Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 5: Chạm Mặt Nho Sinh Họ Lục

Mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng tre xơ xác ở rìa làng, hơi nóng hầm hập từ mặt đất đã bốc lên ngùn ngụt. Đất đai Bát Tràng cằn cỗi suốt ba năm đại hạn,…

Nội dung chương

Mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng tre xơ xác ở rìa làng, hơi nóng hầm hập từ mặt đất đã bốc lên ngùn ngụt. Đất đai Bát Tràng cằn cỗi suốt ba năm đại hạn, nay gặp cái nắng tháng sáu lại càng nứt toác ra thành những đường rãnh sâu hoắm, tựa hồ da thịt của một kẻ trúng độc khô quắt queo.

Tôi khoác tấm áo tràng bằng vải thô màu chàm, cài then bao gươm bên hông rồi rảo bước về phía đầu thôn. Cảnh tượng vệt nước lầy nhầy cùng những chiếc vảy ngũ sắc lấp loáng dưới lớp da cổ của Lục Hải Thụy đêm qua vẫn đè nặng trên lồng ngực tôi suốt một đêm mất ngủ. Sinh vật ấy - nếu quả thật chàng thuộc về loài thủy tộc chốn vực sâu - cớ sao lại ẩn nhẫn nép mình dưới danh phận một hàn sĩ nghèo hèn giữa nơi trần tục?

Tư gia họ Lý sừng sững nằm ở gò đất cao nhất đầu làng. Khác hẳn với những mái nhà tranh vách đất tả tơi chung quanh, dinh cơ này xây tường gạch Bát Tràng nung già màu nâu sẫm, cổng lớn bằng gỗ lim đóng đinh đồng sáng bóng, mái ngói vảy cá rêu phong phủ kín nhưng nay đã bị nắng nung cháy xém thành màu tro xám. Gia chủ là Lý Văn Sùng, một hào trưởng giàu có bậc nhất huyện Đông Hà, dòng dõi nhiều đời giữ chức dịch thôn trang và nắm trọn đường buôn gốm sứ ven sông Hồng.

Thấy tôi xuất hiện bên ngoài cánh cổng lim, hai tên gia đinh mặc áo nẹp đỏ lập tức chạy vào trong bẩm báo. Chưa đầy nửa khắc sau, tiếng guốc gỗ khua lẹp kẹp vội vã vang lên sau bức bình phong gốm hoa lam. Lý Văn Sùng đích thân bước ra, tà áo the lụa phe phẩy, khuôn mặt tròn béo ướt đẫm mồ hôi, vừa chắp tay vái dài vừa cất giọng run rẩy:

- Bẩm Khâm sai đại nhân! Sớm nay nghe tiếng quạ kêu trên nóc từ đường, thảo dân cứ ngỡ có điềm gở, ngờ đâu lại được đón rước đại quan giá lâm! Kính xin ngài thứ lỗi cho kẻ hèn này chưa kịp trải chiếu hoa dâng trà nghênh đón!

Tôi giơ tay cản lễ, bước qua bậu cửa đá xanh mát rượi:

- Lý trưởng không cần đa lễ. Bản quan vâng mệnh triều đình về đây cứu tế, đêm ngày lo nghĩ việc dân sinh đói khát, đi quanh thôn xóm thấy tư gia của ông bề thế trang nghiêm, lại nghe nói trong nhà có rước thầy đồ về mở lớp dạy dỗ con trẻ. Ta vốn xuất thân từ chốn cửa Khổng sân Trình, đi ngang qua nghe tiếng đọc sách thì động lòng muốn vào thăm, xem việc học hành lễ nghĩa của con em làng gốm ra sao.

Nghe tôi nói vậy, sắc mặt Lý Văn Sùng giãn ra đôi chút, vội vàng nghiêng mình dẫn đường:

- Dạ bẩm đại nhân, ngài thật là bậc phụ mẫu chi dân, trăm mối lo toan vẫn không quên chăm lo đạo học! Nhà thảo dân phúc mỏng, sinh được hai đứa cháu nội ngỗ ngược khó bảo. May nhờ nửa năm trước rước được thầy Lục về dạy dỗ, lũ trẻ mới biết nề nếp khuôn phép. Thầy Lục đang dạy chữ ở chái đông, xin đại nhân quá bộ sang xem.

Chúng tôi rảo bước qua khoảng sân gạch thênh thang. Dưới cái nắng gắt gao như thiêu đốt, từng viên gạch lát sân nóng ran đến mức bốc lên mùi đất nung khét lẹt. Thế nhưng, khi vừa bước chân vào hành lang dẫn sang chái nhà phía đông, một luồng khí mát lành bỗng từ đâu ùa tới, xua đi phần lớn nỗi bức bối trong người tôi.

Học đường là một gian nhà ba gian lợp ngói âm dương, bốn bề trổ cửa chấn song con tiện bằng gỗ mun. Đứng ngoài hiên nhìn qua khe cửa, tôi thấy hai đứa trẻ chừng chín, mười tuổi đang quỳ ngay ngắn trước hai chiếc bàn gỗ thấp.

Ngồi trên chiếc phản gỗ gụ phía trên là Lục Hải Thụy.

Chàng mặc một bộ trường bào vải thô màu xanh lơ mộc mạc, mái tóc đen nhánh buông dài quá vai được cố định bằng một chiếc trâm cài bằng cành liễu khô. Dáng ngồi của chàng thẳng tắp, bờ vai thanh mảnh toát lên vẻ mực thước khoan thai. Trên chiếc bàn gỗ trước mặt chàng chỉ đặt một nghiên mực bằng đá màu lam sẫm, một quản bút lông đóm và một tập giấy bản vàng ngà.

- "Nhân chi sơ, tính bản thiện. Tính tương cận, tập tương viễn..."

Giọng chàng cất lên, trầm ấm và vang vọng lạ kỳ. Tiếng đọc sách của chàng không the thé như đám thầy đồ làng khác, mà dập dềnh, mát rượi, êm đềm hệt như tiếng dòng nước ngầm đang len lỏi dưới chân đá tảng. Hai đứa trẻ họ Lý chăm chú nhìn theo ngọn bút trúc trên tay chàng, khuôn mặt ngây thơ lộ rõ vẻ say mê, không hề có nét lười nhác hay sợ sệt.

Tôi đứng lặng ngoài hiên, quan sát từng cử chỉ của người nho sinh. Dưới ánh nắng rực rỡ hắt qua chấn song, khuôn mặt chàng trắng bệch không một vệt máu, nhưng các đường nét lại thanh tú đến mức thoát tục. Đôi mắt đen sâu thẳm như giếng nước không đáy, phẳng lặng không gợn một tia dao động. Điều kỳ lạ nhất là giữa trưa hè nực nội khiến áo lụa của Lý Văn Sùng ướt đẫm dính chặt vào lưng, thì trên trán Hải Thụy lại tuyệt nhiên không có lấy một giọt mồ hôi. Tà áo xanh của chàng rủ xuống phẳng phiu, khô ráo và tỏa ra một hơi mát dịu nhẹ, khiến lũ trẻ ngồi gần chàng dường như cũng được hưởng chút thanh lương, nét mặt vô cùng thư thái.

Chàng dừng bút, ngẩng đầu lên. Ánh mắt chàng xuyên qua chấn song gỗ lim, chạm thẳng vào mắt tôi. Hải Thụy không hề tỏ ra kinh ngạc hay lúng túng. Chàng đặt bút xuống giá gỗ, đứng dậy vái chào hai đứa trẻ, rồi chắp tay hướng về phía tôi khẽ cúi đầu hành lễ, cử chỉ đoan trang tột bậc đúng phong thái của một bậc Nho gia đỗ đạt.

Tôi khẽ gật đầu đáp lễ, rồi quay sang bảo Lý Văn Sùng:

- Tiên sinh dạy học quả nhiên nghiêm cẩn, cốt cách hơn người. Bản quan không muốn làm kinh động việc học của các cháu. Lý trưởng hãy cứ đi lo việc làng, để mặc ta tản bộ ngắm cảnh vườn tược một lát.

Lý Văn Sùng vâng dạ rối rít, dặn dò gia nhân bưng trà hầu hạ rồi lui gót ra nhà ngoài lo việc sổ sách cứu tế.

Tôi đứng bên bóng râm của rặng cau già, nhìn theo một lão bộc lưng còng đang cầm chiếc chổi tre quét lá rụng bên góc sân. Lão tên là Quát, mái tóc bạc phơ, đôi bàn tay khô ráp nứt nẻ như vỏ cây ổi. Thấy tôi bước tới, lão hốt hoảng toan quỳ xuống lạy.

- Lão trượng cứ bình thân. Ta chỉ muốn hỏi thăm đôi điều về sinh hoạt trong phủ.

Tôi đỡ tay lão bộc, khẽ đưa mắt nhìn về phía chái học đường bên kia:

- Thầy đồ họ Lục kia trông còn trẻ tuổi mà phong thái đĩnh đạc, hẳn là người vùng này?

Lão Quát đưa tay áo chùi mồ hôi trên trán, nhìn quanh quất rồi ghé sát tai tôi, hạ thấp giọng thì thào:

- Bẩm quan lớn, thầy Lục trôi dạt về đây độ nửa năm trước, tự xưng là học trò nghèo quê ở mạn bến đầm cạn. Ông chủ thấy thầy chữ tốt văn hay, lại thuộc làu kinh sử nên mới giữ lại dạy dỗ công tử. Thầy tính tình hiền lành, độ lượng với kẻ ăn người ở lắm, chưa từng mắng mỏ ai nửa lời. Nhưng mà... quái lạ lắm quan lớn ơi!

Tim tôi giật thót, giọng vẫn giữ vẻ bình thản:

- Có điều gì quái lạ? Lão cứ nói thực, bản quan tuyệt đối không trách tội.

Lão Quát nuốt nước bọt, giọng nói run rẩy:

- Con ở nhà họ Lý này bốn mươi năm có lẻ, chưa từng thấy người nào kỳ quặc như thầy Lục. Thầy sợ lửa nến hơn sợ cọp dữ. Trong phòng thầy, quanh năm suốt tháng không bao giờ thắp một ngọn đèn dầu, cũng chẳng bao giờ cho gia nhân mang nến sáp vào. Hễ thấy ai cầm đuốc hay lò than đi ngang qua là thầy liền né tránh, mặt mũi tái mét đi, hơi thở dồn dập như người sắp chết ngạt.

- Thầy ấy không thắp đèn thì đêm hôm đọc sách, viết chữ ra sao? - Tôi cau mày hỏi.

- Dạ, thầy chỉ mở toang cửa sổ nhìn ra đầm nước mà đọc trong đêm tối mịt. Mắt thầy hình như nhìn thấu được bóng đêm. Đáng sợ hơn nữa là việc ăn uống... Nửa năm nay, lũ con hầu trong bếp chưa từng thấy thầy đụng đến một bát cơm nóng hay một ngụm nước sôi. Bữa ăn của thầy chỉ có mấy củ ấu sống ngâm bùn, vài cọng rau sam dại nhúng nước lã. Thức ăn nóng hổi bưng vào phòng, thầy đều bảo mang ra. Có lần con tận mắt thấy thầy khát nước, bèn múc một gáo nước giếng đục ngầu cặn vôi vừa kéo dưới đáy sâu lên, cứ thế uống cạn một hơi mà không hề đun nấu. Người phàm ăn uống như thế, ruột gan nào mà chịu nổi hả quan lớn?

Những lời của lão Quát như từng nhát búa nện thẳng vào mối nghi ngờ trong lòng tôi. Một người sống giữa chốn trần gian mà cự tuyệt hơi ấm của lửa than, cự tuyệt đồ ăn chín, chỉ khao khát nước lạnh và bùn sâu. Dấu vết vảy rồng ngũ sắc trên cổ chàng đêm qua lại một lần nữa hiện về rõ rệt trong tâm trí tôi.

Đúng lúc ấy, tiếng chuông đồng báo giờ ngơi học vang lên từ chái đông. Hai đứa trẻ họ Lý ôm tập sách cúi đầu chào thầy rồi ùa chạy ra sân đuổi bắt chuồn chuồn. Lục Hải Thụy từ tốn dọn dẹp nghiên bút trên bàn, đoạn bước ra khỏi học đường, thong thả đi về phía rặng tre rậm rạp ở góc tây nam của hoa viên, nơi có một gian nhà tranh biệt lập xây cất bên mép hào nước đã cạn khô.

Chờ cho bóng áo xanh của chàng khuất hẳn sau vòm cây, tôi bảo lão Quát lui đi, rồi một mình cất bước theo lối mòn lát đá cuội hướng về gian nhà tranh ấy.

Nơi đây tách biệt hoàn toàn với vẻ xa hoa, ồn ã của đại trạch họ Lý. Bốn bề im ắng đến rợn người, chỉ có tiếng gió xào xạc qua những tán tre xơ xác. Cánh cửa liếp của gian nhà khép hờ, không cài then. Tôi đứng trước bậc thềm đất nện, hít một hơi thật sâu rồi khẽ đẩy nhẹ cánh cửa bước vào.

Một luồng hàn khí lạnh buốt lập tức ập vào mặt tôi.

Không khí bên trong căn phòng ẩm ướt và lạnh ngắt, trái ngược hoàn toàn với cái nóng bức như thiêu như đốt ngoài trời. Căn phòng không hề có lò sưởi, cũng không có chậu băng giải nhiệt, nhưng nhiệt độ thấp đến mức khiến từng sợi lông tơ trên cánh tay tôi dựng đứng lên. Hơi nước mỏng manh lơ lửng trong không gian mờ tối, bốc lên mùi ngai ngái quen thuộc của bùn non và phù sa cổ xưa.

Gian phòng bài trí hết sức thanh đạm. Ở góc phòng đặt một chiếc giá sách bằng tre chất đầy những cuộn thẻ tre cổ kính và kinh thư đóng bìa xanh. Trên chiếc bàn dài mộc mạc kê sát vách đất, một ngọn đèn dầu bằng đồng thau nằm trơ trọi. Tôi bước lại gần ngọn đèn, đưa ngón tay quẹt nhẹ lên đầu bấc.

Bấc đèn trắng tinh, khô cong và bám một lớp bụi mỏng. Chén dầu cạn khô đáy, hoàn toàn không có mùi dầu lạc hay mỡ lợn cháy. Rõ ràng từ ngày được đặt lên chiếc bàn này, ngọn đèn chưa từng một lần được nhóm lửa.

Ánh mắt tôi chuyển sang góc đối diện, nơi đặt chiếc chõng tre dùng làm chỗ ngả lưng của người nho sinh.

Trên chõng không hề có đệm rơm, cũng không trải chiếu cói dệt hoa như tập tục của người vùng đồng bằng. Chỉ có một tấm chiếu rách đan bằng sợi cói nước đã mòn vẹt. Và ở đầu chõng, thay vì một chiếc gối nhồi bông gòn hay gối gỗ mun, lại là một phiến đá xanh nguyên khối.

Phiến đá ấy dài chừng hơn một thước, bề mặt nhẵn thín và lõm xuống ở giữa theo hình dáng của đầu người. Khi tôi bước lại gần chiếc chõng, một cảnh tượng kỳ dị đập vào mắt khiến tôi phải nín thở.

Từ bề mặt nhẵn bóng của phiến đá xanh, từng giọt nước li ti đang tự động ngưng tụ lại, rỉ ra mờ ảo như một làn sương sớm. Nước đọng thành từng dòng nhỏ ngoằn ngoèo, chảy dọc theo thân đá rồi tí tách nhỏ xuống rãnh tre của chiếc chõng. Đất dưới chân chõng ẩm ướt sũng nước, tạo thành một vũng bùn nhỏ sẫm màu. Giữa cơn đại hạn ba năm trời khiến vạn vật khô héo nứt nẻ, chiếc gối đá này lại không ngừng tuôn trào hơi ẩm, tựa hồ nó được đục ra từ tận đáy sâu của một mạch nước ngầm ngàn năm không bao giờ cạn.

Tôi cúi người xuống, đưa bàn tay chạm vào phiến đá.

Cái lạnh thấu xương lập tức truyền qua da thịt, chạy dọc sống lưng khiến các khớp ngón tay tôi tê dại. Nhưng cùng lúc đó, một mùi hương kỳ lạ xông thẳng vào cánh mũi tôi.

Mùi hương ấy không phải là mùi tanh hôi của nước cống rãnh, mà là một mùi thơm ngào ngạt, thanh khiết và cổ xưa đến nghẹt thở. Đó là hương thơm của những đóa hoa sen ngàn năm bị vùi lấp dưới lớp bùn sâu hun hút, nay gặp hơi lạnh mà tỏa ra ngào ngạt, xua tan hoàn toàn cái oi bức chết chóc của nhân gian. Mùi hương bùn sen ấy dường như mang theo cả nỗi bi ai thăm thẳm của một sinh vật cô độc đã chìm dưới đáy nước hàng thế kỷ.

Bàn tay tôi run lên bần bật. Tôi rụt tay lại, giấu vào trong ống tay áo rộng.

Lục Hải Thụy thực sự là một ấu trùng Giao Long tu luyện thành hình người. Tất cả những dấu vết từ vệt nước trườn trên đầm cạn, những chiếc vảy lấp lánh nơi cổ áo, nỗi kinh sợ lửa nến, cho đến chiếc gối đá rỉ nước và mùi hoa sen ngàn năm này... đều chứng minh rằng chàng không thuộc về thế giới của ánh sáng mặt trời và lửa đỏ.

Nhưng nếu chàng là loài thủy tộc mang quyền năng hô mưa gọi gió, tại sao chàng lại trơ mắt nhìn dân chúng Bát Tràng chết khát từng ngày? Tại sao chàng lại chọn cách ẩn mình trong căn nhà tranh ẩm ướt này để dạy dỗ con trẻ, nhẫn nhục chịu đựng sự dòm ngó của thế gian?

Gió ngoài vườn bỗng thốc mạnh vào ô cửa sổ, làm lay động bức rèm lụa mỏng màu lam buông rủ ở vách ngăn phía sau giá sách.

Ánh sáng mờ ảo của buổi trưa hắt qua khe rèm rủ, soi rọi lên một góc của bức tường phía sau. Ở nơi khuất nẻo ấy, lấp ló một cuộn tranh trục lớn bằng giấy lệnh đóng khung gỗ trắc, nửa kín nửa hở sau làn lụa mỏng manh. Nét mực thủy mặc đen sẫm trên mặt tranh dường như đang lay động, tỏa ra một làn hơi nước bàng bạc, kéo trọn ánh nhìn đầy nghi hoặc của tôi về phía góc tối mịt mùng.

Chương khác

Xem thêm