Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 1: Vạc Dầu Bát Tràng Lúc Nửa Đêm

Tháng năm niên hiệu Thiệu Phong thứ tám, trời đất phương Bắc không ban xuống lấy một giọt mưa. Nắng lửa trút xuống dải đất ven sông Hồng ròng rã suốt ba…

Nội dung chương

Tháng năm niên hiệu Thiệu Phong thứ tám, trời đất phương Bắc không ban xuống lấy một giọt mưa. Nắng lửa trút xuống dải đất ven sông Hồng ròng rã suốt ba mùa lúa, hun đốt bờ bãi thành những dải đất xám ngoét, nứt toác tựa mai rùa khổng lồ phơi xác bên đầm lầy.

Tôi cưỡi con ngựa già bước đi nặng nhọc trên con đường thiên lý dẫn vào làng Bát Tràng thuộc huyện Đông Hà, phủ Bắc Hà. Tấm áo quan ngũ phẩm sắc xanh thẫm ướt đẫm mồ hôi rồi lại bị ngọn gió nam khô khốc hong khô, muối bám thành từng vệt trắng bợt nơi sống lưng. Ở tuổi bốn mươi lăm, kinh qua bao phen lận đận chốn quan trường, tôi từng chứng kiến giặc giã cướp bóc, từng thấy cảnh binh đao đầu rơi máu chảy, nhưng chưa bao giờ thấy cảnh trời hành nghiệt ngã đến bực này. Triều đình dưới sự trị vì của đức vua Dụ Tông sa vào yến tiệc cung đình, tấu chương xin cứu đói từ các lộ dồn về như tuyết rơi giữa mùa đông mà chiếu chỉ ban xuống chậm trễ, lương thảo trích từ kho lẫm chẳng thấm vào đâu so với hàng vạn miệng ăn đang ngắc ngoải. Đợt này, phụng mệnh Thượng thư sảnh mang theo mười cỗ xe thóc cùng hai mươi lính hộ vệ về Đông Hà làm việc cứu tế, gánh nặng trên vai tôi nặng trĩu tựa đá tảng.

Tiếng vó ngựa gõ lộc cộc trên nền đất rắn như đanh. Hai bên vệ đường, những rặng tre ngả màu vàng vọt, lá khô rụng trơ cành, xào xạc rên rỉ mỗi khi có luồng gió nóng quét qua. Thấp thoáng sau những bờ rào đổ nát là những mái tranh rách bươm, xơ xác không một làn khói bếp. Không có tiếng gà gáy, không có bóng dáng một con chó gầy chạy rông. Động vật nuôi trong làng đã bị giết thịt từ năm ngoái, hoặc chính chúng cũng chết khát trong những ngày nắng thiêu đốt ruột gan.

- Quan bác, phía trước là đầm Bát Tràng rồi.

Tiếng của viên sai nha Đỗ Khang vang lên bên tai, giọng khản đặc sau nhiều ngày nuốt bụi đường. Hắn giơ cánh tay áo rách chỉ về phía khoảng không mênh mông trũng xuống ở mạn đông ngôi làng.

Tôi gò dây cương, ngẩng đầu nhìn lại. Ký ức mười lăm năm trước khi tôi còn làm quan giám sát ngang qua chốn này hiện về rõ rệt. Khi ấy, đầm Bát Tràng là một vùng nước sâu thẳm, quanh năm biếc xanh, cá tôm quẫy đuôi đặc bến. Dân Bát Tràng không chỉ giỏi nghề nung gốm danh tiếng khắp xứ Đại La mà còn sống nhờ vào nguồn thủy sản dồi dào của lòng đầm. Nước đầm mát lành dẫn vào từng chân ruộng, nuôi nấng những bãi dâu xanh mướt mải bờ sông.

Bây giờ hiện ra trước mắt tôi là một lòng chảo tử khí ngút ngàn. Mặt đầm rộng hàng trăm mẫu cạn kiệt đến trơ đáy. Lớp bùn tích tụ ngàn năm phơi mình dưới nắng quái, nứt thành từng rãnh sâu hoắm, đen sì và khô quắt như than củi. Những chiếc thuyền chài mục nát nằm nghiêng ngả trên cồn đất nẻ, bộ khung gỗ chĩa lên trời như xương sườn của những con quái vật thời hồng hoang chết rũ. Mùi tanh nồng của bùn chết lẫn với tử khí súc vật bốc lên ngột ngạt, quánh lại trong không gian ngột ngạt.

Đoàn xe cứu tế vừa dừng lại đầu đình làng Bát Tràng, tiếng chân người dồn dập đã vang lên từ khắp các ngõ ngách.

Hàng trăm bóng người xiêu vẹo túa ra. Họ không chạy nổi, chỉ có thể lê lết từng bước chân run rẩy. Những thân hình gầy trơ xương bọc trong những mảnh giẻ rách vá chằng vá đụp. Hốc mắt ai nấy trũng sâu, đôi môi khô nứt toác rớm máu tươi, cổ họng phát ra những âm thanh the thé vô vọng. Họ giơ những đôi bàn tay gầy guộc như cành củi khô hướng về phía đoàn xe lương thực, nhưng điều kỳ lạ là trong ánh mắt đói khát cùng cực kia, thứ họ khao khát nhất không nằm ở những bao thóc trói chặt trên lưng ngựa.

- Nước... cho xin một ngụm nước...

- Lạy quan lớn... xin ngài rủ lòng thương cho một gáo nước cứu lấy con tôi...

Tiếng van xin thảm thiết dội vào màng nhĩ tôi từng hồi buốt nhói. Người ta có thể nhịn ăn nửa tháng, nhưng ba ngày không một giọt nước vào cổ họng giữa cái nắng như thiêu này, sinh mạng con người mỏng manh hơn cả xác ve sầu.

Lý trưởng Bát Tràng tên là Trịnh Cửu, dẫn theo mấy tuần đinh xiêu vẹo chạy ra đón. Bộ áo the đen của lão rách tơi tả, lưng còng rạp xuống đất, trán đập mạnh xuống nền gạch nứt nẻ trước mũi giày tôi:

- Khởi bẩm quan khâm phái... Dân làng Bát Tràng đội ơn triều đình rủ lòng thương xót. Nhưng... khốn nạn thay quan lớn ơi, đầm cạn sạch rồi, giếng làng đào sâu ba mươi thước đất vẫn cứng quắt như đá gan gà. Dân chúng tôi ba ngày nay không có giọt nước tẩm môi, thóc gạo mang về cũng chẳng có nước mà nấu cháo...

Tôi bước xuống ngựa, tự tay đỡ Trịnh Cửu đứng dậy. Bàn tay lão già run rẩy, lớp da mu bàn tay nhăn nheo, khô khốc ráp rạp tựa vỏ cây tràm. Nhìn quanh sân đình, những đứa trẻ nằm thoi thóp trên tay mẹ, mắt nhắm nghiền, da dẻ xám xịt vì kiệt nước. Cảnh tượng tang thương khiến lồng ngực tôi thắt lại. Cứu tế ba năm ròng rã, triều đình trích bạc, chuyển lương, nhưng ông trời đã khép chặt then mây thì sức người biết chống chọi thế nào?

- Trịnh lý trưởng, lập tức phân công tuần đinh dỡ thóc xuống kho đình, cắt cử người canh gác cẩn mật. Đỗ Khang, mang bầu nước lớn trên xe của ta chia cho những người già và trẻ nhỏ trước, mỗi người một nắp nhỏ làm ướt môi. Tuyệt đối không được tranh giành hỗn loạn.

Tôi cất giọng dõng dạc trấn an đám đông, cố xua đi bầu không khí tuyệt vọng đang bao trùm. Đỗ Khang cùng toán lính dạ ran một tiếng, bắt đầu tháo những thùng nước dự trữ mang theo từ phủ Bắc Hà. Tiếng người xô đẩy, tiếng khóc nghẹn ngào vang lên thành một mớ âm thanh hỗn loạn, đau đớn đến xé lòng.

Trong lúc đám đông nhốn nháo vây quanh cỗ xe nước, ánh mắt tôi vô tình quét qua mé bến đầm cũ cách sân đình chừng mươi trượng.

Nơi bóng râm hiếm hoi dưới gốc đa cổ thụ đã rụng trơ trụi cành, có một bóng người đang ngồi thụp bên cạnh một đứa bé ngất lịm.

Đó là một thanh niên trạc hai mươi tư tuổi, khoác trên mình bộ trường bào vải thô màu xanh nhạt. Tấm áo tuy đã giặt đến bạc màu nơi cổ áo và cổ tay nhưng sạch sẽ tinh tươm, phẳng phiu đến kỳ lạ giữa chốn bùn đất nhếch nhác này. Mái tóc đen nhánh của chàng dài quá vai, không búi củ hành như phần lớn đàn ông trong làng mà dùng một dải vải xanh buộc hờ hững phía sau lưng. Dáng ngồi thẳng thớm, toát lên phong thái của một nho sinh đọc sách thánh hiền, tĩnh lặng tuyệt đối giữa cơn bão loạn của nạn đói.

Chàng trai đang cẩn thận dùng một chiếc khăn vải ướt lau trán cho đứa trẻ chừng năm tuổi. Đứa bé da dẻ đỏ bừng vì chứng sốc nhiệt, hơi thở hắt ra đứt quãng.

Tôi bước lại gần, chân dẫm lên lớp đất nứt nẻ lạo xạo.

Càng đến gần người thanh niên, một cảm giác kỳ dị ập đến bao trùm lấy giác quan của tôi. Cái nóng rát bỏng của buổi trưa hè dường như chững lại quanh bán kính vài thước nơi chàng trai ngồi. Một làn hơi mát mẻ, ngai ngái mùi nước đầm, mùi bùn non phù sa cổ xưa phảng phất bay trong không khí khô nung. Mùi hương ấy không hề giống mùi bùn thối rữa dưới lòng đầm chết ngoài kia, mà thanh khiết, trong lành, tựa hồ hơi nước bốc lên từ một mạch nước ngầm sâu thẳm nằm cách mặt đất hàng trăm trượng.

- Cứu... cứu cháu tôi với...

Người đàn bà gầy guộc ngồi bên cạnh, hẳn là bà nội của đứa trẻ, đang chắp tay lạy lục người thanh niên trong tiếng nấc nghẹn ngào.

Chàng trai ngẩng mặt lên. Tôi thoáng sững sờ trước dung mạo của chàng. Gương mặt thanh tú, nước da trắng xanh xao không vương một giọt mồ hôi giữa trời nắng gắt. Đôi mắt chàng sâu thẳm, đen lay láy, thăm thẳm hun hút như đáy nước ngàn năm không thấy đáy. Đáy mắt ấy chứa đựng nỗi u uất trầm luân, một nỗi bi thương khôn cùng khi nhìn đứa trẻ đang thoi thóp. Giọng chàng cất lên trầm ấm, vang vọng nhè nhẹ tựa tiếng suối ngầm róc rách chảy qua khe đá:

- Bà cụ bình tâm. Cháu bé chỉ bị hỏa khí bốc lên xâm nhập phế phủ. Thấm chút ẩm mát vào huyệt nhân trung sẽ hồi lại.

Chàng lấy chiếc khăn ướt, nhẹ nhàng ấn vào môi đứa bé. Tôi nhìn kỹ chiếc khăn vải trong tay chàng. Khăn ướt đẫm nước. Giữa lúc cả làng Bát Tràng không đào đâu ra một giọt nước uống, chàng lấy đâu ra tấm khăn ướt sũng thế này?

Tôi tháo bầu rượu bằng da dê đeo bên hông mình, bên trong còn lưng lửng nước ngọt lấy từ giếng đá phủ Bắc Hà trước khi lên đường, bước tới gần chìa ra:

- Đỡ lấy. Dùng nước này cho đứa nhỏ uống một ngụm. Đừng để nó kiệt sức.

Chàng thanh niên quay đầu lại nhìn tôi. Đôi mắt sâu thẳm ấy lướt qua bộ quan phục năm phẩm rồi dừng lại trên khuôn mặt đầy bụi đường của tôi. Chàng đứng dậy, chắp tay cúi đầu thi lễ đúng phép tắc của kẻ sĩ:

- Thảo dân Lục Hải Thụy, kính bái quan lớn. Cảm tạ lòng nhân từ của ngài.

Khi Hải Thụy đưa hai tay đón lấy bầu da từ tay tôi, ngón tay chàng vô tình chạm vào mu bàn tay tôi.

Một luồng khí lạnh buốt thấu xương lập tức truyền thẳng qua lớp da thịt tôi.

Cái lạnh không phải là sự mát mẻ của nước giếng ngày hè, mà lạnh ngắt, tê tái như chạm vào tảng băng ngàn năm vớt lên từ vực sâu không đáy. Da tay chàng mềm mại, ẩm ướt, lạnh buốt đến mức khiến tôi giật thót mình, suýt nữa đánh rơi bầu da dê xuống đất.

Tôi trừng mắt nhìn chàng, trong lòng dâng lên nỗi nghi hoặc kinh người. Giữa trưa hè tháng năm đất trời nung nấu, người phàm trần làm sao có thể giữ được thân nhiệt giá buốt đến bực này? Thậm chí trên vạt áo thô của chàng, làn hơi ẩm mỏng manh vẫn đang bốc lên, mang theo mùi tanh nồng ngai ngái của phù sa đáy đầm.

Hải Thụy thu tay lại rất nhanh, vạt áo rủ xuống che khuất những ngón tay dài tái nhợt. Khuôn mặt chàng không đổi sắc, chỉ có khóe môi khẽ mím lại, đôi mắt đen nhìn tôi với vẻ thâm trầm khó dò. Chàng cẩn thận mở nút bầu da, nâng đầu đứa nhỏ dậy rồi mớm từng giọt nước vào đôi môi khô nẻ của nó.

Được giọt nước cứu mạng làm dịu cổ họng, đứa trẻ ho sặc sụa một tiếng rồi từ từ mở mắt, cất tiếng khóc yếu ớt. Người bà ôm chầm lấy cháu, rập đầu lạy tạ cả tôi lẫn chàng thanh niên.

Tôi quay sang nhìn Hải Thụy, hạ giọng hỏi, ánh mắt không rời khỏi dáng vẻ kỳ lạ của chàng:

- Ngươi họ Lục, tên Hải Thụy? Người làng này sao?

Hải Thụy cúi đầu đáp, thanh âm trầm tĩnh đến lạ thường:

- Thưa quan lớn, thảo dân vốn là kẻ tha hương đến ngụ cư tại Bát Tràng mấy năm nay. Hiện tại làm gia sư dạy chữ cho công tử nhà họ Lý ở phía tây làng.

- Ngươi có học vấn?

- Thảo dân có đọc qua sách vở thánh hiền, biết đôi ba mặt chữ để kiếm miếng cơm qua ngày.

Lúc này, Trịnh Cửu tất tả chạy lại, thấy tôi đang đứng cùng Hải Thụy liền vội vã khom lưng thưa:

- Bẩm quan lớn, Lục tiên sinh đây là bậc Nho học thanh cao trong vùng. Hai năm trước tiên sinh từng lều chõng đi thi, đỗ đầu khoa thi Hương của lộ Bắc Hà đấy ạ. Nhưng tiên sinh tính tình đạm bạc, không màng danh lợi chốn quan trường, chỉ thích ở lại chốn đầm nước này dạy học giúp trẻ nhỏ.

Tôi khẽ giật mình. Một Hương nguyên đỗ đầu bảng của lộ Bắc Hà lại chịu ẩn mình làm gia sư cho một phú hộ nông thôn? Thời buổi loạn lạc này, kẻ sĩ đỗ đạt ai chẳng mong mỏi một chức quan nơi phủ huyện để vinh thân phì gia, hoặc chí ít cũng tìm đường nương tựa các vương hầu quyền quý nơi Thăng Long. Huống chi, khí chất của con người này hoàn toàn không giống một hàn sĩ bình thường.

- Một bậc Hương nguyên tài hoa lại cam lòng chịu đói chịu khát nơi làng quê nứt nẻ này sao?

Tôi nhìn thẳng vào mắt chàng, gặng hỏi từng lời.

Hải Thụy ngước mắt nhìn ra lòng đầm cạn trơ đáy phía xa xa. Gió nóng thổi tung những lọn tóc đen dài xõa ngang vai chàng. Trong đôi mắt sâu hun hút như đáy nước ấy, tôi nhìn thấy một nỗi đau đớn câm lặng, sâu hoắm như vết thương rỉ máu của trời đất.

- Thưa quan lớn, thảo dân sinh ra từ nước, cả đời gắn bó với đầm sâu này. Nước còn thì người còn, nước cạn thì ruột gan cũng khô héo. Dân làng chết khát, thảo dân dẫu có chạy đến chân trời góc bể thì tâm can cũng chẳng thể an yên.

Lời nói của chàng có âm hưởng vang vọng kỳ lạ, tựa hồ tiếng chuông đồng vọng lại từ đáy giếng sâu. Giữa trưa hè nắng gắt, từng câu chữ chàng thốt ra khiến sống lưng tôi dấy lên một cảm giác rợn ngợp. Người thanh niên này nói chàng "sinh ra từ nước", thân thể chàng lạnh như băng giá, mùi phù sa đầm lầy quẩn quanh da thịt chàng giữa một vùng đất đã ba năm không có lấy một giọt mưa.

- Bẩm quan lớn! - Sai nha Đỗ Khang từ phía đình làng hớt hải chạy lại cắt ngang mạch suy nghĩ của tôi. - Kho thóc đã mở xong, nhưng các bô lão trong làng đang xin ngài định đoạt việc nấu cháo tế dân. Nước mang theo chỉ đủ uống cầm hơi cho người ốm, muốn nhóm bếp nấu vài chục nồi cháo lớn thì hoàn toàn không có nước vét ở đâu ra!

Tôi thở dài một tiếng, quay nhìn về phía sân đình ngổn ngang người nằm la liệt. Lòng nặng trĩu âu lo, tôi quay sang định dặn dò thêm Hải Thụy vài câu thì chàng đã lùi lại một bước, cung kính cúi đầu:

- Quan lớn vì dân mà đến chốn lầm than này, thảo dân vô cùng cảm kích. Nếu ngài cần người phụ giúp việc sổ sách cứu tế, xin cứ sai bảo.

Nói đoạn, chàng xoay người rảo bước đi về phía con đường dẫn vào sâu trong làng họ Lý. Tà áo xanh nhạt bay phần phật trong gió nóng, nhưng bóng lưng chàng thẳng tắp, không hề lộ chút mỏi mệt hay đói khát như muôn ngàn người dân khác.

Tôi đứng lặng bên gốc đa trơ trụi, nhìn theo bóng hình chàng thanh niên họ Lục khuất dần sau những rặng tre úa tàn. Bàn tay tôi nơi vừa chạm vào ngón tay chàng vẫn còn vương lại cảm giác buốt lạnh tê tái, như thể hơi lạnh ấy đã ngấm sâu vào tận tủy xương, không ngọn lửa hè nào có thể xua tan.

Chương khác

Xem thêm