Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 6: Bức Họa Đầm Sâu
Tôi đứng lặng hồi lâu trước chiếc gối đá đang rỉ nước, cố nén nhịp đập dồn dập nơi lồng ngực. Cái lạnh từ phiến đá vẫn còn bám chặt trên mười đầu ngón…
Nội dung chương
Tôi đứng lặng hồi lâu trước chiếc gối đá đang rỉ nước, cố nén nhịp đập dồn dập nơi lồng ngực. Cái lạnh từ phiến đá vẫn còn bám chặt trên mười đầu ngón tay, buốt nhói tận xương tủy. Cơn gió hầm hập từ ngoài sân lại thổi tới, luồn qua song cửa liếp làm lay động tấm rèm lụa mỏng màu lam che chắn ở vách ngăn phía sau giá sách.
Sau bức rèm ấy, bóng dáng của cuộn tranh trục lớn bằng giấy lệnh đóng khung gỗ trắc lộ ra rõ nét hơn. Mặt giấy sẫm màu dưới ánh sáng le lói, toát ra một làn khí lạnh ẩm ướt khác thường.
Tôi bước chậm rãi vòng qua giá sách, đưa tay nhẹ nhàng vén tấm rèm lụa sang một bên.
Bức tranh trục có chiều dài gần bốn thước, được treo ngay ngắn trên bức vách đất thô mộc. Khung gỗ trắc đen bóng chạm trổ hình hoa sen chìm, bốn góc bọc đồng đã ngả màu ten xanh cổ kính. Nhưng điều thực sự hút chặt đôi mắt tôi lại chính là nội dung được khắc họa trên bề mặt giấy lệnh dày dặn.
Đó là một bức tranh thủy mặc vẽ toàn cảnh đầm Bát Tràng, nhưng không phải vùng đất cằn cỗi, nứt nẻ với những xác cá khô phơi bụng mà tôi vừa đi qua sáng nay.
Mặt đầm trong tranh trải dài ngút ngàn đến tận chân trời, sóng nước dập dềnh cuồn cuộn dưới ngọn bút lông mềm mại. Từng dải sóng biếc đan xen tầng tầng lớp lớp, vẽ nên một vùng nước sâu thẳm, mênh mông vô tận. Hai bên bờ, những rặng sậy, bãi cói xanh um rủ bóng xuống dòng nước phẳng lặng. Phía xa xa, vài chiếc thuyền nan thả lưới lững lờ trôi giữa làn sương khói mờ ảo của buổi sớm mai. Bầy chim le le, bói cá chao liệng trên mặt nước, tạo nên khung cảnh trù phú, thanh bình đến nghẹt thở.
Tôi đứng ngắm bức họa, cổ họng bỗng khô khốc. Ba năm ròng rã trời không đổ một giọt mưa, toàn cõi Bắc Hà nắng thiêu cát bỏng, đến cả sông Hồng còn cạn trơ đáy đá, vậy mà trên tờ giấy này, cả một trời nước non sống động của ngày xưa lại hiện hữu nguyên vẹn. Từng nét mực đậm nhạt biến ảo khôn lường, vừa phóng khoáng vừa nặng trĩu một nỗi u hoài khôn tả. Ở góc trên bên trái bức tranh, một dòng lạc khoản viết bằng lối chữ thảo thanh thoát, phóng dật như rồng bay phượng múa:
*"Thiệu Phong ngũ niên, mạnh hạ, Lục Hải Thụy đề."*
Năm Thiệu Phong thứ năm, tức là ba năm về trước, đúng vào thời điểm cơn đại hạn bắt đầu giáng xuống vùng đất này. Khi ấy, người thanh niên họ Lục vừa tròn hai mươi mốt tuổi và mới đỗ đầu khoa thi Hương.
Tôi bất giác tiến lại gần hơn, muốn nhìn rõ từng chi tiết trên mặt giấy.
Đột nhiên, đồng tử tôi co thắt lại.
Dưới ánh sáng mờ tối của căn phòng, mặt nước trong bức họa lay động.
Từng lọn sóng vẽ bằng mực nho đen sẫm khẽ gợn lên. Những đường vân sóng uốn lượn chầm chậm, nhấp nhô theo một nhịp điệu kỳ dị, giống hệt như có một luồng nước ngầm đang cuộn trào ngay bên dưới mặt giấy. Hơi nước mát lạnh phả ra từ bức tranh mơn man trên gò má tôi, mang theo vị mằn mặn của bùn non và hương sen ngàn năm thơm ngát.
Tôi nín thở, ngỡ rằng mắt mình bị hoa râm do cơn mệt mỏi ban trưa. Để kiểm chứng, tôi chầm chậm vươn ngón tay trỏ ra, chạm nhẹ vào tâm điểm của xoáy nước đen kịt nơi lòng đầm trên mặt tranh.
Một cảm giác ươn ướt, lạnh buốt ập vào đầu ngón tay tôi.
Mặt giấy lệnh mềm nhũn ra dưới sức ép của ngón tay, lún xuống nhẹ nhàng như khi ta ấn vào một mặt nước thực thụ. Khi tôi rụt tay về, đầu ngón tay đã ướt đẫm một vệt mực đen đặc quánh. Mực không hề khô se lại theo năm tháng mà vẫn ẩm ướt, nhớp nháp, rỉ ra một chất lỏng đen nhánh mang theo mùi phù sa nồng đậm.
Ngay tại chỗ ngón tay tôi vừa chạm vào, lớp mực đen bỗng dạt sang hai bên, để lộ ra phần đáy sâu thăm thẳm của bức họa.
Dưới tầng nước mực đen ngòm ấy, một hình thù khổng lồ cuồn cuộn hiện lên. Đó là những khúc thân dài uốn lượn chìm nổi trong lòng đầm, bao bọc bởi lớp vảy ngũ sắc lấp lánh ẩn hiện dưới đáy giấy. Từng chiếc vảy khẽ lay động theo chuyển động của dòng nước mực, tỏa ra thứ ánh sáng huyền bí, bi tráng của loài linh thú chốn đầm sâu.
- Bức họa này vẽ lúc đầm nước Bát Tràng chưa cạn kiệt, dân làng khi ấy còn có cá ăn cơm trắng, trẻ con còn được ngụp lặn tắm mát mỗi buổi chiều tà.
Một giọng nói trầm ấm vang lên từ phía sau lưng tôi. Tiếng nói trầm đục có âm vang dội lại, giống tiếng nước chảy qua hang đá ngầm sâu hút.
Tôi giật mình quay phắt lại, bàn tay thuận theo bản năng đặt ngay lên chuôi đoản đao bên hông.
Lục Hải Thụy đã đứng ở ngưỡng cửa tự bao giờ.
Chàng mặc bộ áo vải thô màu xanh nhạt quen thuộc, hai tay chắp trước bụng, dáng đứng thẳng tắp như cây tùng bên bờ nước. Mái tóc đen dài quá vai xõa tự nhiên sau lưng, sắc mặt vẫn trắng bệch không có lấy một tia huyết sắc. Dưới chân chàng, lớp đất nện khô khốc của gian phòng lại bắt đầu rỉ ra những giọt nước li ti, tụ lại thành một vệt ẩm mướt viền quanh đôi hài vải.
Đôi mắt đen sâu hun hút của người nho sinh nhìn thẳng vào tôi, không chút kinh ngạc, cũng không có vẻ gì là tức giận khi thấy một vị quan triều đình tự tiện lục lọi chốn riêng tư của mình. Ánh mắt ấy chỉ chan chứa một nỗi buồn trầm mặc, sâu thẳm như lòng đầm ngàn trượng.
Tôi buông tay khỏi chuôi đao, khẽ giấu ngón tay còn dính mực đen vào trong ống tay áo, cất giọng trầm giọng:
- Lục tiên sinh vào phòng mà không hề có tiếng bước chân.
Hải Thụy cúi đầu thi lễ, cử chỉ đoan chính chuẩn mực của kẻ sĩ chốn Nho gia:
- Thảo dân thất lễ, làm kinh động đến Khắc Sinh đại nhân. Thấy ngài say sưa ngắm bức họa vụng về của kẻ hèn này, thảo dân không nỡ cất lời làm đứt mạch suy tư của ngài.
Tôi bước ra khỏi góc vách ngăn, đứng đối diện với chàng giữa gian phòng lạnh buốt:
- Nét vẽ của tiên sinh phóng khoáng phi phàm, cổ kính uy nghiêm, sao có thể gọi là vụng về? Ta chỉ thấy kỳ lạ, giấy lệnh để ba năm trong tiết trời đại hạn này, đáng lẽ phải khô giòn mục nát, cớ sao mực vẽ lại ẩm ướt như vừa mới hạ bút? Hơn nữa... nước trong tranh lại có thể lay động?
Hải Thụy ngước mắt nhìn bức tranh trục trên tường. Khóe môi chàng khẽ nhếch lên một nụ cười cay đắng:
- Tranh do tâm vẽ, mực do chí tạo. Người vẽ tranh đem trọn hồn phách gửi vào từng ngọn cỏ con sóng, nên khi hồn còn đau đáu nhớ nước, thì mực trên giấy làm sao khô cho đành? Đại nhân là bậc minh quan, nhìn thấu sự đời, cớ sao lại bận lòng vì chút tàn tích của một bức tranh chết?
- Một bức tranh chết? - Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt đen sâu thẳm của chàng, gằn từng tiếng. - Ta thấy nó còn sống động hơn cả cái làng Bát Tràng cằn cỗi ngoài kia. Nhưng Lục tiên sinh, điều khiến ta băn khoăn hơn cả bức tranh này, chính là bản thân tiên sinh.
Hải Thụy im lặng, lắng nghe. Gian phòng tĩnh mịch đến mức nghe rõ từng giọt nước tí tách nhỏ từ chiếc gối đá xanh xuống sàn đất nện.
- Hai năm trước, tiên sinh đỗ đầu khoa thi Hương tại phủ Bắc Hà, danh chấn kinh kỳ, người người đều ngợi ca là bậc kỳ tài xuất chúng. Triều đình đang lúc cần hiền tài, nếu tiên sinh bước chân vào chốn quan trường, tiền đồ ắt rực rỡ muôn phần. Cớ sao tiên sinh lại ẩn tích chôn danh, cam chịu đến chốn thôn cùng ngõ hẻm này làm một kẻ gia sư gõ đầu trẻ cho nhà phú hộ họ Lý?
Tôi bước thêm một bước, áp sát người thanh niên họ Lục. Khoảng cách gần khiến luồng hàn khí từ cơ thể chàng phả thẳng vào da thịt tôi, lạnh buốt đến rợn người.
- Tiên sinh có tài kinh bang tế thế, lại mang trong mình... những điều dị thường mà người phàm không thể có. Vì cớ gì lại đứng nhìn bá tánh chết đói, chết khát từng ngày mà không dùng sở học hay dị năng của mình để cứu giúp?
Nghe tôi hỏi, thân hình gầy gò của Hải Thụy khẽ run rẩy. Chàng nhắm mắt lại, một hơi thở dài nặng trĩu thoát ra từ lồng ngực. Khi chàng mở mắt ra, trong đáy mắt thăm thẳm ấy cuộn lên những đợt sóng bi thương tột cùng.
- Đại nhân trách thảo dân ư? - Giọng chàng nghẹn lại, âm hưởng trầm đục như tiếng sấm rền nơi đáy vực. - Ngài cho rằng thảo dân đỗ đạt Hương nguyên là để mưu cầu áo gấm vinh quy, hay ngài nghĩ đạo học của thánh hiền có thể ngăn được mệnh trời tàn khốc?
Chàng quay người lại, bước đến bên chiếc bàn dài mộc mạc, nơi ngọn đèn dầu bám bụi vẫn nằm trơ trọi. Bàn tay tái nhợt của chàng khẽ lướt qua những cuộn kinh thư đóng bìa xanh.
- Thảo dân đọc vạn cuốn sách, học kinh luân của cổ nhân, thi đỗ khoa cử, cũng chỉ vì một tâm niệm duy nhất: muốn tìm ra phương cách cứu vớt cõi nhân gian lầm than này. Thảo dân từng tin rằng chữ nghĩa của thánh hiền có thể khai hóa lòng người, mở mang bờ cõi, đem lại thái bình thịnh trị. Nhưng khi cơn đại hạn kéo đến, trời cao khép lại mạch nước, đất mẹ nứt toác thành từng hố sâu, thảo dân mới nhận ra sự bất lực đến đau đớn của cái gọi là đạo học.
Hải Thụy nắm chặt hai bàn tay lại, các đốt ngón tay trắng bệch kêu răng rắc.
- Sách vở có làm cho lúa trổ bông giữa đồng khô cháy sém? Lời răn của Khổng, Mạnh có làm cho giếng cạn trào ra nước ngọt để đứa trẻ sơ sinh khỏi chết khô trên bầu vú mẹ? Khi con người ta đói đến mức phải ăn đất sét, khát đến mức phải uống nước tiểu của nhau, thì đạo đức, lễ nghĩa, chữ nghĩa thánh hiền đều trở thành những thứ đồ sành rách nát, chẳng đáng giá một nắm cám thiu!
Lời chàng thốt ra như những nhát dao cứa vào lòng người nghe. Tôi đứng chết lặng. Bản thân tôi làm quan cứu tế, rong ruổi khắp các nẻo đường Bắc Hà, tận mắt chứng kiến những thảm cảnh nhân gian mục nát, tôi hiểu thấu nỗi uất nghẹn tột cùng trong từng câu chữ của chàng.
- Vậy nên tiên sinh chọn cách trốn tránh ở đây? - Tôi cất giọng khàn khàn.
- Thảo dân không trốn tránh! - Hải Thụy quay phắt lại, ánh mắt rực lên một ngọn lửa u tối. - Thảo dân ở lại làng Bát Tràng này là để trả nợ. Mảnh đất này, đầm nước này từng cưu mang, dung dưỡng thảo dân suốt mấy trăm năm... Thảo dân nhìn xóm làng úa tàn từng ngày, nhìn những người từng chia cho nhau từng con cá mớ rau nay cầm cuốc xẻng chém giết lẫn nhau chỉ vì một bát nước đục, nỗi đau ấy xé nát tim gan thảo dân hơn bất kỳ ai!
- Nếu đã đau xót như vậy, tại sao đêm qua ngươi lại xuất hiện ở lòng đầm cạn? Vệt nước trườn dài ấy, và những chiếc vảy trên cổ ngươi... rốt cuộc ngươi là ai?
Tôi dứt khoát vạch trần điều cấm kỵ. Không khí trong phòng bỗng chốc đông cứng lại.
Hải Thụy nhìn tôi trừng trừng, làn da nơi cổ chàng khẽ co giật. Thoáng chốc, những hoa văn ngũ sắc lóng lánh lại ẩn hiện dưới lớp da trắng bệch rồi lặn sâu vào huyết quản. Chàng không hề phủ nhận, cũng không hề tỏ ra sợ hãi trước sự phát giác của tôi.
- Đại nhân đã thấy hết rồi, cần gì phải gặng hỏi thêm? Dưới mắt của triều đình và người đời, những kẻ như thảo dân chỉ là loài yêu quỷ dị loại chốn đầm sâu nước độc. Nhưng thảo dân xin hỏi ngài, giữa một kẻ mang lốt dị loại ngày đêm tìm cách giữ lại chút hơi ẩm cuối cùng cho đất này, và những kẻ mang lốt người ngồi trên triều đình đục khoét kho thóc cứu tế, cướp đoạt từng miếng ăn của dân đói ngoài kia, ai mới thực sự là quỷ dữ?
Câu hỏi của chàng đập thẳng vào tâm can tôi, khiến tôi nghẹn ứ nơi cuống họng.
Phải, chảo cháo cứu tế bị người ta trộn tro trấu hôm qua, những bao thóc ẩm mốc trong kho của nha môn huyện Đông Hà... Tất cả những tội ác ghê tởm ấy đều do bàn tay con người tạo ra, do những kẻ đội mũ cánh chuồn, mặc áo gấm vóc nhân danh thiên tử làm ra.
Tôi nhìn người thanh niên trước mặt. Dù mang thân thể lạnh hơn băng tuyết, mang mùi bùn non phù sa cổ xưa, nhưng ngọn lửa phẫn uất và nỗi xót thương nhân thế trong ánh mắt chàng lại nồng đượm, tinh khiết hơn bất cứ vị đại thần nào tôi từng tao ngộ nơi cung đình Đại La.
- Tiên sinh... - Tôi thở ra một hơi dài, giọng chùng xuống. - Ta đến đây phụng mệnh cứu tế, không phải để truy lùng yêu ma dị loại. Mục đích của ta duy nhất chỉ là cứu lấy những mạng người sắp chết khô ở mảnh đất Bát Tràng này. Nếu tiên sinh thực sự có lòng thương dân, xin hãy nói cho ta biết, có cách nào để cứu vãn cơn đại hạn này không?
Hải Thụy sững người trước thái độ của tôi. Chàng nhìn tôi thật sâu, dường như muốn soi thấu tận đáy lòng của vị quan già mang đầy phong trần sương gió.
Chàng chầm chậm bước lại gần bức họa đầm sâu, đưa bàn tay run rẩy chạm vào dải sóng nước đang nhấp nhô trên mặt giấy lệnh.
- Cơn hạn hán này không đơn thuần là thiên tai. Khí trời cạn kiệt, mạch đất đứt đoạn, là do thiên mệnh trừng phạt. Muốn đảo ngược thiên mệnh, muốn gọi được mưa rào trở lại mảnh đất chết này, cái giá phải trả...
Lời chàng chưa dứt thì từ ngoài cổng trang viện họ Lý bỗng vang lên những tiếng la hét chói tai, phá tan bầu không khí tĩnh mịch của gian nhà tranh.
- Đánh chết nó đi! Cướp lấy cái vò!
- Nước! Dưới hố bùn đầm Bát Tràng còn nước! Chúng nó đang giấu nước! Mau ra cướp!
Tiếng hò hét hỗn loạn hòa lẫn tiếng bát đĩa vỡ loảng xoảng và tiếng kêu khóc thảm thiết của đàn bà con trẻ từ phía đầu làng dội tới ngày một dồn dập, xé toạc trưa hè oi ả.