Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 30: Nghiên Mực Vẫn Còn Máu

Dòng nước ngầm lạnh buốt từ lòng đất sâu trào lên không ngừng, dâng nhanh đến ngực, rồi mấp mé bờ vai tôi. Cả vùng trũng đầm Bát Tràng biến thành một…

Nội dung chương

Dòng nước ngầm lạnh buốt từ lòng đất sâu trào lên không ngừng, dâng nhanh đến ngực, rồi mấp mé bờ vai tôi.

Cả vùng trũng đầm Bát Tràng biến thành một xoáy nước khổng lồ, tiếng gầm vang dội dưới đáy bùn át đi tiếng mưa rơi lộp bộp trên mặt nước. Thân xác cự long to lớn nổi bồng bềnh, những chiếc vảy màu lam sẫm lóng lánh ánh rạng đông vừa le lói phía chân trời xa. Đám người làng Bát Tràng cùng bọn người nhà họ Lý đã tháo chạy sạch lên triền đê đất cao, bỏ lại nơi bãi đầm hoang lạnh một vùng trời nước mông mênh, tịch mịch.

Tôi dầm mình trong dòng nước ngọt lành vừa cứu sống hàng vạn sinh mạng, hai bàn tay run rẩy ôm chặt lấy chiếc sừng rồng gãy cụt một bên. Máu từ vết rách trên ngực Lục Hải Thụy không còn túa ra dữ dội nữa, chỉ rỉ từng vệt mỏng manh, tan biến vào làn nước xanh biếc đang cuộn xoáy. Da thịt chàng lạnh ngắt, cái lạnh của loài thủy tộc tu luyện tám trăm năm dưới đáy sâu không chút hơi ấm nhân gian, nhưng trong đáy mắt tôi lúc này, chàng vẫn là cậu nho sinh hiền hòa thường ngồi bên song cửa đọc sách Thánh hiền.

- Thụy, người đời đã chạy cả rồi. Họ sợ hãi nước lũ, sợ hãi sấm sét, sợ hãi cả tấm thân cứu mạng này của con.

Tôi thì thầm bên tai rồng, nước mắt hòa cùng nước mưa lăn dài trên gò má nhăn nheo của một kẻ làm quan đã nếm đủ mùi cay đắng chốn quan trường. Chàng không cựa quậy, đôi mắt khép hờ tĩnh lặng như một pho tượng đá ngàn năm nằm nghỉ dưới lòng giếng cổ. Linh hồn chàng đã tan biến theo từng hạt mưa rải khắp phủ Bắc Hà, trút trọn vẹn tám trăm năm đạo hạnh để đổi lấy sự sống cho mảnh đất khô cằn này.

Bên dưới chân tôi, hai nửa phiến nghiên đá ngàn năm nằm chìm trong lớp bùn non. Tôi lặn ngụp xuống dòng nước đục ngầu, vươn tay mò mẫm dưới đáy sâu. Ngón tay tôi chạm vào mặt đá xù xì còn vương vệt chu sa đỏ quạch chưa tan hết. Tôi dùng sức nhấc nửa phiến nghiên bên trái lên, ôm chặt vào lòng rồi ngoi lên khỏi mặt nước. Nửa phiến nghiên còn lại, tôi dùng chân vùi sâu xuống tầng bùn đáy đầm, để nó vĩnh viễn gắn chặt với mạch nước ngầm linh thiêng của trời đất.

Mặt nước đầm tiếp tục dâng cao, xoáy nước ở trung tâm bắt đầu kéo mạnh thân hình cự long xoay tròn. Sóng nước dập dềnh như muôn vạn cánh tay vô hình dịu dàng nâng đỡ, đưa chàng dần dần trôi dạt ra xa bờ, hướng về phía lòng chảo sâu nhất của đầm Bát Tràng.

Tôi đứng chôn chân giữa dòng nước ngập ngang cổ, lặng nhìn thân hình khổng lồ ấy chìm dần. Lớp vảy rồng lấp lánh chìm xuống trước, sau đó là dải bờm dài bồng bềnh trôi theo làn sóng biếc, cuối cùng là đỉnh sừng rêu phong từ từ khuất dạng dưới mặt nước gợn sóng lăn tăn.

Không có một tiếng gầm rú bi thương, không có một giọt máu thừa thãi vấy bẩn mặt hồ. Đầm sâu đón chàng trở về như người mẹ đón đứa con lưu lạc nghìn năm, nhẹ nhàng khép lại làn nước biếc xanh ngắt, phẳng lặng không tì vết. Đáy đầm cạn trơ trọi suốt ba năm ròng rã nay đã trở thành nấm mồ uy nghiêm, vĩnh cửu của vị Hương nguyên trẻ tuổi.

Tôi đứng lặng hồi lâu giữa mênh mông sông nước, hai tay ghì chặt nửa phiến nghiên đá lạnh buốt trước ngực, cảm nhận từng nhịp đập nặng nề của trái tim già nua. Gió sớm thổi qua đầm mang theo mùi hương phù sa ngọt mát, lẫn trong đó có phong vị thanh tao kỳ lạ của mực nho thượng hạng, thứ mùi hương đã theo Lục Hải Thụy suốt những năm tháng chàng đội lốt con người đi giữa nhân gian.

Khi ánh mặt trời đầu tiên xé toạc màn mây đen đặc, rải những sợi tơ vàng óng ả xuống mặt đầm Bát Tràng, tôi mới lội ngược dòng nước, từng bước nặng nề bước lên triền đê.

Phía trên mặt đê, tiếng người xôn xao đã bắt đầu rộn rã trở lại. Cơn mưa rào đêm qua đã gột sạch lớp bụi dày ba năm, biến những thửa ruộng nứt nẻ thành những ô đất màu mỡ no nước. Dân làng Bát Tràng đứng chật ních trên bờ vùng bờ thửa, tay bưng chậu, tay xách gàu, miệng không ngớt reo hò, nhảy múa điên cuồng vì mừng rỡ. Họ quỳ rạp trên mặt đất bùn ướt sũng mà vái lạy bốn phương trời, cảm tạ thần linh trên cao đã rủ lòng thương xót.

Từ phía sau rặng tre đầu làng, Cả Thạc dẫn theo một toán tráng đinh cầm đòn gánh, dao bầu, mắt lấm lét nhìn dáo dác khắp bãi đầm. Thấy tôi một thân một mình, áo quan tả tơi ướt sũng bước lên từ dưới nước, gã giật nảy mình, vội vàng giấu thanh dao găm ra sau lưng.

- Quan... quan lớn! - Cả Thạc ấp úng, ánh mắt đảo quanh bãi nước mênh mông - Con quái vật đêm qua... con súc sinh rớt từ trên trời xuống đâu rồi ạ?

Tôi dừng bước, đưa mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt thô kệch, hằn rõ sự tham lam lẫn sợ hãi của gã. Sau lưng gã, những người nông dân khác cũng tò mò nghểnh cổ nhìn xuống mặt đầm tĩnh lặng, lòng đầy toan tính về một mối lợi từ xương vảy của sinh linh kỳ dị đêm qua. Họ không hề biết, hoặc cố tình không muốn biết, ai là người đã đem mạng sống của mình ra để cứu lấy từng tấc đất, từng hớp nước họ đang uống.

- Đêm qua sét đánh vỡ đê ngăn mạch ngầm, cuồng phong làm gãy đổ cây cối trôi dạt - Tôi cất giọng lạnh lùng, âm vang đanh thép của kẻ mang quyền uy triều đình - Đầm Bát Tràng đã thông mạch nước cũ, không có quái vật, cũng không có súc sinh nào hết. Kẻ nào còn dám tung tin ma quỷ dị đoan, kích động lòng dân mưu đồ cướp phá, bản quan sẽ lập tức gông cổ tống giam vào ngục huyện Đông Hà, chiếu theo luật hình triều Trần mà xử tội giảo giam hậu!

Lời nói của tôi rơi xuống dứt khoát như nhát búa gõ lên mặt bàn quan. Đám đông rùng mình nhìn ánh mắt lạnh lẽo của tôi, rồi nhìn sang thanh bảo kiếm đeo bên hông tôi vẫn còn vương những vệt bùn đen đặc. Nỗi sợ hãi đối với phép nước cuối cùng đã đè bẹp lòng tham lam hèn mọn. Cả Thạc nuốt nước bọt ực một tiếng, lùi lũi cúi đầu, cùng đám thanh niên vứt bỏ dao gậy rồi cắm đầu cắm cổ chạy về phía đình làng để chuẩn bị mổ lợn khao tiệc mừng mưa.

Họ quên đi rất nhanh. Người đời vốn dĩ luôn như vậy, khi tai ương giáng xuống thì run rẩy cầu khẩn, lúc hiểm họa qua đi thì chỉ mải mê hưởng thụ điều tốt lành trước mắt. Cái chết của một người thầy giáo nghèo mang họ Lục, hay sự biến mất của một ấu trùng Giao Long tu luyện tám trăm năm, đối với họ cũng chỉ thoảng qua như một cơn gió lạ quét qua mái rạ thôn nghèo.

Tôi quay đầu nhìn lại đầm nước một lần sau cùng. Mặt nước xanh ngắt một màu ngọc bích, phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời cao rộng. Chàng đã nằm lại nơi ấy, cách biệt hoàn toàn với những mưu toan, dơ bẩn của chốn bụi trần. Tôi siết chặt bọc vải đựng nửa phiến nghiên đá trong tay, xoay người cất bước hướng về phía con đường dẫn về kinh thành.

Ba ngày sau, tại điện Tập Hiền nơi kinh đô Thăng Long hoa lệ.

Khói trầm hương nghi ngút tỏa ra từ những chiếc đỉnh đồng chạm hình nghê quỳ. Vua Trần Dụ Tông ngồi trên ngai vàng sơn son thếp vàng, chung quanh là hàng trăm quan lại áo gấm chỉnh tề, nét mặt ai nấy đều hân hoan rạng rỡ. Tin vui hạn hán ba năm tại phủ Bắc Hà được giải trừ chỉ sau một đêm đã truyền về kinh đô từ sớm, biến buổi thiết triều thành một ngày hội mừng công.

Tôi quỳ gối dưới thềm rồng lạnh lẽo, hai tay dâng lên bản tấu sớ bằng giấy sắc gai được viết cẩn thận từng nét chữ.

- Khởi bẩm Hoàng thượng - Tiếng tôi vang vọng giữa chính điện uy nghiêm - Thần vâng mệnh triều đình về huyện Đông Hà cứu tế. Đêm ngày rằm vừa qua, trời đất cảm ứng đức độ của bệ hạ, mây lành tụ lại bốn phương, sấm sét đánh thông long mạch đầm Bát Tràng, ban mưa lớn xối xả khắp cõi phủ Bắc Hà. Đồng ruộng hồi sinh, dân tình đội ơn mưa móc của triều đình, muôn người như một đều hướng về kinh khuyết bái tạ thánh ân.

Bên trên ngai cao, tiếng cười sảng khoái của bậc thiên tử vang lên. Đám đình thần lập tức cúi đầu tung hô vạn tuế, tranh nhau dâng lời xưng tụng thiên tử đức độ sáng ngời, khiến trời xanh phải rủ lòng ban ơn mưa móc, giải cứu muôn dân thoát khỏi nạn đói kém.

- Tốt! Tốt lắm! - Vua Trần Dụ Tông phất tay áo bào rộng - Trần ái khanh vất vả cứu tế có công lớn, trẫm ban thưởng ba mươi tấm lụa tốt, mười nén bạc ròng, thăng thụ một cấp trật. Về phần dân hạt Bát Tràng, trẫm đặc ân miễn sưu thuế trong hai năm để an cư lạc nghiệp.

- Thần tạ ơn Hoàng thượng muôn vàn - Tôi dập đầu sát nền gạch đá hoa, nuốt ngược giọt lệ đắng chát vào tận đáy lòng.

Trong toàn bộ bản tấu sớ dài mấy ngàn chữ dâng lên triều đình, tôi đã giấu kín hoàn toàn sự thật về người học trò họ Lục. Không một chữ nhắc đến tên Lục Hải Thụy, không một dòng ghi lại việc chàng từng đỗ đầu kỳ thi Hương, càng không bao giờ để lộ một chi tiết nào về lễ cầu mưa bằng máu tim và cái chết bi tráng của con rồng nước bên bờ đầm cạn.

Tôi hiểu rõ triều đình này, hiểu rõ thói đời đen bạc chốn cung đình. Nếu việc một con Giao Long xé rách lốt người để cầu mưa bị lộ ra, triều đình sẽ phái hàng đoàn thuật sĩ, pháp sư cùng quân lính kéo về Bát Tràng đào xới đáy đầm, lùng sục xương tủy, vảy rồng để dâng lên làm thuốc trường sinh cho bậc đế vương mục nát. Chàng đã hy sinh cả tính mạng vì mảnh đất này, tôi phải bảo vệ sự yên nghỉ ngàn năm của chàng dưới đáy nước thẳm sâu.

Tên tuổi Lục Hải Thụy, chàng Hương nguyên đoan chính với đôi mắt sâu thẳm và bàn tay lạnh ngắt như băng tuyết, từ nay sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi nhân gian, như chưa từng tồn tại trên cõi đời này.

Mùa đông năm Thiệu Phong thứ mười hai, bốn năm sau ngày cơn mưa rào hồi sinh làng Bát Tràng.

Thời thế ngày một rối ren, giặc giã nổi lên khắp nơi, triều đình nhà Trần trượt dài trên con đường suy tàn không thể cứu vãn. Tôi cáo quan về hưu sớm, từ chối mọi bổng lộc triều đình ban tặng, lui về sống ẩn dật trong một gian nhà tranh nhỏ nép mình bên triền đê sông Đuống, cách đầm Bát Tràng chừng vài dặm đường.

Gian thư phòng của tôi đơn sơ, chỉ có vài giá sách cũ kỹ đã ố vàng và một chiếc bàn gỗ lim mộc mạc kê sát cửa sổ trông ra rặng tre ngà.

Trên vách gỗ chính giữa thư phòng, tôi không treo tranh sơn thủy của tiền nhân, cũng không treo câu đối tụng ca công danh sự nghiệp. Nơi đó đặt một chiếc bàn thờ nhỏ bằng gỗ thông già, phía trên ngự một bài vị không khắc họ tên danh tính, chỉ vẻn vẹn bốn chữ triện thếp vàng ngay ngắn:

"Thủy Tộc Nho Sinh".

Phía trước bài vị ấy, đặt một vật kỳ lạ. Đó là nửa phiến nghiên đá cổ xù xì, bờ nghiên khắc nổi hình hoa văn sóng nước thời Lý, ở giữa trũng xuống tạo thành một lòng mực sâu thẳm. Nơi lòng nghiên vẫn còn lưu lại một vệt chu sa màu nâu sẫm, vệt máu tim khô cằn của tám trăm năm tu luyện đã ăn sâu vào từng thớ đá, vĩnh viễn không thể tẩy xóa.

Bốn năm qua, tôi chưa từng mài một thỏi mực nào trên phiến nghiên ấy.

Cứ mỗi độ tiết Thanh minh hay những đêm mưa dầm rả rích, tôi lại thắp lên một nén hương trầm thơm ngát, tự tay múc một chén nước mưa trong veo rót đầy vào lòng phiến nghiên đá vỡ. Nước trong nghiên phẳng lặng, trong vắt như gương, tỏa ra một làn hơi mát lạnh thấm sâu vào da thịt. Khi làn khói hương lượn lờ bay qua miệng nghiên, một mùi hương trầm ấm, thanh khiết của mực nho hảo hạng lại nhè nhẹ bay lên, hòa cùng mùi phù sa đầm lầy quen thuộc, phảng phất khắp gian phòng quạnh quẽ.

Nhiều người trong vùng đồn rằng, từ sau cái năm hạn hán dữ dội ấy, nước đầm Bát Tràng quanh năm luôn giữ một màu xanh biếc kỳ lạ, chưa từng cạn dù trời có nắng hạn bao lâu. Những người thợ gốm ven đầm mỗi khi ra lấy nước nhào đất đều tấm tắc khen nước ngọt lành, đất mịn màng như bột ngọc, nung lên thành những mẻ gốm men lam óng ả tuyệt mỹ khôn cùng. Họ bảo dưới đáy đầm có mạch nước trời, có ngọc quý trấn giữ cõi linh thiêng.

Họ không biết rằng, thứ ngọc quý trấn giữ cho sự phồn vinh của họ, chính là nắm xương rồng lạnh lẽo đang nằm sâu trong lòng bùn tối.

Tôi ngồi tựa bên song cửa sổ, ngắm nhìn bóng chiều tà đang rớt những giọt nắng muộn xuống ngọn tre già xao xác. Gió từ phía đầm xa thổi về mang theo hơi ẩm lạnh buốt của nước ngầm. Tôi nâng chén rượu nhạt lên, hướng về phía bài vị không tên nơi góc phòng, khẽ nghiêng chén rưới một dòng rượu trong xuống nền đất nện.

- Thụy à, chữ nghĩa thánh hiền người ta học để mưu cầu áo gấm vinh quy, học để vơ vét của cải nhân gian. Chỉ có con, một sinh linh đội lốt người, mới dùng hết sở học và tính mệnh của mình để thực thi hai chữ ái dân trọn vẹn nhất. Kẻ sĩ trong thiên hạ này, có mấy ai làm được như con?

Khói hương trên bàn thờ khẽ chao nghiêng. Trong lòng nghiên đá cổ, chén nước trong dường như khẽ gợn một vòng sóng nhỏ. Rồi lại trở về tĩnh lặng, sâu thẳm như đáy đầm ngàn năm không một tiếng vọng.

Chương khác

Xem thêm