Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 4: Bóng Hình Lạ Bên Bờ Đầm

Ngọn đèn lồng bọc giấy dầu trên tay tôi chao nghiêng theo luồng gió quẩn dưới đáy đầm. Ánh lửa vàng vọt rọi qua làn hơi lạnh bốc lên từ vệt bùn ướt,…

Nội dung chương

Ngọn đèn lồng bọc giấy dầu trên tay tôi chao nghiêng theo luồng gió quẩn dưới đáy đầm. Ánh lửa vàng vọt rọi qua làn hơi lạnh bốc lên từ vệt bùn ướt, chiếu thẳng vào bóng lưng người nho sinh đang đứng sừng sững giữa cảnh hoang tàn.

Tiếng quát của tôi chìm vào không gian tịch mịch. Đáy đầm cạn này vốn dĩ là nơi tích tụ khí độc của rơm rạ mục nát và xác tôm cá khô cháy suốt ba năm hạn hán, thế nhưng quanh vị trí chàng đứng, bầu không khí lại đặc quánh mùi phù sa tươi mới, ngai ngái thứ hương vị chỉ có ở những vực nước sâu trăm trượng chưa từng thấy ánh mặt trời.

Lục Hải Thụy từ từ quay người lại. Chàng chuyển động rất chậm, từng cử chỉ mềm mại, uyển chuyển khác thường, không phát ra tiếng sột soạt của vải vóc cọ xát. Mái tóc đen dài quá vai xõa tung trong gió đêm, để lộ gương mặt thanh tú nhưng trắng bệch đến rợn người. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu, đôi mắt chàng đen thăm thẳm, sâu hun hút tựa hồ đáy giếng cổ không đáy, lặng lẽ nhìn xoáy vào mắt tôi. Không có chút bối rối, không có vẻ hốt hoảng của kẻ làm chuyện lén lút bị quan phủ bắt quả tang, nơi đáy mắt chàng phẳng lặng như một mặt gương nước mùa thu đóng băng.

- Tiểu sinh Lục Hải Thụy, bái kiến quan giám sát.

Chàng chắp hai tay trước ngực, cúi đầu thi lễ đúng theo quy củ của kẻ sĩ chốn trường ốc. Động tác ấy mực thước, chuẩn mực đến mức khiến người đối diện khó lòng bắt bẻ.

Thế nhưng âm thanh phát ra từ vòm họng chàng lại làm sống lưng tôi lạnh toát. Giọng nói ấy trầm thấp, vang vọng, mang theo âm hưởng rì rầm của một dòng suối ngầm cuộn chảy luồn qua những khe đá ngầm dưới lòng đất. Tiếng nói không lớn nhưng dội thẳng vào màng nhĩ tôi, át đi cả tiếng gió rít gào qua những vết nứt nẻ của lòng đầm.

Tôi giữ chặt chuôi gươm bên hông, ngón tay cái vẫn tỳ lên chốt bao, từng bước tiến lại gần chàng. Mỗi bước chân tôi giẫm lên lớp đất khô đều phát ra tiếng lạo xạo giòn tan của bùn nứt, đối nghịch hoàn toàn với sự tĩnh lặng tuyệt đối dưới chân Hải Thụy.

- Đêm đã sang canh ba. Lệnh giới nghiêm của quan phủ ban ra nhằm ngăn chặn đám lưu dân cướp bóc lương thảo, cấm mọi người lai vãng nơi lòng đầm hoang vắng này. Lục công tử đỗ đầu khoa thi Hương năm trước, vốn là bậc thông hiểu kinh luân phép nước, cớ sao lại một mình lần mò xuống tận đáy đầm chết chóc này?

Tôi dừng lại cách chàng ba bước chân. Ở khoảng cách này, luồng hàn khí tỏa ra từ cơ thể chàng ập thẳng vào mặt tôi, buốt rát hệt như luồng gió chướng cắt da cắt thịt giữa mùa đông xứ Bắc. Bộ trường bào màu xanh nhạt trên người chàng rủ xuống mềm mại, mép vải ướt đẫm hơi sương, hoàn toàn không dính một hạt bụi cát nào của vùng đất hạn.

Hải Thụy khẽ ngẩng đầu lên. Khóe môi chàng thoáng cong lên một nụ cười đượm vẻ bi lương, ánh mắt hướng về vệt nước sền sệt đang lấp loáng sau lưng mình.

- Bẩm đại nhân, thảo dân nào dám coi thường phép nước. Chỉ là ban ngày nhìn thấy cảnh dân làng Bát Tràng cào đất tìm nước, trẻ thơ khóc nghẹn vì khát cháy cổ họng, lòng dạ thảo dân đau đớn khôn nguôi. Đầm nước này xưa kia sâu thẳm, nuôi sống vạn mạng người bao đời nay. Thảo dân sinh ra bên mép nước, đêm nay đến đây để thăm lại chốn cũ, mong tìm xem dưới đáy sâu này có còn giọt nước ngầm nào sót lại để cứu giúp bà con chăng.

- Tìm nước?

Tôi gằn giọng, đưa mắt nhìn xuống vệt nước đen bóng dưới chân chàng. Dấu vết ấy kéo dài từ mép chân Hải Thụy trườn ngược vào bóng tối mịt mùng của lòng đầm sâu, bề mặt nhẵn thín và ẩm ướt kỳ lạ giữa một vùng bình địa nứt toác.

- Lòng đầm này phơi sọ nắng ròng rã ba năm trời, giếng sâu mười trượng trong làng đào xuống chỉ gặp sỏi đá khô rang. Ngươi tìm nước bằng cách nào mà đất dưới chân ngươi lại sũng ướt thế kia? Vệt nước trườn dài ngoằn ngoèo này là do vật gì tạo thành?

Lời tra vấn của tôi đanh thép, mang theo uy quyền của một viên quan thanh tra triều đình từng trải qua bao vụ án hóc búa chốn kinh kỳ. Tôi muốn nhìn thấy sự nao núng trên nét mặt chàng, muốn chàng phải lộ ra sơ hở.

Thế nhưng Lục Hải Thụy chỉ buông một tiếng thở dài. Tiếng thở ấy nghe buốt giá đến nao lòng. Chàng khẽ nghiêng mình, ánh mắt nhìn xuống vệt nước bóng lộn dưới chân, giọng nói trầm ấm lại vang lên:

- Đất trời có mạch, nước dưới lòng đất cũng có đường đi riêng của nó. Khi mặt trời thiêu đốt bên trên, thủy khí phải co cụm lại, lẩn trốn vào những tầng đất sâu nhất. Đại nhân nhìn thấy vệt ẩm ướt này, ngỡ là điều quái dị, thực chất chỉ là chút hơi nước còn sót lại của lòng đầm đang cố trồi lên hít thở khí trời trước khi hoàn toàn tiêu biến.

- Ngươi nói lời quanh co, mượn cớ huyền hoặc để che giấu sự thật!

Tôi bước mạnh lên một bước, định tiến sát để nắm lấy cổ tay chàng gặng hỏi cho ra nhẽ.

Bùn đất dưới chân tôi đột ngột thay đổi. Từ lớp bùn khô giòn như ngói vỡ, chân tôi đạp phải lớp bùn nhão nhoét, trơn trượt đến lạ lùng. Cú sẩy chân bất ngờ giữa đêm tối khiến cơ thể tôi mất thăng bằng, chiếc đèn lồng trên tay chao đảo dữ dội, người tôi nghiêng ngả chực ngã nhào xuống lớp bùn đen sền sệt.

Trong chớp mắt ấy, một cánh tay vươn ra.

Bàn tay của Lục Hải Thụy nhẹ nhàng đỡ lấy khuỷu tay tôi, giữ cho thân hình tôi đứng vững vàng trở lại. Cử chỉ ấy nhanh gọn, chuẩn xác và đầy vẻ tôn kính của một kẻ hậu sinh đối với bậc tiền bối.

Nhưng ngay khi ngón tay chàng chạm qua lớp áo vải thô áp vào da thịt tôi, toàn thân tôi run rẩy dữ dội.

Cái lạnh từ bàn tay ấy truyền sang không phải là cái lạnh của người sống bị trúng phong hàn. Nó buốt giá như một tảng băng ngàn năm vớt lên từ đáy sông sâu, buốt thấu qua da thịt, thấm thẳng vào xương tủy, làm máu huyết trong huyết quản tôi nghẽn lại. Cảm giác lạnh lẽo ấy tàn nhẫn đến mức khiến tôi suýt nữa buột miệng kêu lên, các khớp ngón tay cầm chuôi kiếm cứng đờ ra trong tích tắc.

Cùng lúc đó, một luồng mùi vị nồng nặc xộc thẳng vào mũi tôi. Đó là mùi của bùn lầy nguyên sơ tích tụ hàng thế kỷ dưới đáy đầm sâu, mùi của loài thủy tộc lẩn khuất dưới rêu phong và phù sa ẩm ướt, tanh nồng và cổ kính đến ngạt thở. Mùi vị ấy hoàn toàn bao trùm lấy tôi, át đi toàn bộ khói dầu tù mù từ chiếc đèn lồng giấy.

Tôi giật phắt tay lại, lùi nhanh về phía sau hai bước, thanh gươm hộ thân lập tức tuốt ra khỏi bao nửa thước. Ánh thép sáng quắc ánh lên dưới ánh lửa le lói.

- Ngươi... da thịt ngươi sao lại lạnh như băng tảng thế này? Ngươi rốt cuộc là người hay là ma quỷ dưới lòng đầm?

Hải Thụy thu tay về, giấu vào trong ống tay áo rộng thùng thình. Nét mặt chàng vẫn bình thản đến lạ kỳ, đôi mắt đen sâu thẳm nhìn vào mũi gươm của tôi mà không hề chớp lấy một lần.

- Thảo dân từ nhỏ mang chứng bệnh hàn khí bẩm sinh, huyết mạch khó lưu thông, thân thể quanh năm giá buốt. Đại nhân là bậc phụ mẫu chi dân, xin ngài bớt giận. Thảo dân có máu thịt, biết đau đớn trước nỗi thống khổ của nhân gian, sao có thể là loài ma quỷ hại người?

- Kẻ mang chứng hàn khí bẩm sinh không thể tỏa ra mùi phù sa đầm sâu nồng nặc đến thế! Càng không thể khiến cho bùn đất chết khô dưới chân hóa thành sình lầy tươi mới!

Tôi gằn từng tiếng, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Là một viên quan phụ trách án từ, tôi đã từng đối mặt với những tên tử tội hung hãn nhất, từng lật mở những thi thể chết trôi biến dạng dưới lòng sông Hồng, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy một nỗi bất an sâu sắc và kỳ quái như lúc này. Đứng trước mặt tôi là một nho sinh đỗ đạt, phong thái nho nhã đĩnh đạc, nhưng từng hơi thở, từng tấc da thịt của chàng lại toát ra hơi thở của một vực nước sâu không đáy.

Đúng lúc ấy, một cơn cuồng phong từ mép trời phía đông đột ngột thổi thốc tới.

Gió đêm rít lên từng hồi ghê rợn qua những rãnh nứt của lòng đầm, cuốn theo bụi cát mù mịt và những mảnh rơm rạ khô cháy xoay tít trên không trung. Ngọn lửa trong chiếc đèn lồng bọc giấy bùng lên rồi chao đảo dữ dội, hắt những bóng đen méo mó nhảy múa điên cuồng trên mặt đất sình lầy.

Cơn gió mạnh đập thẳng vào người Lục Hải Thụy, thổi tung vạt áo trường bào màu xanh nhạt của chàng bay phần phật về phía sau. Cổ áo bằng lụa thô bị gió giật mạnh, hé mở một khoảng rộng nơi cần cổ và bờ vai gầy guộc.

Dưới ánh lửa vàng rực của ngọn đèn lồng sắp tàn, mắt tôi trợn trừng trước một cảnh tượng kinh hoàng.

Nơi cần cổ trắng bợt của người nho sinh, bên dưới lớp da thịt mịn màng dường như không có huyết sắc ấy, lấp lánh những hoa văn ngũ sắc kỳ dị. Những đường nét ấy cong tròn, xếp lớp lang đều đặn đè lên nhau, tỏa ra thứ ánh sáng lân tinh mờ ảo màu xanh biếc xen lẫn ánh tím sẫm của loài thủy tộc. Chúng không phải là vết chàm hay hình xăm nhân tạo, mà là những chiếc vảy lấp lánh cử động nhịp nhàng theo từng cử động nơi cuống họng chàng, hệt như vảy của một loài xà tộc khổng lồ đang ẩn mình dưới lốt da người.

Chỉ trong một thoáng ngắn ngủi, luồng gió quẩn tan biến. Tà áo xanh lại rủ xuống, che khuất khoảng cổ trắng bệch. Những hoa văn ngũ sắc lóng lánh kia chìm dần vào làn da, biến mất không để lại một dấu vết nhỏ, như thể chúng vừa tự thu mình lặn sâu vào trong huyết quản lạnh giá của chàng.

Đầu óc tôi chấn động dữ dội. Tay cầm gươm của tôi khẽ run lên. Đó không phải là ảo giác do ánh lửa hay sương đêm đánh lừa. Những chiếc vảy ấy chân thực đến từng đường viền, mang theo sự uy nghiêm và lạnh lẽo tột cùng của một sinh vật chỉ tồn tại trong những truyền thuyết hoang đường nhất về loài rồng nước chốn đầm sâu.

Lục Hải Thụy dường như nhận ra ánh nhìn chấn động của tôi. Đôi mắt chàng khép hờ lại, hàng mi dài buông xuống che đi sự bi ai ngút ngàn nơi đáy mắt. Chàng không hề cố gắng phân bua hay che đậy, chỉ lặng lẽ chỉnh lại mép áo ngay ngắn, rồi lại chắp tay cúi đầu thi lễ một lần nữa.

- Gió đêm nơi đáy đầm rất độc, hàn khí lại nặng, không tốt cho thân thể của đại nhân. Ngài phụng mệnh triều đình về đây lo việc cứu tế, xin ngài hãy giữ gìn bảo trọng lấy thân. Trăm họ Bát Tràng đang trông chờ vào tấm lòng thanh liêm của ngài để qua cơn bỉ cực này.

- Ngươi... ngươi rốt cuộc trú ngụ ở đâu trong làng này?

Tôi cố đè nén cơn run rẩy trong giọng nói, buông lời gặng hỏi. Thanh gươm trong tay tôi vẫn chưa hạ xuống, mũi kiếm vẫn chĩa thẳng về phía khoảng đất ẩm ướt dưới chân chàng.

Hải Thụy ngẩng đầu lên, ánh mắt chàng nhìn tôi, trong vắt và bình thản đến lạ lùng, hoàn toàn không có một tia sát khí hay oán hận.

- Thảo dân hiện đang nương náu tại phủ của Lý trưởng họ Lý ở đầu làng Bát Tràng, làm chân gia sư gõ đầu trẻ dạy dỗ đám con cháu trong nhà. Nếu đại nhân còn điều chi nghi hoặc về lai lịch của thảo dân, ngày mai ngài có thể ghé qua phủ họ Lý để kiểm chứng. Thảo dân xin phép được cáo lui trước.

Nói đoạn, chàng xoay người, thong thả cất bước.

Dáng đi của chàng thanh thoát lạ thường. Từng bước chân giẫm lên bùn sình mà tà áo không hề vấy bẩn, bóng hình thanh mảnh của người nho sinh áo xanh nhạt cứ thế lướt đi trên mặt đầm nứt nẻ, hòa dần vào màn đêm đen đặc quánh phía xa.

Kỳ lạ thay, khi chàng rời đi, vệt nước ẩm ướt lấp loáng dưới chân chàng cũng bắt đầu khô rút lại với tốc độ mắt thường có thể nhìn thấy được. Lớp bùn trơn bóng dần se lại, nứt toác ra thành từng mảng khô khốc, trả lại vẻ cằn cỗi chết chóc vốn có của lòng đầm Bát Tràng. Cùng với sự biến mất của vệt nước, cái lạnh buốt giá thấu xương cũng dần tan biến vào không gian, chỉ còn lại làn gió nóng hầm hập của cơn đại hạn tiếp tục thổi rát mặt người.

Tôi đứng chôn chân giữa lòng đầm sâu hun hút, ngọn đèn lồng trên tay lụi dần rồi tắt ngấm, chỉ còn lại một sợi khói đen mỏng manh bốc lên khét lẹt.

Mùi phù sa ngàn năm dường như vẫn còn vương vấn trên đầu ngón tay tôi, lạnh ngắt và ẩm ướt. Cảm giác da thịt buốt giá như băng tảng khi chàng đỡ lấy khuỷu tay tôi vẫn còn hằn in rõ rệt, nhắc nhở tôi rằng mọi chuyện vừa diễn ra hoàn toàn có thật.

Một kẻ đỗ đầu khoa thi Hương mang thân thể lạnh hơn băng tuyết. Một vệt trườn lấp loáng nước giữa lòng đầm cạn khô suốt ba năm ròng. Và những chiếc vảy ngũ sắc thoảng hiện dưới làn da nơi cần cổ người nho sinh mang họ Lục.

Tất cả những mảnh ghép ma quái ấy xoáy tròn trong tâm trí tôi, dệt nên một bức màn bí mật đen tối đang bao trùm lấy vùng đất ven đầm nước này. Người thanh niên ấy là ai? Tại sao một kẻ mang dấu vết của loài thủy tộc lại chịu nhẫn nhục ẩn mình làm một gã gia sư dạy chữ trong nhà phú hộ họ Lý? Và sự xuất hiện kỳ bí của chàng giữa đêm hôm khuất nẻo này có liên quan gì đến chảo cháo cứu tế bốc cháy thành tro xám hồi ban chiều?

Gió đêm lại thốc lên từng đợt rát bỏng, xua đi chút tàn dư lạnh lẽo cuối cùng. Tôi tra thanh gươm vào bao, nghe tiếng "cạch" khô khốc vang lên giữa bóng tối mịt mùng. Đôi mắt tôi đăm đăm nhìn về hướng làng Bát Tràng, nơi những mái nhà tranh rách nát đang chìm trong sự ngột ngạt của cơn khát nghìn ngày.

Ngày mai, tôi nhất định phải đích thân bước chân vào phủ họ Lý kia để lật mở chân tướng của người nho sinh mang mùi bùn nước ấy.

Chương khác

Xem thêm