Ngũ Tiên Thôn - Chương 17: Trống Da Lừa Rách

Đêm rằm tháng Mười một, trăng đầu đông treo tròn vành vạnh trên đỉnh ngọn tùng già sau gò hoang. Gió từ rặng núi đá phía bắc thổi thốc về bình nguyên,…

Nội dung chương

Đêm rằm tháng Mười một, trăng đầu đông treo tròn vành vạnh trên đỉnh ngọn tùng già sau gò hoang. Gió từ rặng núi đá phía bắc thổi thốc về bình nguyên, cuộn từng lớp tuyết mịn bay rào rào qua những mái nhà đất nung của Ngũ Tiên Thôn.

Đúng tròn một trăm năm trước, tổ tiên bảy dòng họ lớn trong làng dựng am thờ chung dưới chân đình, lập khế ước phụng nghinh ngũ vị tiên gia. Đổi lại là trăm năm mưa thuận gió hòa, mùa màng không sâu đục, thú rừng không tràn xuống phá gia súc. Đêm nay là hạn cuối cùng của chu kỳ ấy, cũng là đêm tế lễ tạ ơn và tiễn tống lớn nhất trong đời của bất kỳ người dân nào đang sống tại thôn này.

Từ chiều tối, toàn bộ sân đình đã được quét dọn sạch sẽ. Năm chiếc bàn thờ bằng gỗ thông dày dặn được kê thành hình ngũ giác quanh khoang sân đất nung. Mỗi bàn thờ hướng về một phương trời, phủ tấm vải điều mới dệt, bên trên bày biện lễ vật chu tất không thiếu một thức nào theo đúng lệ xưa truyền lại.

Ở hướng bắc, án thờ Hồ Tiên đặt chiếc lồng tre nhốt đôi chim sẻ sống buộc chân bằng chỉ đỏ. Hướng đông là đĩa sữa tươi cho Hoàng Tiên, hướng nam là bát thóc mới cho Hôi Tiên, hướng tây là khay trứng ngỗng cho Bạch Tiên, chính giữa là vò rượu trăm hoa cho Liễu Tiên.

Phía sau năm mâm lễ vật là năm tấm bài vị mới đẽo từ gỗ táo gai sét đánh. Mặt trước quét sơn son bóng loáng, khắc tên hiệu từng vị tiên gia bằng nhũ vàng lấp lánh dưới ánh đuốc.

Hơn hai trăm người dân trong thôn, từ cụ già râu bạc đến đứa trẻ vừa biết đi, đều có mặt trên sân đình.

Giữa sân đình, Mã Vạn Hỷ đứng sừng sững bên cạnh chiếc giá gỗ ba chân.

Ông mặc áo lễ dài chấm gót bằng vải thô nhuộm vỏ cây, ngoài khoác chiếc áo vá bằng hàng chục mảnh vải đỏ cũ, thứ ông mặc đi qua khắp các nẻo đường tuyết trắng Đông Bắc mấy chục năm.

Mặt trống da lừa màu vàng sậm, bóng loáng vì mồ hôi và bụi tuyết qua năm tháng, mép trống viền bằng những chiếc đinh đồng hoen gỉ. Chiếc dùi gỗ bọc da nai nằm gọn trong lòng bàn tay phải của ông, đầu dùi bóng nhẵn sau hàng ngàn lần gõ nhịp cầu thần tạ quỷ.

Mã Vạn Hỷ thò tay vào bọc áo, rút cuốn sổ bài vị ố vàng bìa bọc vải ba thô ráp ra. Ông đặt cuốn sổ lên chiếc đôn gỗ nhỏ cạnh giá trống, lật giở từng trang giấy mỏng xơ xác đã ghi kín tên tuổi và những ân oán trả vay của bao kiếp người vùng đất này.

Ông ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng quắc trên cao, cất giọng khàn đục nhưng rành rọt từng chữ:

- Giờ Tý đã điểm, trăng tròn sáng tỏ trời đông. Trăm năm một thuở, ơn sâu tựa núi, nghĩa nặng bằng sông. Nay cháu con Ngũ Tiên Thôn sửa soạn lễ mọn, quét dọn đàn tràng, kính thỉnh Hồ, Hoàng, Bạch, Liễu, Hôi ngũ vị tiên gia giáng đàn chứng lễ!

Dứt lời, Mã Vạn Hỷ vung tay gõ một nhịp trống mở màn.

*Tùng!*

Tiếng trống da lừa vang lên trầm đục, như một tiếng sấm rền chạy là là trên mặt tuyết, chấn động đến tận những bụi cây khô ven gò. Toàn thể dân làng theo sự chỉ huy của trưởng thôn đồng loạt dập đầu sát xuống chiếu cói, trán chạm nền đất lạnh buốt.

Mã Vạn Hỷ bắt đầu lật từng trang sổ, cất giọng đọc bài văn khấn truyền đời. Tay ông không ngừng chuyển động, chiếc dùi gõ vào mặt da lừa theo một tiết tấu lúc khoan lúc nhặt. Tiếng trống lúc thì dồn dập như vó ngựa phi trên sông băng, lúc lại ngắt quãng, chậm rãi như tiếng nước nhỏ giọt trong hang đá.

Ông đọc đến danh hiệu của Hồ Tiên, dân làng hướng về phía bắc lạy ba lạy. Năm mươi nén nhang cắm trên chiếc lư đồng lớn trước bài vị Hồ Tiên đồng loạt bốc lên những sợi khói đỏ au, cuộn tròn thành hình đuôi cáo rồi bay thẳng lên không trung.

Ông đọc đến danh hiệu của Hoàng Tiên, dân làng hướng về phía nam dập đầu. Hương khói bên bàn thờ phía nam lập tức chuyển sang màu vàng nghệ, tỏa ra mùi thơm ngai ngái của rễ cây rừng.

Cứ thế, lần lượt Bạch Tiên, Liễu Tiên và Hôi Tiên đều được xướng danh. Không khí trong sân đình trang nghiêm đến mức người ta chỉ nghe thấy tiếng gió rít, tiếng củi nổ lách tách trong đống lửa lớn ở góc sân và tiếng dùi da nện đều đặn lên mặt trống của Mã Vạn Hỷ.

Sau khi đọc xong phần tạ ơn, Mã Vạn Hỷ chuyển sang phần tế tiễn. Đây là nghi thức quan trọng nhất: tiễn các vị tiên gia về núi sâu tu hành sau trăm năm bảo bọc làng xóm, đồng thời thiết lập lại giới hạn giữa cõi người và cõi tiên.

Nhịp trống của Mã Vạn Hỷ bỗng nhiên đổi hướng. Tiếng trống chuyển từ âm điệu trầm hùng sang một chuỗi âm thanh dồn dập, gắt gao, mang theo âm hưởng thôi thúc và khẩn khoản. Dưới ánh trăng lạnh, bóng của ông lão cùng chiếc giá trống đổ dài trên nền tuyết trắng, vặn vẹo theo từng nhịp tay vung lên hạ xuống.

Đúng lúc bài cúng tiễn bước vào đoạn cao trào nhất, mặt đất dưới chân chiếc bàn thờ trung tâm bỗng phát ra một tiếng kêu khô khốc.

*Rắc!*

Âm thanh không lớn, nhưng giữa đêm đông vắng lặng, nó lọt vào tai từng người có mặt trong sân đình rõ mồn một.

Mã Vạn Hỷ khựng nhẹ tay dùi, đôi mắt già nua liếc nhanh về phía các án thờ.

Mặt đất nung bằng phẳng dưới chân năm chiếc bàn thờ bỗng nứt ra một đường dài bằng ngón tay. Vết nứt đen ngòm như một con rết bò ngoằn ngoèo từ giữa sân, chạy thẳng qua chân án thờ Hồ Tiên ở hướng bắc rồi leo thẳng lên mặt bàn gỗ.

Chiếc bàn thờ rung lên bần bật. Tấm bài vị gỗ táo gai khắc tên Hồ Tiên bỗng kêu lên một tiếng tanh tách. Từ khoảng trống giữa chữ "Hồ" và chữ "Tiên", một đường nứt sắc lẹm xé dọc thớ gỗ từ trên đỉnh xuống tận chân đế, chia tấm bài vị làm hai mảnh rời rạc, đổ sụp sang hai bên mâm lễ.

Dân làng phía dưới bắt đầu có tiếng xôn xao kinh hãi. Vài người ngẩng đầu lên nhìn, mặt cắt không còn hột máu.

Chưa kịp để ai định thần, tiếng nứt vỡ liên tiếp vang lên giòn giã khắp bốn góc sân đình.

*Rắc! Rắc! Rắc! Rắc!*

Bốn tấm bài vị còn lại của Hoàng Tiên, Bạch Tiên, Liễu Tiên và Hôi Tiên đồng loạt toạc đôi ngay trên đế gỗ. Vết nứt trên từng tấm bài vị đều thẳng tắp và sâu hoắm, để lộ ra phần ruột gỗ bên trong đã đen sì, mủn ra như bị thiêu đốt từ lâu.

Cùng lúc đó, toàn bộ năm mươi nén nhang trên cả năm lư đồng phụt tắt ngấm cùng một lúc. Không có một ngọn gió nào thổi tạt qua, nhưng đầu nhang đỏ rực bỗng hóa thành những đốm đen vô hồn, khói nhang thơm ngát vừa cuộn lên ban nãy lập tức tan biến vào hư không.

Mùi trầm hương biến mất, nhường chỗ cho một thứ mùi thối rữa nồng nặc bốc lên từ năm chiếc bàn thờ.

Đôi chim sẻ trong lồng tre trước bàn thờ Hồ Tiên đồng loạt rũ cánh gục đầu chết tươi, máu đen thấm qua đáy lồng nhỏ giọt xuống nền đá.

- Tiên gia quở phạt! Tiên gia không nhận lễ rồi!

Trưởng thôn họ Lý ngồi ở hàng đầu hoảng hốt kêu to một tiếng, run rẩy bò rạp lên phía trước, hai tay ôm lấy đầu dập lia lịa xuống mặt băng tuyết.

- Đốt nhang lại! Mau mang lửa đến châm lại nhang đèn! Lấy thêm rượu sạch, lấy thêm thịt tươi ra đây!

Trưởng thôn vừa dập đầu vừa gào thét thất thanh với đám gia nhân phía sau.

Đám đông bắt đầu hỗn loạn. Tiếng phụ nữ khóc rấm rứt, tiếng đàn ông hò hét chen lấn, tiếng trẻ con khóc ó o cả một sân đình.

Mã Vạn Hỷ đứng im tại chỗ, sắc mặt trầm xuống như đá tảng.

Ông biết rõ trật tự trăm năm của Ngũ Tiên Thôn đã gãy đổ tại thời điểm này.

Mã Vạn Hỷ bước tới một bước, chân trụ vững chãi trên nền tuyết lạnh. Ông nâng cao chiếc dùi gỗ bọc da nai, dồn toàn bộ sức lực từ cánh tay gầy guộc giáng mạnh xuống mặt trống da lừa.

Ông định đánh hồi trống chín nhịp phá tà giải uế.

Thế nhưng, khi đầu dùi nặng trịch vừa chạm vào tâm trống, không hề có một tiếng *tùng* trầm hùng nào phát ra như mọi khi.

*Xoạc!*

Một tiếng rách toạc chói tai vang lên khô khốc, như tiếng một tấm vải gai bị xé đứt giữa không trung.

Mặt da lừa căng bóng, dẻo dai đã theo ông suốt bao nhiêu năm bỗng nhiên nứt toạc một đường dài từ chính giữa tâm trống chạy thẳng ra vành gỗ bên ngoài. Vết rách ngoằn ngoèo, mép da cuộn lại xơ xác như bị dao sắc rạch nát.

Từ kẽ rách sâu hoắm ấy, một chất lỏng đen đặc, sánh quánh và nhờn nhợt như máu đông bỗng rỉ ra. Chất lỏng chảy ròng ròng qua tang trống bằng gỗ mun, men theo giá đỡ ba chân rồi nhỏ từng giọt đặc quánh xuống lớp tuyết trắng dưới chân Mã Vạn Hỷ.

*Tách... Tách... Tách...*

Mỗi giọt chất lỏng đen rơi xuống, tuyết xung quanh lập tức tan chảy thành một vũng tròn đỏ thẫm như máu tươi, bốc lên làn khói ngai ngái mùi tanh của thịt sống để lâu ngày trong hang tối.

Mã Vạn Hỷ buông thõng cánh tay phải cầm dùi xuống. Lần đầu tiên trong suốt mấy mươi năm gõ trống đi qua hàng trăm thôn làng, gương mặt già nua đầy những nếp nhăn sâu hoắm của ông hiện rõ vẻ lúng túng và bàng hoàng.

Đôi mắt đục ngầu của ông nhìn chằm chằm vào vũng máu đen đang loang rộng trên mặt tuyết, rồi nhìn lên mặt trống da lừa đã rách làm đôi.

Ông run rẩy hạ chiếc dùi xuống, bàn tay trái cụt ngón út đưa ra, cẩn thận lật cuốn sổ bài vị đang đặt trên đôn gỗ.

Cuốn sổ theo ông từ thời trai trẻ, mỗi trang do chính tay ông mài mực tuyết tan mà viết nên, giấy ố vàng khói nhang và tay mồ hôi.

Ông lật mãi cho đến trang cuối cùng của cuốn sổ.

Trang giấy vốn trắng tinh, được ông chừa lại từ hàng chục năm trước để dành cho đêm nay. Đêm kết thúc chu kỳ trăm năm của Ngũ Tiên Thôn, đêm ông đặt nét bút cuối cùng khép lại lệ cúng của ngôi làng.

Thế nhưng, giữa trang giấy chưa từng chạm mực ấy, một hàng chữ son nhỏ li ti đã hiện rõ tự bao giờ. Nét chữ mảnh sắc như móng vuốt cào lên giấy:

- Trống hết da thì thôi gõ.

Mã Vạn Hỷ đứng chết trân. Gió núi thổi tung những sợi tóc bạc lơ thơ dưới vành mũ lông của ông. Ông nhìn hàng chữ son đỏ quạch như máu khô, lẩm bẩm đọc lại từng từ trong cuống họng khô khốc:

- Trống hết da thì thôi gõ... Vậy là đến lượt ta thôi gõ.

Đúng lúc ông vừa dứt câu, từ bốn phương tám hướng xung quanh Ngũ Tiên Thôn, gió bỗng nhiên ngừng thổi.

Một sự tĩnh lặng tuyệt đối ập xuống sân đình, đè nặng lên lồng ngực của từng người đang quỳ dưới đất. Thế rồi, từ bóng tối rừng thông, từ khe nứt dưới lòng sông băng, từ bụi gai trên triền đồi và những hang hốc ngoài bãi tha ma, vô số âm thanh thì thầm đồng loạt vọng về.

Những âm thanh chồng chéo lên nhau, tầng tầng lớp lớp, len lỏi qua từng kẽ lá, rào rào trên mặt tuyết.

Đó là tiếng the thé ma quái của bầy cáo đang cười cợt trên sườn núi phía bắc.

Đó là tiếng khóc rấm rứt, ai oán và thê lương của loài chồn hoang vọng lại từ phía nam.

Đó là tiếng rít nhọn hoắt, lạo xạo như gai nhọn cào vào đá tảng của loài nhím rừng ở phía đông.

Đó là tiếng phì phì, xì xì lạnh lẽo và trơn trượt của bầy rắn bò qua lớp lá mục ở phía tây.

Và ngay dưới chân họ, từ trong các khe đất nứt nẻ và móng nhà đất nung, vang lên tiếng răng chuột gặm nhấm rột rẹt, liên hồi và đói khát.

Tất cả những âm thanh ấy hòa quyện vào nhau trong cùng một nhịp thở của đêm đông, dội thẳng vào màng nhĩ của từng người dân trong làng. Dân làng kinh hãi tột cùng. Hàng trăm người úp mặt sát đất, hai tay bịt chặt tai, thân mình run bần bật như cầy sấy giữa trời giá rét. Không ai dám kêu cứu hay ngẩng mặt nhìn trời.

Giữa âm thanh thì thầm ma quái ấy, ngọn đèn lồng đỏ treo trước cổng đình bỗng chớp tắt một cái rồi phụt tắt hoàn toàn.

Ngay sau đó, ngọn đèn dầu ở mái hiên của ngôi nhà đầu tiên phía đông làng lịm tắt. Rồi đến ngọn đèn thứ hai, ngọn đèn thứ ba, thứ tư... Ánh sáng trong từng gian nhà đất nung lần lượt biến mất theo một vòng tròn khép kín chạy quanh ngôi làng, từ đông sang tây, từ nam sang bắc.

Chỉ trong mười nhịp thở, toàn bộ Ngũ Tiên Thôn chìm ngập trong bóng tối đen đặc quánh. Nguồn sáng duy nhất còn sót lại là ánh trăng lạnh lẽo rọi xuống mặt trống rách đang rỉ máu đen và đống tro tàn của năm mươi nén nhang đã tắt ngấm trên bàn thờ.

Mã Vạn Hỷ lặng lẽ khép cuốn sổ bài vị lại. Ông nhét cuốn sổ sâu vào trong ngực áo bông, cài chặt từng chiếc cúc vải.

Đoạn, ông đưa bàn tay cụt ngón út tháo những sợi dây da bò đang buộc chặt chiếc trống vào giá gỗ. Ông nhấc chiếc trống da lừa rách toạc ra, vác ngược tang trống lên vai trái. Máu đen từ vết rách thấm ướt một mảng áo đỏ chắp vá sau lưng ông, nhưng ông không buồn lau đi.

Ông quay người, chậm rãi bước ra khỏi sân đình.

Đôi ủng da hươu của ông giẫm lên lớp tuyết dày, phát ra những tiếng lạo xạo khô khốc. Ông bước đi giữa hàng trăm con người đang quỳ phục run rẩy trên mặt đất. Không một người nào dám ngẩng đầu lên, cũng không một ai dám đưa tay ra níu giữ bước chân của ông lão.

Khi Mã Vạn Hỷ bước đến gần cổng đình, trưởng thôn họ Lý mới run rẩy ngước cặp mắt đỏ ngầu, đầy vẻ tuyệt vọng lên nhìn theo bóng lưng gầy guộc của ông. Trưởng thôn cố gắng vươn một cánh tay run rẩy về phía trước, thốt ra một câu van lơn nghẹn ngào:

- Ông Mã đi đâu thì đi, đừng bỏ thôn! Ai coi sóc lệ cho thôn này giờ đây?

Mã Vạn Hỷ dừng bước chân lại.

Ông đứng lặng giữa cổng đình một lúc lâu, chiếc trống rách trên vai nghiêng về một bên, nhưng ông không quay đầu lại. Giữa không gian tối đen chỉ có tiếng thì thầm của năm loài thú rừng vẫn đang bao vây quanh làng, không có một lời đáp nào phát ra từ miệng ông lão thầy đồng.

Mã Vạn Hỷ nhấc chân bước tiếp.

Ông đi qua chiếc cổng làng bằng gỗ lim đã tróc sơn, bước ra con đường mòn phủ đầy tuyết trắng dẫn về phía gò Tiên Cô. Bóng dáng cô độc của ông cùng chiếc trống da lừa rách toạc dần dần mờ đi trong màn sương tuyết mịt mùng của đêm đông dài vô tận.

***

Kể từ đêm rằm tháng Mười một năm ấy, không còn một am thờ nào trong Ngũ Tiên Thôn nhận nhang của dân làng nữa.

Thế nhưng, những dấu tích của họ chưa bao giờ hoàn toàn biến mất khỏi mảnh đất này.

Cứ mùng một đầu tháng, bát thóc sạch đặt dưới gầm giường các gian nhà đất nung vẫn vơi đi một nửa sau một đêm, để lại vết răng nhỏ li ti quanh miệng bát.

Những đêm đông gió bấc thổi mạnh, người đi ngang giếng hoang bịt phiến đá xanh trên gò phía tây vẫn nghe tiếng rít khe khẽ qua kẽ đá, như tiếng thở dài thăm thẳm của loài trườn bò dưới đáy sâu.

Cây tùng cổ thụ đứng trơ trọi trên đỉnh gò Tiên Cô vẫn quanh năm xanh ngắt, cành lá rậm rạp che kín cả một khoảng trời, không một trận bão tuyết nào có thể bẻ gãy dù chỉ một nhành cây nhỏ.

Chỉ có một điều vĩnh viễn đổi thay trên khắp các nẻo đường làng ven rừng núi Đông Bắc.

Kể từ đêm trống rách ấy, người ta không còn nhìn thấy bóng dáng ông lão thầy đồng cụt ngón út, áo bông vá vải đỏ, gõ trống da lừa đi qua các thôn làng trong màn tuyết trắng nữa.

Chương khác

Xem thêm