Ngũ Tiên Thôn - Chương 13: Đống Tro Tàn
Gió bấc rít từng cơn qua những khe rãnh nứt toác trên con đường mòn dẫn vào Ngũ Tiên Thôn. Sương muối phủ trắng xóa bờ rào dâm bụt khô khốc, đọng thành…
Nội dung chương
Gió bấc rít từng cơn qua những khe rãnh nứt toác trên con đường mòn dẫn vào Ngũ Tiên Thôn. Sương muối phủ trắng xóa bờ rào dâm bụt khô khốc, đọng thành từng mảng xám đục trên mái ngói rêu phong. Đêm giao đông buốt đến thấu xương, hơi thở vừa phà ra khỏi miệng đã lập tức đông đặc thành làn khói trắng xóa rồi tan biến vào bóng tối mịt mùng.
Đinh Quý lảo đảo bước đi trên lớp tuyết xốp, hai chân xiêu vẹo như giẫm trên bông. Chiếc áo kép bông rách tơi tả ở nách không đủ cản cái lạnh của đồng bãi, nhưng lồng ngực gã lại nóng rực như có một hòn than đang cắn xé. Mùi rượu đế rẻ tiền xộc lên tận mũi, đắng ngắt và nồng nặc.
Gã vừa thua sạch canh bạc cuối cùng ở chòi vịt ngoài đầm làng bên. Ba ván liền, con xúc xắc trong bát sứ đều quay vào mặt đen.
- Đồ lừa đảo! Cả đám chúng mày đều là quân lừa đảo!
Đinh Quý gào lên giữa cánh đồng vắng, giọng khản đặc chìm nghỉm trong tiếng gió gầm rú. Gã nhớ lại buổi chiều tà hôm trước. Trước khi bước chân vào chiếu bạc, gã đã cẩn thận giấu vợ, mang ba nén hương cụt cùng nửa chai rượu trắng ra ngôi miếu nhỏ đầu làng. Ngôi miếu gỗ lim xập xệ nép mình dưới gốc hòe cổ thụ, bên trong đặt bài vị màu vàng xỉn của Hoàng Tiên gia. Gã đã dập đầu rầm rầm xuống nền đá buốt giá, hứa chắc nịch rằng nếu đêm nay thắng lớn sẽ đúc quả chuông đồng mạ vàng dâng lên trước am.
Thế nhưng tiên gia không cho gã thắng. Tiên gia để gã thua đến chiếc khuy đồng cuối cùng trên vạt áo.
Cơn say trộn lẫn uất ức mù quáng khiến máu trong người Đinh Quý sôi sục. Gã bước đến ngã ba đầu thôn, nơi miếu Hoàng Tiên nhỏ xíu nằm dưới bóng cây cổ thụ.
- Không cho ta ăn thì đừng hòng ai được ngửi khói!
Đinh Quý rút phắt bùi nhùi bện rơm khô tẩm dầu hỏa giắt bên hông. Gã đánh bật que diêm. Ánh lửa bùng lên soi đỏ gương mặt vặn vẹo của gã.
Lửa gặp dầu bốc cháy ngùn ngụt. Gỗ thông và gỗ lim khô nổ tanh tách chói tai. Khói đen cuộn lên che khuất cả trời đêm.
Chưa đầy nửa canh giờ, ngôi miếu đầu làng chỉ còn lại bốn góc nền đá xám xịt bị hun đen nhẻm, khói xám lãng đãng bốc lên rồi bị gió bấc thổi tạt vào rừng sâu.
Đinh Quý nhổ một bãi nước bọt xuống nền đá còn nóng rực, quay lưng lảo đảo bước về xóm tây.
Về đến cổng nhà, bước chân gã chậm lại. Không khí quanh sân nồng mùi khói khét, thứ mùi hăng lạ thường giữa đêm đông.
Dưới hiên, vợ gã là Thúy Nga cùng đứa con trai sáu tuổi tên Tiểu Thuận đang ngồi bên bàn gỗ thấp ăn khoai luộc bằng ánh đèn dầu leo lét.
Mọi thứ bình yên đến lạ. Cơn điên trong đầu Đinh Quý tạm lắng xuống, thay bằng cảm giác mệt mỏi kéo ã.
Nửa đêm.
Cái lạnh buốt giá bất thần đánh thức Đinh Quý. Không phải cái lạnh thông thường của đêm đông luồn qua khe cửa, mà là thứ khí lạnh âm u, buốt nhức tận xương tủy như thể gã đang nằm trần truồng giữa một bãi tha ma bỏ hoang.
Đinh Quý run rẩy mở mắt.
Không có chăn bông. Không có vách đất nung. Không có mái tranh che đầu.
Gã đang nằm co quắp trên đống tro đen xám xịt, nguội ngắt và ẩm ướt. Xung quanh gã, cả ngôi nhà chỉ còn nền đá và bốn cột cháy xém.
Đinh Quý kinh hãi vùng dậy, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Gã dụi mắt, nhìn về phía chiếc bàn gỗ quen thuộc dưới hiên trước kia.
Chiếc bàn không còn, thay vào đó là một manh chiếu cói rách nát trải ngay giữa đống tro tàn. Thúy Nga và Tiểu Thuận vẫn ngồi nguyên ở đó. Quần áo của hai mẹ con vẫn lành lặn, sạch sẽ, không vương một hạt bụi tro. Chiếc âu sành trước mặt vẫn còn nguyên những củ khoai bốc khói nghi ngút.
- Bu nó... Tiểu Thuận... Nhà... nhà mình sao thế này?
Đinh Quý cất giọng run rẩy, bước từng bước ngập ngừng lại gần.
Hai bóng người chầm chậm quay đầu lại nhìn gã.
Cổ họng Đinh Quý nghẹn ứ, một tiếng thét kinh hoàng tắc nghẹn nơi cuống họng.
Bên dưới chiếc khăn trùm đầu bằng vải thô của Thúy Nga không phải là khuôn mặt hiền lành của người phụ nữ thôn quê nữa.
Đứa con trai nhỏ Tiểu Thuận cũng ngoảnh mặt lên. Khuôn mặt non nớt của đứa trẻ sáu tuổi cũng biến thành một cái đầu chồn vàng sắc lẻm. Hai bàn tay gầy gò của nó mọc ra những chiếc móng vuốt cong vút, đen nhánh, đang cầm củ khoai lang đưa lên miệng gặm từng miếng nhỏ một cách vô hồn.
Hai mẹ con mặt chồn không hề phát ra một tiếng động nào, chỉ dùng bốn con mắt sáng rực như hai ngọn đèn dầu nhìn chòng chọc vào Đinh Quý, miệng vẫn nhai trui trủi từng miếng khoai nguội ngắt.
- Ma! Ma quỷ cứu tôi với!
Đinh Quý hét lên một tiếng xé ruột, ngã ngửa ra đống tro rồi lồm cồm bò dậy, cắm đầu chạy thẳng ra cổng.
- Cứu tôi! Nhà tôi cháy rồi! Vợ con tôi hóa thành quái vật rồi! Mau cứu tôi với!
Tiếng kêu cứu thất thanh giữa đêm đông xé toạc sự tĩnh mặng của Ngũ Tiên Thôn. Chó trong các ngõ sủa điên dại.
Trưởng thôn cùng hơn chục người vội vã chạy về phía nhà Đinh Quý. Nhưng khi đoàn người đến nơi, tất cả đều chết lặng trước cảnh tượng rùng rợn hiện ra dưới ánh đuốc.
Khu đất nhà họ Đinh phẳng lì một màu đen thẫm của tro tàn. Cả đám người nhìn xuống nền tro còn rỉ khói mờ nhạt. Lạ thay, lớp tro ngoài cùng đã đông cứng dưới cái lạnh mùa đông như có lớp băng vô hình đè lên, không cho một cơn gió nào khuấy động.
Ngay giữa bãi tro lạnh lẽo ấy, Thúy Nga và con trai vẫn ngồi ngay ngắn trên manh chiếu rách.
Mấy người đàn ông định bước vào đống tro kéo hai mẹ con ra. Vừa chạm chân đến mép tro đen, một luồng gió xoáy hôi hăng thốc mạnh, đuốc trên tay họ chao đảo rồi vụt tắt. Mùi xú khí nồng nặc khiến ai nấy đều lợm giọng, phải lùi lại mấy bước.
- Không ổn rồi... Động vào tiên gia rồi! Mau, mau đi đón thầy Mã Vạn Hỷ!
Trưởng thôn run giọng hô hoán.
Một lát sau, tiếng gậy gỗ lộc cộc gõ đều đặn trên nền tuyết vang lên từ đầu ngõ.
Mã Vạn Hỷ khoác chiếc áo bông cũ kỹ vá vai, chiếc trống da lừa màu nâu xỉn đeo bên hông, ngón tay út cụt ngủn khẽ lần theo chiếc dùi gỗ bước vào sân. Đôi mắt già nua của ông dừng lại trên đống tro tàn, rồi nhìn hai mẹ con đang ngồi bất động giữa bãi than củi.
Đinh Quý thấy Mã Vạn Hỷ đến liền bò lê bò càng đến dưới chân ông, ôm chặt lấy ống quần thô của thầy đồng mà dập đầu lia lịa:
- Thầy Mã! Thầy cứu mẹ con nó với! Con lỡ dại, con uống rượu say quá... Con đốt cái miếu ở đầu làng... Con biết tội rồi, các ngài muốn phạt gì con cũng chịu, chỉ xin trả lại vợ con cho con thôi!
Mã Vạn Hỷ đứng yên giữa gió tuyết, nhìn ngọn khói mỏng bốc lên từ bát sành trên manh chiếu rách. Ông thở dài nặng trĩu:
- Ngươi tưởng miếu đầu làng là cái chòi hoang để ngươi muốn dựng thì dựng, muốn đốt thì đốt sao? Ngôi miếu ấy là thân tiên. Ngươi đốt thân nó thì nó lấy lại của trong vòng tay ngươi. Tiên gia tính công phu vậy đó, không hơn một li.
Đinh Quý khóc không ra tiếng, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng trên khuôn mặt lấm lem tro bụi:
- Con xin chuộc mạng! Con bán máu, bán mạng, con đúc chuông vàng chuông bạc đền lại cho ngài! Chỉ cần trả tôi vợ con. Của cải để các ngài lấy hết cũng được!
Mã Vạn Hỷ khẽ lắc đầu, giọng trầm đục vang lên rõ mồn một giữa tiếng gió bấc:
- Giao kèo bằng miệng với người phàm còn có chỗ sửa. Giao kèo với tiên gia, đốt đi là hết. Khi ngươi châm lửa đốt thân nó, giao kèo giữa miếu này và nhà ngươi đã thành tro theo miếu.
- Vậy... vậy con phải làm sao? Lẽ nào trơ mắt nhìn vợ con chết cứng giữa đống tro này?
Đinh Quý nghẹn ngào túm chặt gấu áo Mã Vạn Hỷ.
Mã Vạn Hỷ cúi nhìn gã cờ bạc, nghiêm giọng nói:
- Muốn cứu vợ con thì tự dùng đôi tay ngươi mà trả nợ. Miếu cháy do tay ngươi châm lửa, thì tự tay ngươi phải dựng lại.
Nói xong, Mã Vạn Hỷ giơ dùi gõ nhẹ một nhịp vào mặt trống da lừa: Cắc.
Tiếng trống khô khốc vang lên, hai hình bóng ngồi giữa đống tro tàn bỗng khựng lại, đôi mắt mở to nhìn chăm chú về phía rừng sâu, không cử động thêm một lần nào nữa. Bát khoai bốc khói trước mặt bỗng chốc ngưng đọng, làn khói trắng cuộn tròn lại thành một vòng nhỏ lơ lửng trên không trung.
Mã Vạn Hỷ xoay người rời đi, bỏ lại Đinh Quý quỳ sụp giữa đám tro tàn và ánh nhìn thương hại của dân làng.
Kể từ rạng sáng hôm ấy, người dân Ngũ Tiên Thôn không còn thấy Đinh Quý bén mảng đến bất kỳ sới bạc nào nữa.
Mỗi buổi sớm tinh sương, khi mặt trời chưa ló sau đỉnh núi tuyết, người ta đã thấy bóng gã vác rìu lên rừng đục gỗ.
Gã tự mình kéo những súc gỗ nặng hàng trăm cân qua những con dốc dựng đứng phủ đầy băng tuyết. Vai gã bị dây thừng cứa nát, thịt da tưa ra đỏ lòm, dính chặt vào lớp vải áo bông rách. Về đến đầu làng, gã ngồi bên nền đá cũ, dùng đục sắt gõ từng nhát một, đo đạc từng chiếc mộng, đục từng khớp nối.
Gió bấc thổi căm căm, tuyết rơi đầy đầu đầy vai, nhưng Đinh Quý như kẻ mất hồn, chỉ biết cắm cúi làm việc. Bàn tay gã nứt nẻ thành những rãnh sâu hoắm, máu rỉ ra đông cứng lại thành từng lớp vảy dày cộm.
Một năm ròng, bốn mùa trôi qua. Đống tro ở nền nhà cũ họ Đinh vẫn nằm nguyên đó như một lời nhắc.
Cho đến một ngày cuối đông năm sau.
Tuyết lại rơi trắng xóa khắp các ngả đường. Tại ngã ba đầu làng, một ngôi miếu gỗ lim nhỏ nhắn nhưng vững chãi đã mọc lên sừng sững trên nền đá cũ. Từng khớp mộng khít khao, từng cột gỗ bóng loáng mồ hôi và máu của người dựng.
Đinh Quý run rẩy vác cây đòn nóc cuối cùng trèo lên mái miếu. Bằng tất cả sức lực tàn tạ của một kẻ đã kiệt quệ sau một năm đày ải, gã gõ nhát búa cuối cùng, cố định thanh xà nóc vào đúng vị trí.
Ngay khi thanh xà nằm ngay ngắn vào khớp mộng, từ trong ngôi miếu mới bỗng tỏa ra một làn hương thơm dịu nhẹ của gỗ rừng, xua tan mùi khét lẹt u uất đã ám ảnh cả ngôi làng suốt một năm qua.
Đinh Quý tụt vội xuống đất, không kịp lau những giọt mồ hôi đang đông đặc trên trán, gã quay cuồng chạy thục mạng về phía xóm tây.
- Bu nó ơi! Tiểu Thuận ơi! Miếu xong rồi! Ta dựng xong miếu rồi!
Gã vừa chạy vừa gào khóc, vấp ngã liên tục trên tuyết rồi lại lồm cồm bò dậy. Nhưng khi gã lao vào cổng sân nhà mình, bước chân gã sững sờ khựng lại.
Đống tro tàn vẫn còn đó, đen xịt và lạnh ngắt dưới trời tuyết. Nhưng manh chiếu cói rách đã trống không. Chiếc âu sành vỡ biến mất. Hai mẹ con Thúy Nga và Tiểu Thuận không còn ngồi ở đó nữa.
Giữa bãi tro lạnh chỉ còn hai hàng dấu chân nhỏ, một lớn một bé, in sâu vào nền tuyết trắng. Chúng nối dài từ đống tro ra bờ rào sau nhà, hướng về cánh rừng thông trên núi cao.
Mấy người thợ săn đi rừng sớm kể lại, lúc mờ sáng họ thoáng thấy hai bóng người áo bông sạch sẽ lầm lũi đi ngược gió về phía đỉnh núi tuyết, mặt mũi đã là mặt người như xưa. Bóng nhỏ đi sau có bím tóc đuôi sam đung đưa theo từng bước.
Đinh Quý quỳ sụp xuống giữa đống tro tàn trống hoác, hai tay ôm lấy mặt, bật khóc nức nở giữa trời đông giá buốt.
Từ mùa đông năm ấy trở đi, người dân Ngũ Tiên Thôn không bao giờ thấy Đinh Quý rời khỏi làng nửa bước. Gã dựng một túp lều tranh nhỏ ngay bên cạnh ngôi miếu Hoàng Tiên đầu làng, sớm tối quét tước, châm nhang giữ lửa cho am miếu. Gã không còn động đến một con bài, một chén rượu.
Thế nhưng, cứ mỗi khi đêm xuống, khi cả làng đã chìm vào giấc ngủ yên bình bên những chiếc giường sưởi ấm áp, người ta lại thấy bóng gã lầm lũi đi về phía nền nhà cũ ở xóm tây.
Gã ngồi thụp xuống đống tro tàn đã bị tuyết phủ dày, dùng đôi bàn tay đầy sẹo và chai sạn bới từng lớp tro lạnh ngắt, bới vô vọng giữa than củi mục rỗng.
Có một đêm trăng khuyết, sương muối phủ mờ khắp các ngõ, một người hàng xóm đi tuần đêm tình cờ bắt gặp cảnh tượng khiến ông đứng chết lặng.
Gã không biết nóng, chỉ run rẩy áp chặt đồng xu đỏ rực vào ngực áo rách, rồi gục đầu xuống lớp tro lạnh. Tiếng khóc nghẹn ngào của gã nức nở như đứa trẻ bị bỏ rơi giữa đêm đông.