Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 29: Lục Hải Thụy Chết Bên Bờ Đầm

Mưa xối xả đập buốt rát trán tôi, cuốn theo lớp bùn đất đỏ quạch trôi tuột xuống mép vực đầm nước Bát Tràng. Dưới chân tôi, mặt nước từ các mạch ngầm sủi…

Nội dung chương

Mưa xối xả đập buốt rát trán tôi, cuốn theo lớp bùn đất đỏ quạch trôi tuột xuống mép vực đầm nước Bát Tràng. Dưới chân tôi, mặt nước từ các mạch ngầm sủi bọt đùn lên sùng sục, mực nước lạnh ngắt dâng nhanh tới mắt cá rồi liếm dần lên bắp vế. Giữa vũng lầy đang ngập ngụa phù sa, xác cự long nằm im lìm, lớp vảy giáp màu lam sẫm phủ kín thân thể dài ngoằng, bất động dưới trời giông gió cuồng loạn.

Tôi quỳ bên cạnh chiếc đầu rồng khổng lồ, hai bàn tay run rẩy chạm vào bờ sừng gồ ghề vấy máu. Mùi tanh nồng của huyết rồng quyện chặt lấy hương phù sa đầm sâu xộc thẳng vào buồng phổi. Lồng ngực chàng rách toạc một mảng lớn do đòn sấm sét hủy diệt của lôi kiếp, nơi từng cất giấu trái tim kẻ sĩ nay chỉ là một hố than cháy xém, máu đỏ tươi vẫn không ngừng rỉ ra, hòa cùng dòng nước mưa ngọt lành đang tưới tắm mảnh đất Bắc Hà đã khô kiệt suốt ba năm ròng rã.

Bên cạnh móng vuốt chàng, phiến nghiên mực đá ngàn năm gãy đôi, mặt đá trơ trọi nằm ngâm mình trong bùn non. Chàng đã dùng trọn vẹn sinh mạng tám trăm năm tu hành, dùng hết giọt máu tim cuối cùng để đổi lấy trận mưa rào giải thoát muôn dân khỏi cái chết đói khát.

Thế nhưng, từ phía triền đê độc đạo dẫn vào làng Bát Tràng, tiếng la hét bắt đầu lấn át cả tiếng sấm rền rĩ trên tầng không.

Hàng trăm ngọn đuốc tẩm dầu rực cháy dưới màn mưa, tỏa ra làn khói đen khét lẹt. Ánh lửa bập bùng nối nhau thành một dải dài đỏ quạch, rầm rộ đổ xuống triền dốc hướng thẳng về phía đầm nước. Dân làng kéo ra mỗi lúc một đông, chân giẫm bì bõm trên nền đất sũng ướt, miệng gào thét vang dội:

- Mưa thật rồi! Mạch nước đầm dâng lên rồi!

- Mau ra xem đi! Ban nãy sấm sét đánh sáng lòa góc trời, có vật lạ từ trên mây rơi xuống đáy đầm!

- Điềm lành của nhà trời! Mau lên kẻo người làng bên kéo sang cướp mất!

Tiếng kim loại lách cách đập vào nhau chát chúa. Họ mang theo cuốc bàn, xẻng sắt, đòn gánh bịt đồng, dao bầu chọc tiết lợn và cả những chiếc búa tạ dùng để đập đá nung gốm. Cơn đói ba năm khiến xương gò má của họ nhô cao, hốc mắt trũng sâu hoắm, thân hình trơ khấc như những bộ xương khô biết cử động. Ban đầu, tiếng hò reo của họ thuần túy là niềm vui sướng điên dại khi đón nhận giọt nước cứu mạng, nhưng khi tốp người đi đầu xông tới mép bãi lầy, nhìn rõ hình hài khổng lồ đang nằm gục bên bờ nước, âm thanh bỗng chốc nghẹn ứ lại trong cổ họng.

Một gã đàn ông giơ cao ngọn đuốc, ánh lửa hắt thẳng vào lớp vảy lam lấp lánh và chiếc sừng rồng nhọn hoắt vươn lên giữa bãi bùn.

- Trời đất quỷ thần ơi... Rồng! Là rồng thật!

- Rồng rơi xuống đất! Thiên đình đánh chết quái long rồi!

Tiếng thét the thé làm bùng lên một làn sóng chấn động dữ dội trong đám đông. Hàng trăm con người dồn ứ lại trên bờ dốc, giương to những cặp mắt đỏ sọc vì đói khát và kích động. Họ nhìn chăm chú vào thân thể to lớn phủ kín vảy giáp nằm bất động, nhìn dòng máu đỏ thẫm đang tuôn ra từ lồng ngực chàng hòa vào làn nước mát. Không một ai quỳ lạy. Không một ai chắp tay cúi đầu tạ ơn vị thần linh vừa ban cho họ sự sống. Thay vào đó, một thứ dục vọng nguyên thủy và tàn nhẫn bùng cháy trong ánh mắt của từng kẻ có mặt.

- Thịt rồng ăn vào trường sinh bất lão! Ăn một miếng khỏi lo đói kém ba năm!

- Vảy rồng mạ vàng đem bán cho nhà quan ở kinh thành Thăng Long thì đổi được cả trăm thúng gạo!

- Xương rồng nấu cao bổ khí huyết, sừng rồng trừ tà ma! Mau xông vào chặt lấy một khúc!

- Đúng rồi! Trong bụng rồng có hạt dạ minh châu, ai nhặt được hạt châu ấy thì phú quý ba đời! Xẻ bụng nó ra! Xẻ bụng nó tìm ngọc mau lên!

Những tiếng gầm rú man dại xé toạc màn mưa đêm. Đám đông bắt đầu chen lấn, xô đẩy nhau ào ào lao xuống bãi lầy. Lòng tham lam và sự bần cùng bị dồn nén suốt ba năm ròng rã biến họ thành bầy thú hoang mất hết lý trí, mắt đăm đăm nhìn vào xác thịt chàng như một mâm cỗ khổng lồ do trời đất ban tặng để chia chác.

Tôi đứng bật dậy giữa dòng nước ngập ngang đùi, máu trong huyết quản sôi sùng sục vì phẫn uất. Lồng ngực tôi nghẹn đắng, từng cơn đau quặn thắt cào xé tâm can.

Chàng vừa trút hơi thở cuối cùng vì họ. Chàng chấp nhận tan xương nát thịt, rách nát lớp lốt người, gánh chịu cơn lôi kiếp tam tầng nghiền nát kinh mạch chỉ để những đứa trẻ trong làng có ngụm nước uống, để ruộng đồng cằn cỗi có lúa non trổ bông. Vậy mà máu chàng còn chưa kịp nguội, xác chàng còn chưa kịp chìm vào lòng đất mẹ, những kẻ vừa uống ngụm nước mưa do tính mạng chàng đổi lại đã lăm lăm dao búa muốn róc xương xẻ thịt chàng.

- Dừng lại hết cho ta! - Tôi gầm lên, giọng nói khản đặc xé toạc tiếng gió rít.

Nhưng tiếng thét của tôi nhanh chóng bị tiếng hò hét xô bồ của đám đông nuốt chửng. Kẻ đi đầu cầm một chiếc cuốc chim bằng sắt đặc, sải từng bước dài vượt qua bãi lau sậy đổ rạp, hướng thẳng lưỡi cuốc sắc nhọn về phía đôi mắt rồng đang khép chặt.

Ánh đuốc bập bùng rọi thẳng vào khuôn mặt gã đàn ông ấy.

Tôi đứng chết trân khi nhận ra từng đường nét gầy gò, hốc hác trên gương mặt quen thuộc kia. Đó là Cả Thạc, người thợ làm gốm ngụ ở xóm ngoài, sát mép bến sông.

Ba ngày trước, chính tại bậc thềm đình làng Bát Tràng, Cả Thạc nằm co quắp dưới gốc đa, miệng sùi bọt mép, da bọc lấy xương vì nhịn đói suốt năm ngày liền. Khi người nhà đã chuẩn bị manh chiếu rách để bó xác gã đem đi vứt bờ bụi, chính Lục Hải Thụy đã chạy tới. Chàng nâng đầu gã dậy, dùng đôi bàn tay lạnh ngắt xoa bóp lồng ngực gã, cẩn thận bón từng thìa cháo hoa loãng - phần khẩu phần ít ỏi duy nhất của chàng trong ngày - vào bờ môi nứt nẻ của gã. Chàng thức trọn đêm quạt mát, cứu gã từ cửa tử trở về trần gian. Khi tỉnh lại, gã còn quỳ sụp dưới chân chàng, dập đầu đến bật máu trán mà thề thốt: "Ơn cứu mạng của thầy Lục, kiếp này con làm trâu làm ngựa cũng không đền đáp xiết."

Vậy mà giờ đây, đôi bàn tay từng được Hải Thụy cứu sống đang nắm chặt cán cuốc gỗ mun, đôi mắt gã đỏ quạch lồi ra ngoài vì cuồng loạn, mồm gào thét không ngớt:

- Bổ mắt nó ra! Mắt rồng làm bằng ngọc bích, cạy lấy hai con mắt là đủ tiền mua ruộng tậu trâu! Mau lên bà con, ai chậm chân thì mất phần!

Sự phản trắc trắng trợn và ghê tởm của lòng người giáng một đòn nặng nề vào tâm can tôi. Tôi run lên bần bật, nỗi đau đớn biến thành cơn thịnh nộ tột cùng.

- Cả Thạc! Mở to mắt chó của ngươi ra mà nhìn! - Tôi hét lớn.

Cả Thạc khựng lại trong nửa nhịp thở khi nhận ra chiếc áo quan lục phẩm ướt đẫm bùn đất của tôi, nhưng lòng tham đã che mờ lương tri gã. Nhìn thấy con cự long nằm bất động sau lưng tôi, gã trợn trừng mắt, nghiến răng rít qua kẽ môi:

- Quan lớn! Quan về cứu tế thì lo việc của triều đình đi! Con súc sinh này rơi xuống đất làng Bát Tràng, nó là lộc trời ban cho dân làng chúng tôi! Ba năm nay chúng tôi chết đói chết khát, quan có nuôi nổi cả cái làng này không? Tránh ra! Đừng cản đường sống của chúng tôi!

Dứt lời, gã vung bổng chiếc cuốc chim lên, dồn toàn bộ sức nặng nhắm thẳng vào đầu rồng bổ xuống. Lưỡi thép xé gió vun vút lao tới vị trí chiếc vảy ngược đã vỡ nát.

Xoẹt!

Một tia sáng lạnh buốt lóe lên trong màn đêm mù mịt.

Tôi tuốt thanh bảo kiếm khâm sai đeo bên hông ra khỏi vỏ. Lưỡi thép tôi luyện từ lò rèn Thăng Long sắc bén như nước mùa thu chém ngang một đường chuẩn xác.

Rắc!

Cán cuốc bằng gỗ mun dày dặn trong tay Cả Thạc đứt lìa làm đôi. Lưỡi cuốc sắt văng thẳng xuống bùn lầy, cắm phập vào bãi sình cách đầu rồng nửa thước. Cả Thạc mất đà, ngã dúi dụi về phía trước, hai bàn tay run rẩy ôm lấy khúc gỗ gãy trơ trọi.

Tôi bước lên một bước, mũi kiếm nhọn hoắt kề sát cổ họng gã. Đầu gươm lạnh ngắt rạch một vệt máu mảnh trên làn da nhăn nheo của kẻ bội phản.

- Bước thêm nửa bước, ta lấy đầu ngươi! - Giọng tôi trầm xuống, đanh thép như đá tảng va vào nhau giữa cơn giông bão.

Đám đông đang ùa tới bỗng chốc khựng lại. Những kẻ xách dao rựa, búa tạ phía sau vội vàng ghìm chân, ánh mắt nghi ngại nhìn mũi kiếm sáng loáng và vạt áo quan đính phù hiệu triều đình của tôi. Tiếng hò hét ồn ào tạm thời lắng xuống, chỉ còn tiếng mưa dội rầm rập trên mặt nước và tiếng thở hổn hển đầy thèm thuồng của hàng trăm con người.

Cả Thạc nằm dưới bùn, nhìn lưỡi kiếm sắc lẹm sát da cổ, mặt gã tái mét nhưng khóe miệng vẫn giật giật, giọng the thé gầm gừ:

- Quan lớn... ngài định giết dân lành để chiếm trọn con rồng này sao? Ngài muốn đem dâng vua lấy bổng lộc một mình sao? Trời cao có mắt, dân Bát Tràng không chịu để ngài cướp trắng đâu!

- Khốn kiếp! Câm ngay cái mồm bẩn thỉu của ngươi lại! - Tôi nghiến răng, mũi kiếm ấn sâu thêm một phân khiến gã rụt cổ rú lên một tiếng hãi hùng - Ngươi nói lộc trời? Ngươi nói súc sinh? Ba ngày trước, ai nhường từng ngụm cháo cứu cả nhà ngươi thoát chết đói? Ngươi nhìn cho kỹ xem, dòng nước đang dâng lên dưới chân ngươi, cơn mưa đang trút xuống đầu ngươi là từ đâu mà có?

Tôi chỉ tay về phía lồng ngực đẫm máu của cự long, giọng tôi vỡ ra trong nghẹn ngào uất hận:

- Đây chính là Lục Hải Thụy! Là chàng thư sinh hai năm qua ngồi bốc từng thang thuốc cho cha mẹ các ngươi, là người đã nhường từng hạt gạo cứu đói cho con cái các ngươi! Chàng đã dùng máu tim mình, chấp nhận lôi kiếp xé rách lốt người để cầu mưa cứu cả cái phủ Bắc Hà này! Các ngươi vừa ngửa mặt uống ngụm nước ngọt của chàng, giờ lại vác cuốc xẻng đòi xẻ thịt róc xương ân nhân? Lương tâm kẻ làm người của các ngươi vứt cho chó gặm rồi sao?

Lời nói của tôi vang vọng khắp bãi đầm, từng câu từng chữ đập thẳng vào mặt đám đông.

Vài người phụ nữ đứng phía sau bắt đầu run rẩy buông lỏng tay cầm liềm. Những người thợ gốm lớn tuổi nhìn chằm chằm vào chiếc nghiên mực đá ngàn năm gãy đôi nằm bên cạnh xác rồng, rồi nhìn lại khuôn mặt lạnh lùng của con cự long. Họ nhớ lại đôi bàn tay quanh năm buốt giá và mùi phù sa đặc trưng trên vạt áo lam của chàng thư sinh họ Lục. Nỗi hoang mang, kinh ngạc bắt đầu lan rộng trong hàng ngũ dân làng.

- Thầy Lục... thầy Lục là rồng sao?

- Người ta bảo thầy Lục đỗ Hương nguyên... sao lại là con quái vật này?

- Nhưng thầy ấy hiền lành lắm... ngày nào cũng dạy chữ cho lũ trẻ con xóm bến...

Tuy nhiên, sự hổ thẹn của số ít nhanh chóng bị lòng tham vô đáy của đám đông đè bẹp. Cả Thạc quỳ dưới lưỡi kiếm của tôi, sau cơn run sợ ban đầu, khóe mắt gã lại ánh lên sự tàn nhẫn điên cuồng. Gã ngẩng đầu lên, gào to cho cả bãi đầm cùng nghe:

- Đừng nghe lời quan lớn lừa gạt! Nó là yêu quái đội lốt người! Ba năm hạn hán này chắc chắn là do con yêu quái này hút hết nước đầm để tu luyện! Trời đánh chết nó là trừ họa cho dân ta! Nếu nó chết rồi, thân xác nó thuộc về dân làng Bát Tràng! Chúng ta có hàng trăm người, quan lớn chỉ có một thanh kiếm, làm sao cản nổi chúng ta? Xông lên! Ai cướp được miếng thịt, khúc xương nào thì giữ lấy!

Lời kích động của Cả Thạc như dầu đổ vào lửa.

Cơn đói khát kéo dài và dục vọng chiếm đoạt đã tước đi chút tính người sót lại trong tâm can họ. Bầy người lại rục rịch chuyển động. Những đôi mắt đỏ ngầu khóa chặt vào thi thể cự long. Một gã lực điền cầm cây đòn gánh xông tới, theo sau là bốn năm gã thanh niên vung dao găm sáng loáng.

- Giết súc sinh chia thịt!

- Ai cản đường thì đánh chết!

Nhìn thấy bầy lang sói đang lao tới, tôi hít một hơi thật sâu, rút thanh gươm khỏi cổ Cả Thạc rồi xoay người đứng chắn ngay trước trán rồng. Tôi cầm chắc chuôi kiếm bằng cả hai tay, ánh mắt rực lửa quét qua từng gương mặt quen thuộc trong làng. Áo quan của tôi rách bươm vì gió lốc, mái tóc điểm bạc ướt đẫm bết chặt vào trán.

- Trần Khắc Sinh này mang mệnh lệnh của triều đình về đây cứu tế! - Tôi thét lên, giọng vang rền lấn át cả tiếng sóng vỗ - Hôm nay, kẻ nào dám bước qua lằn ranh này, kẻ nào dám xúc phạm đến một chiếc vảy rồng của Hải Thụy, ta chém không tha! Kẻ phạm thượng chống lệnh khâm sai, xử trảm tại chỗ, tru di tam tộc theo hình luật triều Trần!

Thanh bảo kiếm trong tay tôi vung lên một đường bán nguyệt, chém đứt phăng ngọn đuốc trên tay kẻ đi đầu. Tàn lửa đỏ rực bắn tung tóe xuống mặt nước lèo xèo tắt ngấm.

Sự quyết liệt đến mức liều mạng của một vị quan lục phẩm khiến đám đông chững lại lần thứ hai. Họ nhìn thấy sát khí ngùn ngụt trong đôi mắt tôi. Tôi không còn là vị quan già ôn hòa chuyên phân phát gạo cứu đói nữa; trước mặt họ lúc này là một người cha, một người thầy sẵn sàng đổ đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ danh dự và thi hài của học trò mình.

Cả Thạc lồm cồm bò dậy, lùi lại vài bước hòa vào đám đông, miệng vẫn không ngừng xúi giục:

- Đừng sợ! Lão quan già sức trói gà không chặt, chúng ta cứ xông vào một lượt...

Gã chưa kịp dứt lời thì một tiếng nổ ầm ầm kinh thiên động địa từ sâu dưới lòng đất đột ngột vang lên.

Cả bãi đầm Bát Tràng rung chuyển dữ dội. Lớp bùn lầy nứt toác ra thành những rãnh sâu hun hút. Từ đáy vực sâu ngàn năm, mạch nước ngầm bị phong tỏa suốt ba năm qua rốt cuộc đã hoàn toàn giải thoát. Những cột nước khổng lồ màu trắng xóa bắn vọt lên không trung cao tới vài trượng, cuốn theo lớp bùn non cuồn cuộn đổ ập xuống mặt đầm.

Nước dâng lên với tốc độ kinh hoàng.

Từ mắt cá chân, dòng nước ngọt lịm và buốt giá trong chớp mắt đã ngập tới thắt lưng, rồi dâng cao tới tận ngực. Sóng nước đục ngầu gầm réo cuộn trào, đánh dạt những kẻ đang đứng ở mép bãi lầy ngã nhào xuống dòng nước xiết. Những ngọn đuốc tẩm dầu bị nước dội tắt ngấm từng cây một, chìm nghỉm vào màn đêm đen đặc.

- Nước lũ về rồi! Chạy mau!

- Đầm vỡ rồi! Mau leo lên đê!

Tiếng hò hét đòi xẻ thịt rồng lập tức biến thành tiếng kêu cứu thất thanh. Lòng tham lam nhanh chóng nhường chỗ cho nỗi sợ hãi cái chết. Đám đông hoảng loạn dẫm đạp lên nhau, vứt bỏ dao búa, cuốc xẻng để bám lấy các gốc lau sậy mà bò ngược lên triền đê. Cả Thạc bị một con sóng lớn tát thẳng vào mặt, ngã sấp ngửa rồi cuống cuồng bơi tháo thân về phía con đường làng, không dám ngoái đầu nhìn lại dù chỉ một lần.

Chỉ trong vài chục nhịp thở, triền đê đã trơ trọi, những ngọn đuốc tắt lịm để lại màn đêm mịt mùng bao trùm khắp không gian.

Giữa dòng nước xiết đang dâng ngập bờ, tôi vẫn đứng vững, hai tay ôm chặt lấy bờ sừng của Lục Hải Thụy.

Nước đầm dâng cao nâng dần thân thể khổng lồ của cự long nổi bồng bềnh trên mặt sóng. Máu từ lồng ngực chàng vẫn rỉ ra, hòa tan vào dòng nước xanh biếc đang hồi sinh cả vùng đất Bắc Hà. Tôi nhìn dòng nước ngầm cuồn cuộn chảy xoáy quanh thân chàng, hiểu rằng trời đất đang dùng chính thứ nước ngọt lành này để đón chàng trở về với cội nguồn sâu thẳm.

Tôi dùng vạt áo quan lau sạch vết bùn đất vương trên đôi mắt nhắm nghiền của chàng, giọng nghẹn ngào hòa vào tiếng mưa gió:

- Thụy... con yên tâm. Không kẻ nào có thể chạm vào thân thể con được nữa. Thầy sẽ đưa con về lại nơi đầm sâu...

Mặt nước tiếp tục gầm réo dâng cao, xoáy tròn quanh hai nửa phiến nghiên đá ngàn năm, chuẩn bị cuốn tất cả chìm sâu vào lòng bùn lạnh ngắt.

Chương khác

Xem thêm