Ngậm Ngải Tìm Trầm - Chương 1: Lời Thề Trước Bàn Thờ Rừng
Mưa tháng Năm ở vùng rừng giáp ranh giữa Khánh Sơn và đại ngàn Tây Nguyên trút xuống không dứt hột, quất từng luồng trắng xóa qua vòm lá rậm rịt của…
Nội dung chương
Mưa tháng Năm ở vùng rừng giáp ranh giữa Khánh Sơn và đại ngàn Tây Nguyên trút xuống không dứt hột, quất từng luồng trắng xóa qua vòm lá rậm rịt của những cây kiền kiền cổ thụ. Dưới mái hiên mục nát của ngôi miếu Bà Chúa Ngọc bỏ hoang bên bờ khe cạn, hơi ẩm bốc lên từ lớp thảm mục dày nửa gang tay, mang theo mùi ngai ngái nồng nặc của nấm độc và đất úng thủy.
Đinh Văn Phúc ngồi xổm trên một phiến đá xanh đã nứt toác, hai bàn tay thô ráp áp chặt vào hai bên thái dương. Đầu ngón tay anh chai sần vì mười hai năm cầm rựa bạt rừng, nhưng lúc này mười đầu ngón tay đều run rẩy khẽ khàng. Trong túi áo ngực bằng vải bạt quân nhu đã ngả màu úa vàng, tờ giấy nợ của tiệm cầm đồ ngoài thị trấn ép sát vào lồng ngực anh. Con số năm mươi triệu đồng tiền gốc cùng khoản lãi mẹ đẻ lãi con đang chực nuốt chửng căn nhà vách ván của ba mẹ con ở xóm trại. Đứa con gái út bốn tuổi thở rít từng cơn vì chứng hen suyễn bẩm sinh, mỗi cữ thuốc là một lần Phúc phải cúi đầu đi vay mượn từng đồng bạc lẻ.
Chuyến điệu này là đường cùng. Không kiếm được trầm rục hay một dăm kỳ nam mang về, khi trở ra Phúc sẽ mất trắng cả mái nhà lẫn cái danh thợ trầm có tiếng đất Khánh Hòa.
- Uống ngụm nước lá cho ấm bụng đi Phúc. Lát nữa ngậm đồ vào rồi là tuyệt đối cấm nuốt nước bọt bừa bãi.
Tiếng nói khàn đục của ông Bảy Quỳ kéo Phúc giật mình quay lại. Ông Bảy đã ngoài sáu mươi tuổi, lưng còng rạp xuống vì cả đời mang gùi luồn rừng, hai khóe mắt sâu hoắm lẩn khuất dưới đôi chân mày bạc phơ rậm rạp. Bảy Quỳ là thợ già cỗi nhất vùng, người duy nhất trong hạt còn nắm giữ đúng bài phép tôi ngải của các bậc tiền bối truyền lại từ thời phong kiến, khi phu trầm còn phải nộp cống phẩm lên dinh trấn.
Trước mặt hai người, năm phu trầm còn lại đang ngồi co ro thành một vòng tròn quanh khoảng sân gạch vỡ nát trước bệ thờ. Cường, đứa em họ mới hai mươi mốt tuổi của Phúc, đang sốt ruột lấy dao găm gọt một thanh tre khô. Cạnh đó là Thoan, người đàn ông lầm lì chuyên đi tiền trạm phạt gai mở lối; Hiển, bạn đồng niên cùng làng phụ trách việc gùi lương thảo; Toàn, gã thợ trẻ to con nhưng nhát gan; và Kha, tay thợ săn bản địa thông thạo từng hốc đá khe suối của dãy núi mẹ. Bảy con người, bảy chiếc gùi đan bằng mây rừng trét kín sáp ong chống nước, tạo thành một đội điệu trầm đầy đủ lệ bộ chuẩn bị dấn thân vào vùng lõm rừng nguyên sinh.
- Đã đến giờ ngọ ba khắc, mưa bắt đầu nặng hạt hơn rồi - Ông Bảy Quỳ đặt một chiếc tráp gỗ mun nhỏ bọc vải điều đỏ lên bệ thờ miếu Bà - Cả bọn lại đây, lạy tạ Thánh Mẫu Thiên Y A Na xin vía qua cửa rừng.
Bảy người đàn ông nhất loạt quỳ sụp xuống nền đất nhớp nháp bùn và tro mục. Ngôi miếu cổ không còn tượng thờ nguyên vẹn, trên bệ thờ đá xanh chỉ còn lại một phiến đá tạc hình người phụ nữ không rõ mặt mũi, hai bên rêu phong bám dày như vạt áo choàng xanh thẫm. Phúc quỳ ở vị trí đầu đàn, hai tay dâng ba nén nhang thảo mộc đã ẩm khói. Mùi trầm mắt tử cháy le lói tỏa ra hương ngọt dịu, đối chọi gay gắt với mùi xú khí ẩm thấp của vũng nước đọng gần đó.
Bảy Quỳ mở nắp tráp gỗ mun.
Bên trong không có vàng ngọc hay bùa chú hoa mỹ. Nằm gọn trên lớp tro rơm nếp mịn như bột là bảy củ cây nhỏ bằng đốt ngón tay cái, thân vỏ màu nâu xám xịt, nhăn nheo co quắp hệt như những khớp ngón tay của người chết khô dưới đáy huyệt. Mỗi củ ngải đều có ba chiếc rễ con xoắn bện vào nhau quăn queo, ở phần đầu củ lộ ra một mầm mắt màu đỏ thẫm đùng đục, trông giống như một giọt máu khô đọng lại qua nhiều năm tháng.
- Ngải này là ngải Trầm Mẫu - Giọng Bảy Quỳ trầm thấp, đều đặn át cả tiếng mưa gầm rú trên tán rừng - Các bậc tiền nhân lấy giống từ đỉnh Hòn Bà, nuôi trong hũ tro cốt trinh nữ suốt ba năm ròng rã. Nó cho ta sức mạnh để nhịn ăn nhịn uống mười lăm ngày ròng rã, đi qua vùng thung lũng chết mà không ngã nước, không trúng chướng khí độc rừng sâu. Nhưng ngải có tính thiêng, nó ăn lộc rừng và uống chân khí của kẻ ngậm.
Bảy Quỳ dừng lại, ánh mắt đục ngầu quét qua từng gương mặt đang tái nhợt vì căng thẳng:
- Một khi đã ngậm củ ngải này dưới gốc lưỡi, trong bụng các chú chỉ được có lòng thành kính với Bà Chúa Ngọc. Gặp trầm, dù là trầm mắt tử hay kỳ nam tiền tỷ, đều là của chung cả đoàn điệu, trở về làng mới được phân chia công bằng theo từng phần công sức. Ai mang lòng tham giấu của riêng, ai khởi tâm gian tà tước đoạt phần của đồng đội, rễ ngải sẽ cắn ngược vào cuống họng. Lúc ấy, thần rừng giữ xác, ngải mọc thành cây, vĩnh viễn không có ngày bước chân ra khỏi bìa rừng. Các chú nghe rõ chưa?
- Nghe rõ! - Cả sáu người đồng thanh đáp, giọng rền vang dưới mái hiên xiêu vẹo.
Phúc nuốt một ngụm nước bọt khan đắng. Lời răn của thợ trầm xưa nay anh nghe mòn tai qua những đêm ngồi bên bếp lửa làng, nhưng khi nhìn vào những củ ngải quắt queo trong lòng tráp, một cảm giác lành lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên gáy. Trong tâm can anh, hình ảnh món nợ ngập đầu và gương mặt hốc hác của đứa con gái lại hiện về, nhức nhối như một vết loét chưa lành. Phúc cắn chặt môi dưới, tự dặn lòng phải giữ cho tâm tính phẳng lặng như mặt nước giếng khơi.
Bảy Quỳ lấy một chiếc kim đồng nhọn hoắt, lần lượt nắm lấy bàn tay trái của từng người.
Phúc là người đầu tiên đưa ngón tay trỏ ra. Mũi kim lạnh buốt đâm phập vào đầu ngón tay anh. Một giọt máu đỏ tươi tròn vo trồi lên. Bảy Quỳ ghì chặt tay Phúc, nhỏ giọt máu ấy thẳng vào mầm mắt màu đỏ thẫm của củ ngải đầu tiên nằm trong tráp.
Ngay khi giọt máu nóng chạm vào lớp vỏ xám xịt khô khốc, mẩu rễ quăn queo khẽ run lên một cái rất nhẹ. Mầm mắt đỏ thẫm hút trọn giọt máu tươi trong chớp mắt, vỏ ngoài củ ngải căng phồng lên đôi chút, chuyển sang sắc nâu ánh tím sẫm. Bảy Quỳ dùng hai ngón tay kẹp lấy củ ngải, kính cẩn nâng qua đầu lạy ba lạy trước phiến đá miếu Bà, rồi trao tận tay Phúc.
- Đặt dưới cuống lưỡi. Ngậm chặt, không cắn, không nuốt. Dùng nước miếng mà nuôi nó, nó sẽ phả hơi ấm giữ cho tạng phủ không bị khí độc xâm lấn - Bảy Quỳ dặn dò rành rọt.
Phúc nhận lấy củ ngải. Lớp vỏ bên ngoài ram ráp, gai góc như da cóc rừng, tỏa ra một mùi nồng hắc pha lẫn vị đắng ngắt xộc thẳng lên mũi. Anh mở miệng, cong đầu lưỡi lên rồi cẩn thận nhét mẩu củ khô vào khoang hõm dưới gốc lưỡi, sau đó hạ lưỡi xuống đè chặt lại.
Vị the buốt bùng nổ tức thì. Cảm giác như có một khối than hồng tí hon đang âm ỉ tỏa nhiệt ngay trong vòm họng. Chất nhựa đắng ngắt tiết ra từ lớp rễ khô ngấm dần vào từng mạch máu nhỏ li ti dưới lưỡi, làm cho hai bên quai hàm của Phúc tê dại đi trong nháy mắt. Cảm giác cồn cào nơi dạ dày vốn đã rỗng tuếch từ sáng sớm bỗng nhiên dịu hẳn xuống, thay vào đó là một luồng khí nóng ẩm lan dần xuống ngực, làm ấm lại các khớp xương đang run rẩy vì hơi ẩm rừng mưa.
Lần lượt sáu người còn lại đều hoàn thành nghi thức rỏ máu ngậm ngải. Cường nhăn mặt khẽ rên một tiếng vì vị đắng xé họng, nhưng cậu nhanh chóng ngậm chặt miệng khi bắt gặp cái nhìn nghiêm khắc của Bảy Quỳ. Cả nhóm đứng dậy, chỉnh đốn lại dây gùi trên vai, tay cầm chắc rựa bạt và gậy chống rừng.
Mưa rừng vẫn xối xả đập vào vòm cây rậm rạp phía trước, tạo nên những âm thanh hỗn loạn như tiếng muôn ngàn bước chân đang rượt đuổi nhau trên tán lá. Bìa rừng nguyên sinh hiện ra như một cái miệng khổng lồ đen ngòm mở toang, bên trong chìm ngập trong màn sương lam dày đặc cuộn tròn theo từng đợt gió rít. Đó là vùng lõm chưa từng có dấu vết canh tác hay khai thác gỗ của con người, nơi chỉ có những thợ điệu trầm liều mạng mới dám đặt chân tới để tìm kiếm những thân dó bầu mục nát tích tụ hương trời qua hàng trăm năm.
- Đi! - Phúc gằn giọng qua kẽ răng, cẩn thận không để động chạm mạnh vào dị vật dưới cuống lưỡi.
Anh xoay người bước những bước đầu tiên vượt qua gờ đá ranh giới của ngôi miếu cổ, tiến thẳng vào con đường mòn phủ kín rễ cây trơn trượt. Thoan bám sát ngay phía sau, tay vung rựa chặt đứt những sợi dây leo gai góc rủ xuống chắn ngang tầm mắt. Năm người còn lại lầm lũi nối đuôi nhau theo hàng một, giữ khoảng cách đều đặn đúng một sải tay để không ai bị tụt lại phía sau trong màn sương mù mịt.
Dưới đế giày vải tẩm sáp của Phúc, lớp lá mục lún sâu xuống phát ra những tiếng lép bép nặng nề. Mùi thối rữa của thực vật hoai mục xông lên nồng nặc, xen lẫn với mùi ngai ngái của nọc vắt và da ếch nhái. Nhưng nhờ có luồng nhiệt ấm nóng không ngừng tỏa ra từ củ ngải dưới cuống lưỡi, lồng ngực Phúc vẫn giữ được nhịp thở đều đặn, không hề có dấu hiệu ngột ngạt hay tức nghẽn trước thứ lam sơn chướng khí độc hại của rừng sâu.
Họ đi sâu vào trong lòng thung lũng khoảng hơn một giờ đồng hồ. Ánh sáng le lói của buổi trưa hoàn toàn biến mất sau tầng tầng lớp lớp tán lá ken dày như nắp cống. Mọi thứ xung quanh chìm vào một màu xanh thẫm ảm đạm, nhạt nhòa trong hơi nước bốc lên từ các khe suối ngầm dưới lòng đất.
Phúc bước đi đều bước, mắt dán chặt vào từng gốc cây bên đường để nhận diện dấu vết của loài dó bầu. Những cây dó có trầm thường mang thân hình còi cọc, vỏ xám xịt nứt nẻ hoặc bị sét đánh toác một bên, nơi vết thương tiết ra lớp nhựa thơm đặc quánh qua nhiều thập kỷ để tự chữa lành. Nhưng suốt chặng đường đầu tiên này, chỉ có những thân kiền kiền thẳng đuột và những bụi le rậm rạp chằng chịt gai nhọn cào rách cả ống quần bạt.
Bất chợt, Phúc khựng lại.
Dưới gốc lưỡi anh, mẩu củ ngải quắt queo vừa có một chuyển động rất khẽ. Không phải do nước bọt đẩy đưa, cũng không phải do chấn động từ bước chân. Đó là một cảm giác co thắt cơ học rõ ràng, giống như những sợi rễ con khô khốc ban nãy vừa mới duỗi thẳng ra một phần mười mi-li-mét, cọ xát nhè nhẹ vào lớp niêm mạc mỏng manh dưới hàm dưới của anh.
Cơn đau nhói lướt qua làm Phúc giật thót mình, đưa tay lên ôm lấy cổ họng.
- Sao vậy anh Phúc? Thấy dấu gì à? - Cường bước dồn lên từ phía sau, thì thào hỏi dồn, hơi thở đượm mùi the nồng của nhựa ngải.
Phúc lắc đầu thật mạnh, cố nén cảm giác buồn nôn đang dâng lên từ thực quản. Anh dùng đầu lưỡi ấn mạnh củ ngải xuống đáy khoang miệng, cố ghìm nó nằm yên một chỗ. Vị chát đắng lúc này dường như đã biến đổi, lẫn vào trong dịch vị một thứ mùi ngai ngái quen thuộc, giống hệt mùi đất ải sau cơn mưa đầu mùa trộn lẫn với mùi máu tanh nhàn nhạt.
Bảy Quỳ từ phía sau bước vượt lên ngang hàng với Phúc, đôi mắt già nua liếc nhìn cơ hàm đang căng cứng của người dẫn đoàn. Ông Bảy không nói một lời nào, chỉ khẽ vỗ mạnh vào bả vai Phúc hai cái, bàn tay gầy guộc lạnh ngắt như đá suối mùa đông. Đôi mắt thợ già chứa đựng một sự cảnh báo câm lặng, nhắc nhở về món nợ máu đã ký kết với thần rừng nơi miếu cổ.
Phúc hít một hơi thật sâu qua kẽ răng, luồng không khí ẩm ướt lùa vào làm rát buốt vòm họng. Anh ngước mắt nhìn lên phía trước, nơi con đường mòn biến mất vào một khe núi hẹp kẹp giữa hai vách đá dựng đứng phủ đầy rêu đen. Phía bên kia khe núi, bóng tối của vùng đại ngàn sâu thẳm đang chờ đón bảy kẻ ngậm ngải, với những quy luật khắc nghiệt không chừa đường sống cho bất kỳ kẻ nào mang lòng phản trắc. Anh siết chặt cán rựa trong tay, cất bước đi tiếp vào màn mưa mịt mù đang đổ xuống rát mặt.