía xa, một con chim chích chòe lửa cất tiếng hót lảnh lót đầu tiên. Tiếng hót trong veo như giọt nước rơi trên phiến đá, vang vọng khắp thung lũng Bà Hơn tĩnh lặng. Tiếp theo đó, đàn chim cu rừng, chim vẹt xanh và lũ sơn ca đồng loạt hòa giọng, tạo nên một bản hòa ca rộn rã, tưng bừng khắp các tầng tán lá. Tiếng suối róc rách chảy xiết dưới chân đồi, tiếng lá tràm xào xạc theo từng đợt gió sớm, tất cả quyện lại thành thanh âm nguyên sơ, tráng lệ của một vùng đất sinh quyển vừa được phục sinh sau cơn ác mộng dài.

Tôi đứng bật dậy, hít ngực lấp đầy không khí. Không khí của rừng Bãi Thơm ban mai ngọt ngào và thanh khiết vô ngần. Ba đêm mất ngủ triền miên với những bóng ma rình rập, những ánh mắt đỏ ngầu của dã thú và những tiếng rên rỉ đòi mạng đã hoàn toàn lùi xa vào quá khứ.

Tôi quay lại cửa hang, thu dọn chiếc ba lô sờn cũ. Tôi gom hết những vỏ chai dầu rái, những mẩu dây thừng và tàn tích của trận chiến đêm qua nhét vào bao tải để mang ra khỏi rừng, trả lại vẻ hoang sơ vốn có cho hang đá thiêng. Con dao găm đi rừng được tôi tra vào vỏ da bên hông. Từ nay về sau, lưỡi dao ấy sẽ chỉ dùng để phát quang những cành gai chắn lối mòn đi tuần tra, để cứu những con thú nhỏ không may mắc bẫy của những kẻ săn trộm vô lương tri khác.

Tôi khoác chiếc ba lô nhẹ bẫng lên vai, sải bước chân vững chãi rời khỏi khoảng rừng thưa.

Rừng Bà Hơn mở ra trước mắt tôi một lối đi ngập tràn ánh nắng. Những thân tràm thẳng tắp vươn lên nền trời xanh ngắt, rêu xanh phủ kín những tảng đá hoa cương hai bên lối mòn nhỏ dẫn về phía biển. Mỗi bước chân tôi giẫm trên thảm lá khô đều phát ra những tiếng lạo xạo vui tai, không còn cảm giác rờn rợn của những bước chân ma trành bám đuổi sau lưng như những ngày trước.

Đi được chừng hơn một cây số, tôi bước ra khỏi vạt rừng nguyên sinh rậm rạp, đứng trên một mỏm đồi thoai thoải nhìn xuống bờ biển Bãi Thơm.

Mặt biển Phú Quốc trải dài mênh mông dưới ánh bình minh rực rỡ, lấp lánh muôn ngàn vảy bạc chuyển động theo từng đợt sóng vỗ bờ cát trắng. Xa xa ngoài khơi, vài chiếc thuyền đánh cá của ngư dân địa phương đang nhấp nhô buông lưới, những cánh buồm nâu no gió lướt đi thanh thản trên mặt nước trong xanh. Khói bếp từ những mái nhà lá đơn sơ ven chân sóng bắt đầu bốc lên, hòa vào làn sương sớm mỏng manh, mang lại hơi ấm thân thương của cõi trần thế.

Tôi đứng sừng sững trên đỉnh đồi lộng gió, đón nhận luồng ánh sáng mặt trời chan hòa rọi thẳng vào gương mặt mình.

Cơn ác mộng Ma Tràng đã khép lại. Chúa sơn lâm đã về với cát bụi, những linh hồn phiêu bạt đã tìm được lối siêu thoát, và người thợ săn mang tội đã tìm lại được linh hồn của chính mình.

Tôi mỉm cười, một nụ cười thanh thản đã vắng bóng suốt bao năm qua trên gương mặt phong trần. Tôi bước xuống triền dốc thoai thoải, hướng về phía ánh sáng rực rỡ của biển cả và ngôi làng nhỏ thân thương, chuẩn bị gõ cửa trạm kiểm lâm để bắt đầu một ngày mới, một cuộc đời hoàn toàn mới.

Chương khác

Xem thêm