Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 2: Xác Chết Đói Như Rạ
Cánh cửa gỗ lim của kho thóc phụ sau đình làng Bát Tràng nặng nề rên rỉ khi hai người lính dùng hết sức đẩy sang hai bên. Ổ khóa đồng đã rỉ sét vì gió…
Nội dung chương
Cánh cửa gỗ lim của kho thóc phụ sau đình làng Bát Tràng nặng nề rên rỉ khi hai người lính dùng hết sức đẩy sang hai bên. Ổ khóa đồng đã rỉ sét vì gió cát lâu ngày bung ra, để lộ khoảng tối thâm u bên trong gian nhà kho mái ngói rêu phong.
Mùi ẩm mốc xộc thẳng vào cánh mũi tôi. Đó là thứ mùi mục ruỗng của hạt thóc nằm im lìm quá lâu ngày trong bóng tối, hòa lẫn mùi phân chuột cùng hơi nóng hầm hập từ mái ngói phả xuống. Đỗ Khang cầm ngọn đuốc bước vào trước, tôi và Trịnh Cửu bước theo sau. Ánh lửa bập bùng rọi lên những dãy cót thóc ken dày sát vách tường.
Lý trưởng Trịnh Cửu run rẩy lấy vạt áo lau mồ hôi trên trán, giọng méo mó:
- Bẩm quan lớn, kho này là nơi trữ lúa tô thuế của ba thôn ven đầm từ vụ mùa hai năm trước. Quan triều đình lệnh niêm phong để phòng khi có biến loạn lân bang, dân làng dẫu đói khát đến mấy cũng không dám tự tiện cạy một mảnh ván.
Tôi bước lại gần một quây cót lớn nhất, rút con dao găm nhỏ bên hông, rạch nhẹ một đường trên lớp bồ đan bằng nứa. Một dòng hạt màu nâu xỉn trút xuống nền đất nện. Tôi ngồi xổm xuống, bốc một nắm thóc đưa lên lòng bàn tay xem xét.
Ruột gan tôi thắt lại. Những hạt thóc trơ trọi chỉ là vỏ trấu lép kẹp. Lũ mọt đã đục khoét gần hết phần tinh bột bên trong, biến hạt ngọc của trời thành những vụn cám xám ngoét. Khi tôi miết nhẹ hai ngón tay, số thóc ấy vỡ vụn thành bột tro khô khốc, bay lả tả trong không khí.
Đỗ Khang vội vàng chạy qua rạch thử ba cót thóc khác. Tình cảnh cũng bi đát y như vậy. Mười phần thóc trong kho thì đến bảy phần đã bị mọt đục rỗng ruột hoặc mốc meo kết tảng thành từng mảng đen sì bốc mùi chua loét. Lương thảo cứu đói do triều đình trích từ phủ Bắc Hà xuống thì ít ỏi, trông cậy vào kho trữ tại chỗ lại gặp phải cảnh tượng hư hao tồi tệ này.
- Quân khốn nạn! - Tôi gằn giọng, bàn tay nắm chặt đống trấu nát vụn. - Bọn lại dịch trông coi kho tàng đã tráo thóc mới lấy thóc mục từ bao giờ, hoặc giả để mặc cho mối mọt gặm nhấm năm này qua năm khác mà không thèm đảo sấy.
Trịnh Cửu sợ hãi quỳ sụp xuống sàn đất đầy bụi cám:
- Quan lớn bớt giận! Dân làng chúng con thực không hay biết. Hai năm nay hạn hán liên miên, quan huyện sức xuống giữ nghiêm kho tàng, chúng con nào có chìa khóa mà vào kiểm tra!
Bên ngoài sân đình, tiếng ồn ào bắt đầu dấy lên mỗi lúc một lớn. Hàng trăm người dân nghe tin quan khâm sai về mở kho phát chẩn đã lục tục kéo đến. Những thân hình gầy guộc như cành củi khô bám lấy hàng rào tre quanh đình, mắt họ trừng trừng nhìn vào cánh cửa kho đang mở toang. Tiếng khóc của trẻ nhỏ, tiếng thở dốc của người già quện vào làn gió nóng bỏng rát.
Nhưng khi tôi bước ra thềm đình nhìn xuống đám đông, âm thanh vang lên nhiều nhất lại khiến tôi sững sờ. Dân chúng chìa những chiếc bát mẻ, những ống bương khô khốc về phía tôi, cất lên tiếng van xin khản đặc:
- Quan lớn ơi, cứu lấy một gáo nước!
- Cho xin một ngụm nước lã thôi quan lớn ơi! Khát cháy cả cổ họng rồi!
- Có thóc mà không có nước thì nuốt làm sao cho trôi! Xin ngài ban cho chút nước cầm hơi!
Họ cần nước hơn cả cần gạo. Một nắm thóc mục có thể nhai sống để lừa cái dạ dày đang co thắt, nhưng cổ họng khô khốc, nứt nẻ rỉ máu thì không thể nuốt nổi một hạt trấu cứng. Nắng trưa rọi thẳng xuống đỉnh đầu trần của những kẻ khốn cùng, biến sân đình thành một chảo rang khổng lồ. Môi người nào người nấy nứt toác thành từng rãnh đỏ lòm, lưỡi rụt lại vì thiếu nước lâu ngày.
Đỗ Khang ghé sát tai tôi, vẻ mặt vô cùng bối rối:
- Bẩm quan lớn, số nước đoàn tùy tùng mang theo từ huyện lỵ chỉ còn đúng hai thùng tô nô lớn. Nếu đem phát cho đám đông này thì mỗi người chưa được nửa hớp là cạn sạch. Muốn nấu cháo phát chẩn, chúng ta bắt buộc phải tìm được nguồn nước ngọt tại chỗ.
Tôi quay sang Trịnh Cửu, trầm giọng tra vấn:
- Giếng làng Bát Tràng nằm ở đâu? Mau dẫn đường tới đó!
Trịnh Cửu lúng túng đứng dậy, chỉ tay về phía cây bàng khô héo sau đình:
- Bẩm quan lớn, giếng đình đào sâu mười trượng, mạch thông ra đầm lớn. Nhưng từ đầu năm đến nay đầm cạn khô, mạch giếng cũng tắt ngấm. Mấy ngày nay dân làng phải dòng dây xuống tận đáy vét từng gàu bùn nhão để gạn lấy chút nước đục ngầu.
- Đục cũng phải lấy! Đem hết xô chậu tới đó, lọc qua cát sỏi rồi đem về đây nhóm lửa! - Tôi dứt khoát hạ lệnh.
Dưới sự thúc giục của sai nha, một toán trai tráng còn chút sức tàn cùng lính hộ tống lập tức mang dây thừng và thùng gỗ chạy về phía miệng giếng đình. Tôi bước xuống sân, trực tiếp giám sát việc phân loại số thóc còn dùng được trong kho.
Giữa đám đông đói rách đang xô đẩy nhau, tôi bất chợt nhận ra tà áo xanh thô mộc của Lục Hải Thụy.
Chàng đứng lẫn giữa những người nông dân gầy trơ xương sườn, nhưng dáng dấp thanh mảnh và tĩnh lặng của chàng khiến chàng nổi bật hẳn lên giữa cảnh hỗn loạn. Chàng không hề tranh giành, cũng không cất tiếng van nài. Chàng đang ngồi xổm bên một người đàn bà gầy yếu, tay đỡ lấy đứa bé chừng bốn tuổi đang lả đi trên đùi mẹ nó.
Đôi mắt đen sâu hun hút của Hải Thụy nhìn chằm chằm vào đôi môi tím tái, khô nứt của đứa trẻ. Vạt áo vải thô nơi đầu gối chàng bị những ngón tay dài tái nhợt siết chặt đến mức các khớp xương trắng bệch ra. Trên khuôn mặt điềm tĩnh thường ngày của vị nho sinh lộ rõ một nỗi bi thống nghẹn ngào, một nỗi xót xa câm lặng dường như đang thiêu đốt cõi lòng chàng từ bên trong.
Nhận thấy ánh mắt của tôi, Hải Thụy khẽ ngẩng đầu lên. Bốn mắt nhìn nhau giữa trưa hè bỏng rát. Ánh nhìn của chàng thăm thẳm như làn nước đầm sâu nghìn trượng, mang theo một vẻ u uất không lời. Chàng không nói gì, chỉ cúi đầu chào tôi theo lễ tiết của kẻ sĩ, rồi lại tiếp tục dùng tay áo che mát cho đứa bé đang thoi thóp.
Nửa canh giờ sau, nhóm người đi lấy nước trở về. Họ chỉ mang về được ba thùng gỗ chứa thứ chất lỏng sền sệt, xám xịt màu bùn non. Đó là tất cả những gì vét được từ đáy giếng sâu hoắm.
- Quan lớn, nước này bẩn quá, đầy mùi bùn tanh... - Đỗ Khang ái ngại nhìn đáy thùng.
- Lọc qua ba lớp vải ba dày, cho thêm chút muối hạt vào lắng cặn. Dân đang chết đói chết khát, có nước bùn loãng để nấu cháo giữ mạng lúc này đã là phúc lớn của trời rồi! - Tôi ra lệnh, giọng đượm vẻ cay đắng.
Một chiếc chảo gang khổng lồ vốn dùng nấu cỗ đình làng thời thái bình được khiêng ra đặt giữa sân. Binh lính chất củi khô xung quanh, nhóm lửa bập bùng. Ngọn lửa đỏ rực liếm láp quanh đáy chảo gang đen bóng, tỏa ra sức nóng hầm hập giữa trưa hè.
Số nước bùn sau khi gạn lọc qua nhiều lớp vải, dù vẫn còn đùng đục sắc phù sa nhưng đã trong hơn đôi chút, được đổ ào vào lòng chảo. Tiếng nước chạm đáy gang kêu xèo xèo. Khói hơi nước bốc lên lượn lờ.
Đỗ Khang đích thân vác hai bao thóc đã được sàng sảy kỹ lưỡng, trút toàn bộ số gạo còn nguyên hạt vào chảo. Đám đông hàng trăm con người bỗng chốc im bặt. Mọi ánh mắt đói khát, dại đi vì thiếu ăn, đều dồn cả vào lòng chảo đang nghi ngút khói. Mùi gạo mốc hòa vào hơi nước bùn bốc lên, nhưng đối với những con người đang đứng bên bờ vực cái chết, đó chính là mùi của sự sống.
Những tiếng nuốt nước bọt ực ực vang lên rõ mồn một trong khoảng không gian ngột ngạt. Nhiều người run rẩy chắp tay vái lạy trời đất, cầu mong nồi cháo mau sôi.
Tôi đứng tựa lưng vào cột đình, dõi mắt nhìn ngọn lửa đang cháy đượm. Lòng tôi trĩu nặng một nỗi âu lo mơ hồ. Tình trạng hạn hán ở vùng Bát Tràng này vượt xa những gì quan sở tại bẩm báo về kinh sư. Cả một vùng đất trù phú bên dòng Nhị Hà nay khô kiệt đến mức đất đá cũng muốn bốc cháy.
Bất chợt, một tiếng nổ lách tách kỳ quái vang lên từ giữa chảo cháo.
Tôi giật mình nhìn lại. Ngọn lửa dưới đáy chảo bỗng chuyển từ màu vàng cam sang một sắc xanh lè ma quái. Khói bốc lên không còn mang mùi gạo thơm, mà xộc ra một mùi khét lẹt nồng nặc, tựa như mùi da thịt bị thiêu cháy hòa lẫn mùi đất bùn phơi dưới nắng hạn trăm ngày.
- Có chuyện gì vậy? - Tôi bước nhanh lại gần, quát hỏi.
- Bẩm quan lớn... nước... nước trong chảo biến đi đâu mất rồi! - Đỗ Khang thất thanh kêu lên, tay cầm chiếc muôi gỗ lớn chỉ vào lòng chảo.
Tôi nhìn trừng trừng vào chảo gang và không khỏi rùng mình kinh hãi.
Mấy thùng nước bùn vừa đổ vào đầy ắp, lửa mới bén chưa đầy nửa tuần hương, vậy mà toàn bộ chất lỏng trong chảo đang rút cạn với một tốc độ không thể tin nổi. Nước không sôi ùng ục, không trào bọt trắng, mà rít lên từng hồi xì xì chói tai ghê rợn, tựa hồ có hàng vạn chiếc vòi vô hình dưới đáy gang đang hút cạn từng giọt nước.
Hơi nước bốc lên mù mịt rồi tan biến ngay giữa không trung oi ả. Chỉ trong vài cái chớp mắt, đáy chảo gang đỏ rực trơ trọi lộ ra.
Hàng trăm vốc gạo vừa thả vào chưa kịp nở hạt đã khô quắt lại. Dưới sức nóng kỳ dị của đáy chảo, những hạt gạo chuyển sang màu đen thui, rồi bốc cháy ngùn ngụt như những đốm than hồng. Một làn khói đen kịt mang mùi hôi tanh nồng nặc bốc thẳng lên trời. Khi cơn gió nóng thổi tạt qua, toàn bộ số gạo cứu tế biến thành một lớp tro xám xịt, vụn nát, bị gió cuốn bay mù mịt khắp sân đình.
- Quỷ lửa! Là quỷ lửa thiêu gạo rồi! - Một bà lão thất thanh gào lên, ngã ngửa ra nền đất.
- Trời phạt làng ta rồi! Đến cháo tế trời cũng không cho ăn!
Đám đông hoảng loạn tột độ. Tiếng la khóc, tiếng dập đầu lạy van vang lên như sấm dậy. Những người đói khát lùi dạt ra xa, nhìn chiếc chảo gang trống rỗng bốc khói khét lẹt với ánh mắt ngập tràn nỗi kinh hoàng tột bực. Không ai dám tiến lại gần chiếc chảo nữa.
Đỗ Khang đứng chết sững, chiếc muôi gỗ trên tay rơi cạch xuống đất. Anh ta nhìn tôi, môi run rẩy không thốt nên lời:
- Quan... quan lớn... Chuyện này là thế nào? Nước vừa đổ vào... sao có thể cạn khô trong chớp mắt như vậy?
Tôi không trả lời được. Bàn tay tôi đặt lên chuôi kiếm bên hông siết chặt. Bản thân tôi làm quan hình án nhiều năm, từng chứng kiến bao vụ án ly kỳ quái đản chốn nhân gian, nhưng hiện tượng quái dị trước mắt này hoàn toàn vượt ra ngoài mọi lẽ thường tình của trời đất. Nước không thể tự nhiên biến mất nhanh đến thế, gạo không thể hóa thành tro xám trong nháy mắt nếu không phải chịu một sức nóng ma quái tột cùng.
Giữa cơn hỗn loạn của đám đông, tôi đưa mắt tìm kiếm bóng dáng của Lục Hải Thụy.
Người thanh niên họ Lục đã đứng dậy từ lúc nào. Chàng đứng cách chiếc chảo gang vài trượng, vạt áo xanh phần phật bay trong làn gió mang đầy tro tàn. Đôi mắt chàng nhìn vào đáy chảo gang trơ trụi, hai hàng mày nhíu chặt lại, nét mặt đanh lại một cách kỳ lạ.
Trong ánh mắt chàng không có sự hoảng loạn hay sợ hãi ma quỷ như những người dân quanh vùng. Nơi đó chứa đựng một sự giận dữ ngấm ngầm, một nỗi xót xa tột cùng, xen lẫn vẻ bất lực đắng cay.
Bất chợt, Hải Thụy quay người bước nhanh ra khỏi cổng đình làng. Dáng đi của chàng vội vã, dứt khoát, hoàn toàn khác với vẻ thư thái đạm bạc lúc ban trưa.
Tôi muốn cất tiếng gọi chàng lại, nhưng cảnh tượng sân đình nhốn nháo giữ chân tôi. Tiếng người khóc than đòi nước, đòi lương thực, tiếng binh lính gầm rú vãn hồi trật tự kéo tôi trở về với thực tại nghiệt ngã. Tôi phải đứng ra trấn an dân làng, hạ lệnh khiêng chiếc chảo gang kỳ quái kia cất đi, đồng thời cho binh lính mở thùng nước dự trữ của quan quân, chia cho mỗi người già và trẻ nhỏ một ngụm nhỏ để giữ lại hơi tàn.
Đến khi nắng chiều ngả hẳn sang màu đỏ quạch như máu của hoàng hôn, sân đình mới tạm thời vãn người. Dân chúng bồng bế nhau về lại những túp lều xơ xác, mang theo sự thất vọng cùng nỗi sợ hãi tột cùng về điềm gở giữa ban ngày.
Tôi bước lại chỗ Hải Thụy từng đứng hồi trưa.
Mặt đất nơi đó khiến tôi phải dừng bước. Xung quanh sân đình, đất cát khô rang, nứt nẻ thành từng mảng lớn vì nắng hạn kéo dài. Nhưng ngay tại vị trí người nho sinh họ Lục vừa đứng che mát cho đứa trẻ, vạt đất ấy lại sẫm màu, ẩm ướt lạ thường. Khi tôi cúi xuống chạm tay vào lớp đất đó, một cảm giác lạnh buốt truyền thẳng qua đầu ngón tay. Đất ở đó không hề ấm nóng bởi ánh mặt trời, mà lạnh ngắt như thể vừa được vớt lên từ đáy sâu của một dòng sông băng giá, thoang thoảng mùi phù sa nồng đậm.
Mùi phù sa ấy không thể lẫn vào đâu được. Giữa một vùng đất nứt nẻ không còn lấy một giọt nước, tại sao nơi chàng đứng lại có hơi lạnh và độ ẩm của bùn sâu?
Cái chết đói của hàng ngàn dân phu, kho thóc hư hao vì mối mọt, sự việc nước cạn biến gạo thành tro xám trong chớp mắt, và sự kỳ bí bao quanh người nho sinh mang thân thể lạnh như băng tuyết - tất cả những điều ấy xoay vần trong tâm can tôi, kết thành một mớ bòng bong nặng nề, u tối.
Đêm Bát Tràng buông xuống hầm hập như một lò than hồng khổng lồ. Gió từ đầm cạn thổi thốc vào đình làng mang theo hơi nóng rát mặt cùng mùi tanh tao của cá tôm chết khô từ nhiều tháng trước.
Tôi ngồi bên bàn con trong gian chái đình làng, ngọn đèn dầu lay lắt soi bóng tôi lên bức vách loang lổ. Ngoài sân, tiếng rên rỉ vì đói khát của những kẻ không nhà vọng lại từng hồi ai oán. Đỗ Khang cùng toán lính canh đã mệt nhoài sau một ngày căng thẳng, người gục đầu bên bao kiếm, kẻ nằm vật ra chiếu cói ngủ say như chết.
Tôi nhìn ra màn đêm đen đặc quánh bên ngoài cửa sổ. Đầm Bát Tràng nằm cách đình làng không xa, tựa như một vực sâu khổng lồ đang nằm im thin thít chờ nuốt chửng tất cả. Lời nói ban trưa của Hải Thụy lại văng vẳng bên tai tôi:
"Thảo dân sinh ra từ nước, cả đời gắn bó với đầm sâu này. Nước còn thì người còn, nước cạn thì ruột gan cũng khô héo..."
Nước cạn thì ruột gan khô héo. Một kẻ nho sinh đỗ đầu bảng khoa thi Hương lại gắn bó mạng sống của mình với một đầm nước? Và nồi cháo cứu tế ban chiều bốc cháy thành tro xám kia, liệu có phải là lời cảnh cáo của một thế lực vô hình nào đó đang ngự trị dưới lòng đất khô cằn này?
Cơn trăn trở cắn xé tâm can khiến tôi không thể nào chợp mắt. Một linh cảm chẳng lành thúc giục tôi phải hành động. Nếu chỉ ngồi yên trong đình chờ đợi lương thảo triều đình, người dân nơi đây sẽ chết sạch trước khi hạt gạo kế tiếp được chuyển tới. Tôi cần phải tận mắt nhìn thấy đáy đầm cạn kia, cần phải tìm hiểu xem thứ gì đang thực sự diễn ra dưới lòng đất Bát Tràng.
Tôi đứng dậy, chỉnh lại chiếc áo chẽn gọn gàng, thắt chặt bao kiếm bên hông. Tôi không đánh thức Đỗ Khang hay bất kỳ người lính nào. Một mình tôi với thanh gươm hộ thân và chiếc đèn lồng giấy dầu bước ra khỏi ngưỡng cửa đình làng, hòa mình vào màn đêm mịt mùng đang bao trùm lên vùng đầm sâu hoang phế.