Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 3: Kho Thóc Hư Hao

Gió đêm thổi qua triền đê Bát Tràng không mang theo chút hơi mát nào, chỉ có luồng khí khô hầm hập phả vào mặt tựa hồ than hồng cời dở. Tôi khép chặt…

Nội dung chương

Gió đêm thổi qua triền đê Bát Tràng không mang theo chút hơi mát nào, chỉ có luồng khí khô hầm hập phả vào mặt tựa hồ than hồng cời dở.

Tôi khép chặt then cài cánh cổng ngách của gian chái đình, bước chân đặt nhẹ trên nền gạch xỉ nung để không đánh thức lính tráng đang thiếp đi vì kiệt sức. Cây đèn lồng bọc giấy dầu trên tay tôi chao nghiêng theo từng nhịp bước, hắt ra một quầng sáng vàng đục, run rẩy soi rõ lớp bụi đất dày cộm bám trên từng phiến đá xanh dẫn ra đường cái.

Cả làng Bát Tràng chìm sâu vào sự câm lặng đến rợn ngườị. Ba năm hạn hán triền miên dưới niên hiệu Thiệu Phong thứ tám đã bòn rút sạch sinh khí của dải đất ven đầm nước trù phú năm nào. Tiếng dế mèn, tiếng ễnh ương vốn quen thuộc nơi đồng bãi xứ Bắc nay bặt tăm; cỏ cây hai bên lối đi khô quắt queo, trơ trọi những cành khẳng khiu chĩa lên nền trời đêm đen kịt. Giữa cảnh tiêu điều ấy, mùi bùn rữa lâu ngày bốc lên từ lòng đầm hòa lẫn với mùi rơm rạ mục cháy, tạo thành thứ mùi ngột ngạt xộc thẳng vào cuống họng, đắng chát.

Tôi lần theo bờ dốc thoai thoải dẫn xuống lòng đầm Bát Tràng.

Trước khi rời khỏi huyện lỵ Đông Hà để về đây cứu tế, tôi từng nghe các bậc bô lão lưu truyền một lời đồn đại kỳ lạ. Người ta kể rằng giữa lòng đầm cạn trơ đáy này, sâu dưới lớp đất nẻ muôn trượng, vẫn còn một mạch nước ngầm bí ẩn không ngừng rỉ ra vào lúc canh ba. Mạch nước ấy được ví như mắt rồng của vùng đầm, nơi tàng ẩn giọt sống cuối cùng của đất trời. Dân gian truyền miệng nhau rằng ai tìm được nơi phát tích của mạch nước sẽ cứu được muôn dân thoát khỏi nạn hạn hán kinh hoàng. Song kẻ nào đến gần mắt nước cấm kỵ ấy vào giờ khắc âm khí thịnh nhất cũng khó lòng giữ nổi tính mạng, bởi đầm sâu vốn có loài thủy tộc ngự trị tự ngàn xưa.

Lời đồn đại nửa thực nửa hư ấy vốn khó thuyết phục được một viên quan hình án quanh năm đối mặt với án văn và chứng cứ xác thực như tôi. Nhưng biến cố kỳ dị vừa xảy ra buổi chiều tại sân đình - khi cả nồi cháo cứu tế bốc khói đen rồi hóa thành tro xám trong nháy mắt - đã bẻ gãy mọi suy luận thường tình. Cùng với đó là dáng vẻ bí ẩn của người nho sinh họ Lục, kẻ mang da thịt lạnh buốt và đôi mắt đen sâu hun hút, khiến lòng tôi trĩu nặng mối nghi ngờ. Nếu thật sự tồn tại một dòng nước rỉ ngầm dưới đáy đầm, tôi phải tự mắt chứng kiến, tự tay chạm vào để tìm lời giải cho thảm kịch đang bóp nghẹt mạng sống của hàng ngàn con người.

Lòng đầm Bát Tràng hiện ra trước mắt tôi tựa một miệng vực khổng lồ bị xé toạc.

Khi bước chân xuống khỏi dải bờ dốc đứng, mặt đất dưới chân tôi đổi khác hoàn toàn. Đó không còn là lớp đất thịt pha cát thông thường, mà là từng khối bùn khô nứt toác thành những khe rãnh chằng chịt, sâu hoắm. Có những kẽ nứt rộng đến nửa sải tay, thăm thẳm hun hút xuống tận đáy tối om. Tôi phải giơ cao chiếc đèn lồng, cẩn trọng dò dẫm từng bước để tránh sụt chân xuống những hố sâu nguy hiểm ấy.

Dưới đáy đầm hoang tàn, rải rác khắp nơi là xác những con thuyền gỗ đánh cá úa mục, chỏng chơ bộ sườn cong queo tựa như xương tàn của loài quái thú tiền sử. Vỏ ốc, vỏ trai chết khô phơi mình trắng bợt dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu, giòn vụn kêu răng rắc dưới đế giày vải của tôi. Khung cảnh thê lương lạnh lẽo bao trùm bốn bề, dẫu cho không khí xung quanh vẫn oi nồng ngột ngạt.

Tôi dừng chân bên một xác thuyền đánh cá đổ nghiêng, đưa tay áo quệt mồ hôi đang túa ra ròng ròng trên trán. Hơi nóng từ lòng đất bốc lên hầm hập, làm mắt tôi cay xè. Tôi nâng ngọn đèn soi quanh một lượt, cố tìm kiếm dấu vết ẩm ướt của một rãnh nước ngầm hay một vũng bùn còn đọng giọt sương đêm.

Khắp nơi trơ trụi một màu xám xịt của đất cằn. Những hòn đất vỡ vụn khi tôi dùng mũi giày dẫm nhẹ, khô khốc chẳng khác nào tro tàn vừa cời ra từ đáy lò gốm.

Tôi thở dài, ngẩng đầu nhìn về phía trung tâm của lòng đầm - nơi sâu nhất mà dân làng vẫn gọi là rốn đầm. Nơi ấy xưa kia vốn là vùng nước sâu không đáy, quanh năm bèo tây phủ kín, thuyền bè qua lại đều phải cẩn trọng giữ chèo vì sợ xoáy nước ngầm cuốn trôi. Nay vùng rốn đầm chỉ còn là một vùng trũng mịt mù bóng tối, im lìm tựa nấm mồ chôn cất sinh linh của cả một vùng sông nước.

Nghĩ đến ánh mắt xót xa của chàng trai họ Lục ban chiều khi nhìn vào chảo gang trơ khấc, bước chân tôi lại vô thức hướng về phía vùng trũng đen đặc ấy.

Càng tiến sâu vào trung tâm lòng đầm, mặt đất càng dốc đứng và gồ ghề hơn. Những vết nứt toác rộng hơn, đan cài vào nhau như mạng nhện quái gở. Cây đèn lồng trên tay tôi bắt đầu chao đảo mạnh khi một luồng gió lạ từ đâu thổi thốc tới.

Luồng gió ấy kỳ quặc vô cùng. Giữa đêm hè tháng sáu hầm hập như thiêu như đốt, ngọn gió này lại mang theo cái lạnh buốt thấu xương.

Tôi khựng lại, toàn thân sởn gai ốc. Luồng khí lạnh quét qua da thịt tôi khiến mồ hôi trên lưng lập tức đông cứng lại thành từng vệt nhớp nháp buốt giá. Đi kèm với cái lạnh phi tự nhiên ấy là mùi tanh nồng quen thuộc - mùi của lớp phù sa nằm sâu ngàn năm dưới đáy bùn lầy, mùi của loài rong rêu nguyên thủy chưa từng thấy ánh mặt trời.

Mùi hương này giống hệt thứ mùi tỏa ra từ vạt áo của Lục Hải Thụy lúc ban trưa.

Tôi hạ thấp ngọn đèn, nín thở đưa mắt quan sát xung quanh. Phía trước mặt tôi, cách chừng vài mươi bước chân nơi vùng trũng sâu nhất của đáy đầm, một hiện tượng dị thường đang diễn ra.

Giữa màn đêm khô khốc, một làn sương mù trắng xóa bỗng từ lòng đất đùn lên, quấn quýt bốc cao ngang tầm gối. Làn sương ấy lạnh ngắt, đặc quánh như sữa loãng, trườn bò trên những kẽ nứt nẻ của bùn khô. Ở một nơi hạn hán ba năm ròng rã, cây cỏ héo rũ vì thiếu nước, sự xuất hiện của làn sương mù dày đặc và buốt giá như sương mùa đông xứ Bắc là điều trái nghịch hẳn với lẽ trời.

Tôi nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, tay phải bất giác đặt lên chuôi thanh gươm hộ thân đeo bên hông. Từng bước thận trọng, tôi bước qua những bờ đất nứt, lách qua một thân cây khô trôi dạt từ nhiều năm trước nằm chắn ngang lối.

Qua làn sương trắng mờ ảo đang bập bùng trôi, tôi bỗng sững người.

Cách tôi chừng mười trượng, một bóng người đang đứng sừng sững giữa rốn đầm.

Bóng hình ấy vận một bộ trường bào màu trắng toát, đơn độc và tĩnh lặng tuyệt đối giữa hoang tàn đổ nát. Người nọ đứng quay lưng về phía tôi, hướng mặt về khoảng trời xa xăm phía đông đầm nước. Mái tóc đen dài quá vai xõa tung trong gió lạnh, bay dập dờn tựa những sợi rong rêu trôi nổi trong dòng nước siết.

Dưới ánh trăng mờ đục của đêm hạ tuần, thân hình người ấy thẳng tắp, bất động như một pho tượng đá được tạc nên từ muôn kiếp trước. Làn sương trắng cuộn xoáy dưới chân người nọ, dâng lên rồi lại hạ xuống theo từng nhịp thở mơ hồ của đất trời.

Dáng dấp ấy, khí chất thoát tục lẫn vẻ u uất bi thương ấy, tôi không thể nào nhầm lẫn.

Đó chính là Lục Hải Thụy, người nho sinh đỗ đầu bảng khoa thi Hương của lộ Bắc Hà, kẻ đang làm gia sư dạy chữ cho nhà họ Lý.

Tại sao chàng lại ở đây vào giờ khắc canh ba quạnh quẽ này? Một thư sinh trói gà không chặt, đêm hôm khuya khoắt một mình lặn lội xuống tận đáy đầm sâu hoang phế để làm gì? Chàng đang tìm kiếm điều gì giữa chốn bùn khô nứt nẻ, hay chính chàng là kẻ giấu giếm nguồn cơn của những tai ương đang giáng xuống mảnh đất này?

Hàng loạt câu hỏi xoay vần dồn dập, thôi thúc tôi tiến lại gần. Tôi nén tiếng thở, cố gắng không tạo ra bất kỳ tiếng động nào trên nền đất vụn. Ngọn đèn lồng giấy dầu được tôi che bớt ánh sáng bằng vạt áo ngoài, chỉ để hé một tia sáng mờ rọi xuống chân.

Tôi bước thêm năm bước, rồi mười bước.

Càng đến gần bóng lưng áo trắng kia, cái lạnh càng tỏa ra dữ dội. Hơi lạnh không đơn thuần là sự mát mẻ của đêm tối, mà là một thứ hàn khí buốt giá, xuyên thấu qua lớp áo vải thô, thấm thẳng vào từng thớ thịt, tủy xương. Mùi phù sa cổ xưa bốc lên nồng nặc đến nghẹt thở, ngai ngái mùi nước đọng đáy vực sâu, lấn át hoàn toàn mùi bụi đất khô cháy của làng quê ngoại thành.

Tôi dừng lại sau một gờ đất nhô cao, cách Hải Thụy chừng năm bước chân. Ở cự ly này, tôi có thể nhìn thấy rõ từng nếp gấp trên tà áo trắng tinh khôi của chàng.

Giữa một vùng đất cát bụi mù mịt, nơi bất kỳ ai đi qua cũng bị lớp bụi xám bám đầy vạt áo, thì bộ trường bào của chàng nho sinh lại sạch sẽ đến kỳ dị. Tà áo rủ xuống sát mặt đất nhưng không hề dính lấy một hạt bụi cát. Từng thớ vải buông thõng mềm mại, ẩm ướt, tựa hồ vừa được vớt lên từ một làn nước trong vắt.

Chàng đứng đó, hai tay chắp sau lưng, ngước nhìn lên bầu trời đen thẳm không một gợn mây. Tấm lưng chàng thẳng tắp nhưng lại toát lên một nỗi cô độc cùng cực, một gánh nặng vô hình dường như đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc. Chàng không hề nhúc nhích, đến cả lồng ngực cũng không hề phập phồng theo nhịp thở của người sống.

Tôi đưa mắt nhìn xuống dưới chân chàng, định bụng tìm xem chàng đang đứng trên phiến đá hay gờ đất nào.

Cảnh tượng lọt vào mắt khiến tim tôi đập thắt lại một nhịp, bàn tay nắm chuôi gươm xiết chặt đến trắng bệch các khớp ngón.

Mặt đất dưới chân Lục Hải Thụy hoàn toàn không giống với bất kỳ nơi nào trên lòng đầm cạn này.

Những kẽ nứt nẻ toác toang của lớp bùn khô cằn, ngay tại vị trí chàng đứng, dường như đã bị một sức mạnh vô hình nào đó hàn gắn lại. Lớp đất nơi ấy sẫm lại thành một màu nâu đen bóng bẩy, sũng nước và trơn tuột.

Kỳ lạ hơn cả, kéo dài từ mép chân chàng ngược về phía khoảng tối mịt mùng của đáy đầm phía sau, in hằn một vệt nước dài ngoằng, lóng lánh ánh sáng dưới vầng trăng muộn.

Vệt nước ấy rộng chừng hai gang tay, uốn lượn ngoằn ngoèo trên mặt bùn nứt nẻ. Nó không phải là dòng nước chảy tự nhiên từ trên cao xuống thấp, bởi lòng đầm nơi này hoàn toàn bằng phẳng. Vệt nước ấy sền sệt, lấp loáng chất nhớt trơn bóng, in sâu vào nền đất một vệt trũng nhẵn thín.

Dấu vết ấy trông hệt như đường trườn bò của một loài thủy quái khổng lồ, một sinh vật mang thân hình to lớn phủ đầy chất nhờn vừa mới trườn qua đây từ đáy sâu hun hút, để lại vệt nước ẩm ướt lấp lánh giữa cơn đại hạn nghìn năm có một.

Nước! Thật sự là nước!

Giữa vùng đất chết chóc không còn lấy một giọt sương rơi, nơi hàng trăm con người đang quằn quại chết khát từng ngày, thì ngay dưới chân người nho sinh này lại tuôn trào một vệt nước ẩm ướt lạ lùng. Thứ nước ấy không hề thấm rút vào lòng đất khô cằn xung quanh, ngược lại còn bốc lên từng làn khói lạnh mỏng manh, giữ cho lớp bùn dưới chân chàng luôn mềm mại và ướt đẫm.

Mùi tanh nồng của bùn sâu bốc lên từ vệt nước ấy nồng nặc đến mức khiến tôi choáng váng. Đó chính xác là mùi hương tôi đã ngửi thấy trên người chàng khi đỡ tay chàng ở sân đình trưa nay.

Lục Hải Thụy rốt cuộc là ai? Là một bậc tài tử ẩn dật mang dị thuật cầu nước, hay chính là hiện thân của loài thủy tộc trong truyền thuyết dân gian, kẻ mang theo dấu vết trườn bò của vực sâu lên chốn nhân gian này?

Cơn gió lạnh lại thốc lên một đợt dữ dội, làm mép áo trắng của Hải Thụy bay phần phật.

Tôi hít một hơi thật sâu, ngón tay cái khẽ đẩy chốt kiếm ra khỏi bao một tấc, phát ra một tiếng "cạch" rất nhỏ giữa đêm thanh vắng. Tôi nhấc cây đèn lồng lên cao, ánh lửa vàng rọi thẳng vào tấm lưng bất động của người nho sinh, phá tan màn sương mù mờ ảo.

- Lục tiên sinh! Nửa đêm canh ba, ngài một mình đứng giữa lòng đầm cạn này để tìm kiếm điều gì?

Tiếng nói của tôi vang lên, dõng dạc và đanh thép, xé toạc sự tĩnh mịch ngột ngạt của lòng đầm Bát Tràng.

Bóng hình áo trắng khẽ lay động. Chàng từ từ nghiêng đầu lại, mái tóc đen dài rủ xuống che khuất nửa khuôn mặt lạnh lùng trong bóng tối.

Chương khác

Xem thêm