Ngũ Tiên Thôn - Chương 15: Giếng Nước Bỏ Hoang

Cái nắng cuối hạ ở gò đồi phía đông không gay gắt như giữa tháng sáu, nhưng oi nồng bức bối trước khi đợt gió bấc đầu mùa tràn về. Đám cỏ may trên gò…

Nội dung chương

Cái nắng cuối hạ ở gò đồi phía đông không gay gắt như giữa tháng sáu, nhưng oi nồng bức bối trước khi đợt gió bấc đầu mùa tràn về. Đám cỏ may trên gò cháy sém thành từng vệt vàng xơ xác, cọ vào bắp chân lũ trẻ chăn trâu nghe xột xoạt.

Giữa đỉnh gò hoang trơ trọi một miệng giếng cổ xây đá xanh tổ ong. Từ đời cụ cố, giếng đã bị bịt phiến đá, dân làng không ai còn nhớ nó từng cấp nước cho bao đời.

Thằng Thiết Đầu mười hai tuổi, lớn nhất đám, ngồi vắt vẻo trên lưng con trâu mộng, tay cầm roi mây chỉ thẳng về phía miệng giếng:

- Chúng mày biết vì sao người làng cấm ra gò này chơi không? Cụ tao bảo dưới đáy giếng cạn này không có giọt nước nào hết. Dưới ấy có một cụ Thanh Xà tu luyện hơn trăm năm, thân to bằng cây cột đình, vảy cứng hơn sắt nguội. Ai dám động vào giấc ngủ của cụ, cụ thò đuôi lên quấn cổ lôi xuống làm mồi.

Đậu Tử ngồi bệt dưới gốc bụi dại gần đó, tay cầm chiếc ná cao su, bĩu môi không tin:

- Anh Thiết Đầu chỉ giỏi bịa chuyện dọa ma con nít. Giếng bỏ hoang thì chỉ có bùn thối với cóc tía, đào đâu ra rắn to bằng cột nhà.

Thằng Cẩu Đản và thằng Tam Mao đứng bên cạnh nghe thế liền hùa theo, vỗ tay cười ầm ĩ. Thằng Thiết Đầu nhảy phắt từ lưng trâu xuống đất, mặt đỏ gay vì bị bóc mẽ:

- Mày không tin à? Dám đánh cược với tao không? Đứa nào dám nhặt đá ném lọt qua cái khe nắp giếng kia, tao chịu thua cả bọc táo dại hái sáng nay với con dế cụ cánh lửa trong ống nứa này! Còn nếu không dám, từ mai phải dắt trâu cho tao suốt một tháng!

Đậu Tử tính tình bướng bỉnh, lại ham con dế cánh lửa của Thiết Đầu bấy lâu. Nó đứng bật dậy, phủi bụi đất bám trên ống quần cộc:

- Cược thì cược, sợ gì anh!

Nói xong, Đậu Tử cúi xuống chân gò tìm một hồi, nhặt lên hòn đá cuội to bằng nắm tay.

Đậu Tử nhắm một mắt, giơ hòn đá lên ngang tầm trán rồi thả thẳng qua khe hở.

Hòn đá rơi tự do vào khoảng không thăm thẳm. Một nhịp thở trôi qua. Không có tiếng đá chạm nước tõm như thường lệ, chỉ có một tiếng va chạm đanh gọn:

Cộp.

Âm thanh khô khốc vang lên từ độ sâu chừng năm sáu trượng, như hòn đá vừa nện trúng một tấm da trâu dày bọc trên khung gỗ lim.

Ngay sau tiếng cộp ấy, từ sâu thẳm dưới đáy giếng bỗng truyền lên tiếng trườn xột xoạt nặng nề. Thứ gì đó to lớn bên dưới đang cọ xát lớp vảy thô ráp vào những phiến đá tổ ong quanh thành giếng, kéo lê từng tấc một cách chậm chạp. Một luồng gió rít khẽ luồn qua khe đá, thổi tung những cọng cỏ khô bám quanh miệng giếng.

Đậu Tử giật nảy mình, lùi lại nửa bước. Nhưng thấy thằng Thiết Đầu và hai đứa kia đang trố mắt nhìn, nó liền ưỡn ngực cười lớn:

- Đấy! Trúng đáy rồi nhé! Chỉ là đá chạm đáy đất thôi, làm gì có rắn rết nào!

Thằng Thiết Đầu thấy Đậu Tử làm được, tính hiếu thắng nổi lên. Gã vơ vội ba hòn đá sỏi dưới chân, chạy tới ném liên tiếp vào khe hở:

- Tao ném ba hòn! Trúng hết cả ba!

Thằng Tam Mao và Cẩu Đản thấy vui cũng nhặt sỏi thi nhau ném xuống. Tiếng đá rơi *bốp chát* dồn dập vang lên dưới lòng đất tối tăm. Lũ trẻ reo hò, tiếng cười giòn tan xé toạc không gian tĩnh lặng của gò hoang.

Bỗng nhiên, mọi âm thanh dưới đáy giếng im bặt.

Tiếng trườn xột xoạt biến mất hoàn toàn. Luồng gió lạnh từ khe đá ngừng thổi. Không khí xung quanh miệng giếng bỗng trở nên đặc quánh, ngột ngạt đến khó thở. Đám trâu đang gặm cỏ cách đó một quãng tự dưng dừng bặt, đồng loạt nghểnh đầu nhìn về phía giếng cổ, hai tai dựng đứng, phì phì những hơi thở gấp gáp rồi dạt hết về phía rặng tre xa.

Lũ trẻ không để ý đến điều đó. Thằng Thiết Đầu móc bọc táo dại và ống nứa đựng dế đưa cho Đậu Tử, cả bọn chia nhau quả ngọt rồi tiếp tục đuổi bắt nhau trên triền cỏ.

***

Mặt trời xế bóng về phía tây, nhuộm đỏ rực cả rặng thông già trên sườn núi. Hoàng hôn buông xuống mang theo những cơn gió lạnh thổi ràn rạt qua đỉnh gò.

Lũ trẻ thu dọn thừng trâu, chuẩn bị lùa đàn trâu về chuồng. Bốn đứa đứng tụ tập ngay trước phiến đá giếng cổ để gom đồ đạc. Ánh nắng chiều tà chiếu xiên ngang mặt đất, kéo dài bóng của bốn đứa trẻ in thẫm lên nền đất đỏ bụi bặm trước miệng giếng.

Đậu Tử đang cúi đầu buộc lại sợi dây thừng thì khóe mắt nó bắt gặp một chuyển động kỳ lạ trên mặt đất.

Từ khe hở của phiến đá xanh, một vệt bóng đen mảnh mai trượt dài ra ngoài. Nó không phải là một con rắn bằng xương bằng thịt, mà là một cái bóng đen kịt, uốn lượn ngoằn ngoèo trên nền đá rồi trườn thẳng xuống nền đất ẩm.

Cái bóng đen ấy phình to dần khi rời khỏi miệng giếng, bề ngang rộng bằng cả thân cây thông già. Nó trườn đi không hề phát ra một tiếng động nhỏ nào, lướt qua lớp cỏ may khô rồi cắm phập vào phần bóng của Đậu Tử đang in trên mặt đất.

Một cảm giác tê buốt chạy dọc từ gót chân lên tận đỉnh đầu Đậu Tử. Thằng bé rùng mình một cái, hai đầu gối bỗng mềm nhũn ra. Nó nhìn thấy cái bóng đen kia tiếp tục rẽ nhánh, cắm chặt vào bóng của thằng Thiết Đầu, rồi trượt qua bóng của Tam Mao và Cẩu Đản.

Đậu Tử chớp mắt nhìn lại, nền đất chỉ còn bóng của bốn đứa trẻ in dài dưới ánh hoàng hôn, cái vệt đen uốn lượn kia đã biến mất không dấu vết.

- Về thôi, lạnh quá rồi!

Thằng Thiết Đầu cất giọng giục, nhưng tiếng nói của nó bỗng có phần khàn đặc bất thường.

Cả bọn vội vã lùa trâu xuống gò, không đứa nào ngoái đầu nhìn lại miệng giếng cổ đang dần chìm vào bóng tối mịt mùng.

***

Tối hôm đó, Đậu Tử bỏ dở bát cơm độn ngô. Toàn thân thằng bé nóng hầm hập như hòn than nung trong lò, nhưng hai hàm răng lại va vào nhau cầm cập vì rét. Mẹ nó lấy hai chiếc chăn bông cũ đắp kín lên người con, nhưng Đậu Tử vẫn co quắp lại trên giường sưởi, hai tay ôm chặt lấy cổ họng.

Đến nửa đêm, cơn sốt càng dữ dội. Đậu Tử mê man ú ớ, mồ hôi vã ra ướt đầm mái tóc.

Sáng sớm hôm sau, khi người mẹ bưng bát nước gừng ấm đến bên giường gọi con dậy, Đậu Tử mở to hai mắt nhìn mẹ. Thằng bé cố há miệng định nói, nhưng cuống họng nó sưng tấy đỏ lừ, nghẹn ứ lại. Nó cố dùng hết sức bình sinh để phát ra âm thanh, nhưng từ kẽ răng chỉ lọt ra những tiếng xì xì khô khốc, đứt quãng:

- Khè... xì... xì...

Tiếng thở rít lên từng hồi ghê rợn, y hệt như tiếng một con rắn độc đang phì hơi đe dọa kẻ thù trong bụi rậm.

Người mẹ hoảng hốt đánh rơi cả bát nước gừng xuống đất vỡ tan tành. Bà chạy thục mạng ra ngõ kêu cứu. Nhưng vừa ra đến đầu ngõ xóm đông, bà đã thấy mẹ thằng Thiết Đầu đang vừa chạy vừa khóc nức nở.

Thằng Thiết Đầu cũng phát bệnh từ nửa đêm. Cổ họng nó sưng to đến mức da cổ căng bóng, nổi lên từng mảng tím thẫm như bị gì bóp nghẹt từ trong ra.

Nhà thằng Tam Mao và Cẩu Đản cũng chung một cảnh ngộ. Cả bốn đứa trẻ chăn trâu trên gò hoang chiều hôm trước đều đồng loạt mất đi tiếng nói con người, chỉ còn lại thứ âm thanh rít gió của loài bò sát.

Gia đình bốn đứa trẻ cuống cuồng mổ gà, đồ xôi, mua rượu trắng và tiền vàng mang đi khắp các am thờ trong làng để cầu xin. Họ đến miếu Hồ Tiên ở xóm bắc, sang miếu Hoàng Tiên ở đầu làng, rồi lên am Bạch Tiên cạnh rừng thông.

Thế nhưng, điều kỳ quái là nhang thắp lên am nào cũng gãy đôi ngay từ chân nhang. Bát gạo cắm hương vừa đặt xuống liền bị gió lốc từ đâu thổi lật úp, tro hương bay mù mịt. Lũ quạ đen trên rặng cây sà xuống mổ nát đĩa xôi gà, không một vị tiên gia nào trong vùng nhận lễ.

Trưa ngày thứ hai, bà mụ Tôn - người già nhất xóm chuyên coi việc đỡ đẻ và xem bói lá trầu - chống gậy lần mò đến từng nhà. Bà vạch mí mắt Đậu Tử ra xem, rồi áp tai vào ngực thằng bé lắng nghe hồi lâu.

Bà mụ Tôn thở dài, lắc đầu ngao ngán:

- Nhang gãy lễ đổ, tiên gia trong làng không ai dám nhận đâu. Đây không phải oan hồn người chết quấy phá, cũng không phải ma rừng bắt vía. Khí lạnh này từ lòng đất xông lên, ngấm thẳng vào bóng vía của chúng nó. Giếng hoang ấy từ lâu đã không còn là giếng nước của người sống nữa rồi. Ai bảo các con ra đấy ném đá trêu ngài?

Mẹ Đậu Tử quỳ sụp xuống ôm lấy chân bà lão, khóc nấc lên:

- Mụ ơi, cứu cháu với! Chúng nó dại dột không biết gì, xin mụ chỉ đường cho chúng nó sống!

- Phải tìm người hiểu chuyện âm phần của vùng này mà xin dẫn việc. Tội này là tội kinh động tổ hang tiên gia, chỉ có hỏi chính chủ giếng mới mong giữ được mạng.

***

Đầu giờ chiều ngày hôm đó, tiếng trống da lừa quen thuộc chậm rãi vang lên từ con đường mòn dẫn vào thôn.

Mã Vạn Hỷ khoác chiếc túi vải thô bạc màu, bàn tay cụt ngón út cầm dùi gõ từng nhịp *tang... cắc...* trầm đục. Ông bước vào sân nhà Đậu Tử, nhìn lướt qua bốn đứa trẻ đang nằm co quắp trên manh chiếu trải giữa sân, cổ họng đứa nào cũng phát ra những tiếng rít khe khẽ đến não lòng.

Cha mẹ của bốn đứa trẻ thấy Mã Vạn Hỷ đến liền quỳ mọp xuống đất, dập đầu liên tục xin ông ra tay cứu giúp.

Mã Vạn Hỷ giơ bàn tay lành lặn lên ngăn lại, giọng ông trầm tĩnh nhưng nghiêm khắc:

- Đừng lạy tôi. Tôi không phải thần tiên, cũng không có phép trừ tà diệt quỷ. Trẻ con tinh nghịch là tội nhỏ, cha mẹ phải chịu thay phần lễ.

Ông lão dẫn toàn bộ thân nhân bốn gia đình cùng bốn đứa trẻ đi thẳng lên gò hoang cuối thôn.

Đến bên miệng giếng cổ, mấy người đàn ông vác theo xà bén và đòn bẩy, định xúm vào nạy phiến đá xanh lên để nhìn xuống đáy tìm cách tạ tội.

- Dừng tay lại!

Mã Vạn Hỷ quát lớn..

- Ai cho phép các người động vào đá phong ấn? Muốn cả làng này gặp đại họa hay sao?

Ông chỉ tay vào phiến đá xanh phủ đầy rêu mốc:

- Người ta mượn giếng sâu để tĩnh tu, mượn đá dày để ngăn bụi trần. Các người ném đá xuống làm kinh động thân thể ngài, nay lại muốn lật nắp lên quấy rầy nữa sao?

Mã Vạn Hỷ cắm ba nén nhang thô vào khe đất cạnh phiến đá, rồi quay sang dặn dò cha mẹ bốn đứa trẻ:

- Bắt đầu từ giờ này, cha mẹ bốn đứa quỳ quanh miệng giếng đủ bảy ngày bảy đêm. Mỗi ngày thay một lớp đất mới phủ lên phiến đá.

Nói đoạn, ông lão ngồi xếp bằng xuống một tảng đá cách miệng giếng mười bước chân, đặt chiếc trống da lừa lên đùi, nhắm mắt lần tràng hạt bằng gỗ dâu.

***

Bảy ngày chuộc tội trên gò hoang là chuỗi ngày dài đằng đẵng như cả một kiếp người đối với dân làng Ngũ Tiên Thôn.

Trời cuối hạ, ban ngày nắng gắt, ban đêm sương muối lạnh thấu xương. Tám người cha mẹ quỳ gối trên nền sỏi lởm chởm quanh miệng giếng, đầu gối rách toạc rỉ máu, thấm đỏ vạt áo cộc.

Mỗi khi đêm buông xuống, không gian trên gò hoang vắng lặng như tờ, chỉ còn lại tiếng gió rít qua rặng thông và tiếng tụng niệm trầm đục của Mã Vạn Hỷ.

Dưới lớp đất mới đắp trên miệng giếng, đêm nào người ta cũng nghe những tiếng động kỳ lạ vọng lên từ đáy sâu.

Mỗi buổi chiều tà, khi ánh hoàng hôn kéo dài bóng người trên đất, bốn đứa trẻ lại được dìu ra sân đất. Đậu Tử nhìn vào cái bóng đen của chính mình, nước mắt giàn giụa, thằng bé chắp hai tay trước ngực, cố gắng mở miệng nhưng cổ họng vẫn chỉ phát ra những tiếng xì xì đau đớn.

Đến ngày thứ tư, lớp đất phù sa phủ lên phiến đá xanh đã dày hơn một gang tay.

Buổi chiều hôm ấy, khi ánh nắng vừa chạm vào bóng của Đậu Tử, thằng bé run rẩy quỳ sụp xuống, dập đầu chạm trán vào nền đất ẩm. Cơn đau thắt nơi cổ họng bỗng chùng xuống, từ trong lồng ngực non nớt của nó bật ra được một âm thanh run rẩy:

- Má... Má ơi... con biết lỗi rồi...

Tiếng gọi vỡ òa giữa không gian tĩnh mịch. Người mẹ đang quỳ bên miệng giếng nghe thấy tiếng con liền òa khóc nức nở, hai tay ôm chặt lấy mặt đất ẩm ướt. Cổ họng Đậu Tử bớt sưng đỏ, thằng bé đã có thể nuốt được vài ngụm cháo loãng.

Đến ngày thứ bảy, lớp đất thứ bảy đã phủ kín hoàn toàn phiến đá xanh, biến miệng giếng cổ thành một nấm đất tròn trịa, thoai thoải như một ngôi mộ đất lớn giữa gò hoang.

Tiếng rít gió dưới lòng đất hoàn toàn im bặt.

Cả bốn đứa trẻ đã đứng dậy được, sắc mặt hồng hào trở lại, nói chuyện được với người nhà.

***

Sáng ngày thứ tám, sương mai đọng trắng xóa trên những ngọn cỏ may quanh gò.

Mã Vạn Hỷ đứng dậy sau bảy ngày đêm túc trực. Ông cầm chiếc xẻng sắt nhỏ, tự tay xúc thêm một lớp đất màu mỡ phủ lên đỉnh nấm đất tròn. Đoạn, ông mở chiếc túi vải thô, lấy ra một nắm hạt cỏ may và cỏ mật xanh biếc, cẩn thận rải đều lên khắp mặt đất mới đắp.

Dân làng đứng vây quanh im phăng phắc, chờ đợi lời phán của ông lão thầy đồng.

Mã Vạn Hỷ cắm chiếc xẻng xuống đất, nhìn quanh bốn đứa trẻ và gia đình của chúng rồi cất giọng:

- Thanh Xà dưới giếng đã nhận lễ chuộc mạng của các ngài. Ngài tha cho hồn phách lũ trẻ trở về với thân xác.

Bốn đứa trẻ cùng cha mẹ chúng đồng loạt quỳ xuống vâng dạ.

Mã Vạn Hỷ khoác lại chiếc trống da lừa lên vai, chống gậy bước đi chậm rãi xuống triền dốc, để lại sau lưng nấm gò đất mới thoang thoảng mùi đất ẩm và hương hạt cỏ non.

***

Nhiều năm tháng trôi qua ở Ngũ Tiên Thôn.

Cái giếng cổ bịt đá năm nào nay đã hoàn toàn biến mất dưới một gò cỏ xanh mướt, hoa cỏ may nở tím ngắt mỗi độ thu về. Lũ trẻ trong làng không còn đứa nào dám bén mảng đến gò ném đá hay trêu đùa.

Cứ mỗi năm một lần, vào đúng ngày cuối hạ, Đậu Tử cùng Thiết Đầu, Tam Mao và Cẩu Đản lại mang theo liềm nhỏ và chổi tre lên gò hoang. Chúng lặng lẽ làm cỏ dại, vun lại lớp đất màu quanh nấm gò, tuyệt đối không để trâu bò giẫm đạp lên dù chỉ một bước chân.

Bốn đứa trẻ năm ấy dần dần lớn lên thành những người đàn ông vạm vỡ, lập gia đình rồi sinh con đẻ cái. Chúng đã già đi theo năm tháng, trên cằm ai nấy đều mọc những chòm râu quai nón rậm rạp phong trần.

Thế nhưng, vết tích của một lần bồng bột nơi miệng giếng cổ năm xưa không bao giờ phai nhạt.

Suốt cuộc đời mình, mỗi khi trò chuyện trong đêm đông dài bên bếp lửa, hay khi tức giận cãi nhau, giọng chúng vẫn thoảng chút rít khẽ như lời nhắc từ đáy giếng cũ.

Chương khác

Xem thêm