Ngũ Tiên Thôn - Chương 10: Vảy Sắt Trên Cổ
Gió mùa đông từ sườn núi phía bắc Ngũ Tiên Thôn thổi xuống mang theo hơi buốt của những cánh rừng gỗ tạp bạt ngàn. Trong căn lán gỗ dựng tạm bằng thân…
Nội dung chương
Gió mùa đông từ sườn núi phía bắc Ngũ Tiên Thôn thổi xuống mang theo hơi buốt của những cánh rừng gỗ tạp bạt ngàn. Trong căn lán gỗ dựng tạm bằng thân bạch dương ghép thô, tiếng bễ lò rèn than củi vẫn phì phò thổi từng luồng khói đỏ quạch lên mái lá phủ tuyết.
Đoàn ngồi trên chiếc hòm đạn gỗ cũ, một chân gác lên đống xích sắt kéo súc. Chiếc áo da gấu khoác ngoài mở cúc ngực, để lộ chòm râu quai nón rậm rì cùng ánh mắt đục ngầu của kẻ quen nghề bạt rừng xẻ trộm. Gã vỗ mạnh lòng bàn tay xuống xấp tiền giấy bạc màu đặt trên bàn trà thô:
- Mày bảo trên đỉnh gò Độc Mộc có một cây tùng ngàn tuổi? Thớ đỏ đặc, ròng từ gốc lên ngọn?
Gã thợ săn trẻ đứng nép bên vách nứa, hai tay co ro trong bọc vải, ngập ngừng gật đầu:
- Bẩm bác Đoàn, đúng là tùng đỏ. Thân ba người ôm không xuể, tán xòe che kín cả một vạt đồi hướng bắc. Nhưng người già trong thôn dặn mãi, cây ấy là chỗ ngự của Liễu gia. Dưới gốc có hang sâu nối thẳng vào lòng núi, quanh năm có một ông rắn đen to bằng cột nhà canh giữ. Thợ rừng bao đời qua đó đều phải cúi đầu đi vòng, không ai dám vung một nhát rìu.
Đoàn cười gằn, nhổ toẹt bãi nước bọt đỏ lòm vì nhai trầu rừng xuống nền đất nện:
- Rắn với chả rết. Cánh nhà giàu dưới trấn đang lùng mua tùng đỏ ngàn tuổi làm quan tài trấn trạch, trả bằng vàng thoi. Rắn có độc mấy cũng thua một phát súng kíp hay lưỡi cưa máy. Tối nay đưa người lên gò, chặt hạ đem về lán trước khi tuần kiểm trên huyện về kiểm tra.
Mấy người già trong xóm thợ dưới chân đồi nghe tin liền lục tục chống gậy mò lên lán gỗ. Một cụ già tóc bạc phơ quỳ ngay bậc cửa, hai tay run rẩy chắp trước ngực:
- Đoàn gia, xin ông nghĩ lại. Cây tùng ấy rễ ăn sâu vào long mạch gò bắc, Liễu Tiên đã nương bóng ở đó qua bao đời tổ họ Đoàn, họ Mã. Đốn cây là phá nhà tiên gia, rước họa diệt thân!
Đoàn đá phăng chiếc gậy gỗ của cụ già, mặt lạnh tanh:
- Đất này dưới chân tao, cây trên rừng là của trời cho đứa nào có búa. Đứa nào cản đường làm ăn thì liệu hồn với họng súng của tao.
***
Đêm ấy, trời tối đen không một ánh sao. Tuyết rơi dày đặc làm trĩu nặng những cành thông non trên sườn dốc. Đoàn dẫn theo bốn gã trai tráng khỏe nhất đội thợ, mang theo cưa đôi, rìu thép cùng hai can dầu hỏa lội tuyết ngược lên đỉnh gò Độc Mộc.
Cây tùng cổ thụ đứng sừng sững giữa gió tuyết, thân cây sần sùi bám đầy rêu phong đóng băng trắng xóa. Đúng như lời đồn, lớp vỏ cây nứt nẻ để lộ những thớ gỗ màu đỏ thẫm như thịt tươi, tỏa ra mùi nhựa thơm nồng nặc át cả cái lạnh thấu xương.
Dưới gốc cây tùng, một cái hốc đất sâu hoắm ăn luồn vào trong lòng rễ. Hơi nóng ngai ngái mùi bùn non và vảy tanh nhè nhẹ bốc lên từ miệng hang giữa đêm đông buốt giá.
- Đốt đuốc lên! Cưa gốc!
Đoàn quát lớn, tự tay vung chiếc rìu thép chém mạnh vào gốc cây.
*Phập!*
Lưỡi rìu vừa ngập sâu vào thớ gỗ, một dòng nhựa đỏ sền sệt bỗng ứa ra từ vết chém, chảy ròng ròng xuống lớp tuyết trắng. Bốn gã thợ xúm vào kéo cưa. Tiếng răng thép nghiến vào thân gỗ rít lên từng hồi ken két giữa đêm khuya thanh vắng.
Sau gần hai canh giờ vật lộn, thân cây tùng khổng lồ phát ra những tiếng rắc rắc khô khốc rồi đổ ầm xuống sườn đồi, cành lá gãy nát văng tung tóe khắp một vùng tuyết phủ.
Đoàn cầm ngọn đuốc rọi vào miệng hốc cây vừa lộ ra sau khi thân gỗ đổ gục.
Bên trong hốc đất trống hoác. Lòng hang nhẵn bóng như có một vật thể khổng lồ vừa trườn qua, để lại vài mẩu da khô mỏng dính và một vệt chất nhầy màu đen nhánh dẫn thẳng ra mép vực tuyết. Không ai nhìn thấy bóng dáng con rắn đen khổng lồ bò đi hướng nào giữa màn đêm mịt mùng.
Đoàn cười lớn, giẫm chân lên vết trườn nhầy nhụa:
- Chạy mất dép rồi! Kéo gỗ về lán!
***
Ba ngày sau đêm đốn cây, đợt tuyết lớn tràn về bịt kín lối ra vào thung lũng.
Đoàn ngồi trong lán gỗ thưởng rượu cùng số tiền cọc đầu tiên vừa nhận được. Nhưng từ chiều hôm ấy, vùng da dưới cổ và trước ngực gã bắt đầu ngứa ngáy dữ dội. Cơn ngứa không giống muỗi đốt hay dị ứng lá sâu róm, mà buốt nhói sâu tận dưới lớp biểu bì, cào xé từng thớ thịt.
Gã cởi phanh áo bông, dùng mười đầu ngón tay cào cấu điên cuồng. Móng tay gã cào rách da, máu tươi rỉ ra lẫn với mồ hôi đặc quánh, nhưng cơn ngứa bên trong xương tủy càng lúc càng bùng lên dữ dội.
Đoàn cầm chiếc gương đồng ố vàng treo trên cột gỗ soi vào ngực mình.
Dưới ánh đèn dầu leo lét, gã hoảng hồn nhận thấy trên vùng da cổ và trước xương quai xanh nổi lên từng mảng đốm xám tro. Những đốm ấy không phải mụn nhọt, mà là những phiến sừng cứng, dẹp và xếp lớp so le nhau. Mỗi chiếc phiến sừng đen bóng, lạnh ngắt và nhẵn thín y hệt vảy của loài thủy tộc khổng lồ.
Gã lấy móng tay cậy thử một mảng vảy sắt. Cơn đau thấu tim truyền thẳng lên óc khiến gã rống lên một tiếng hãi hùng. Mảnh vảy bám chặt vào chân bì, mọc rễ sâu vào thịt đỏ.
Sang tuần thứ hai, những mảng vảy đen bắt đầu lan rộng với tốc độ chóng mặt.
Từ xương quai xanh, chúng bò ngược lên yết hầu rồi lan dần sang hai bên quai hàm. Mỗi chiếc vảy cứng như lá thép, khít rịt vào nhau tạo thành một lớp giáp đen sì bó chặt lấy cổ gã. Cổ họng Đoàn cứng đơ, không thể xoay đầu sang trái hay sang phải.
Mỗi lần nuốt một ngụm nước hay một thìa cháo loãng, cổ họng gã lại đau đớn như bị hàng trăm mũi kim nhọn đâm xuyên qua. Hơi thở của gã rít lên từng tiếng khò khè qua kẽ răng, kèm theo mùi tanh nồng của bùn lầy đáy sông.
Đoàn phát điên. Gã dùng dao găm cạo mạnh lên cổ. Lưỡi thép sắc bén chạm vào lớp vảy phát ra tiếng va chạm chan chát tóe lửa, chỉ cạo tróc được lớp màng mỏng bên ngoài. Gã lấy kìm sắt kẹp chặt một chiếc vảy lớn ngay yết hầu rồi nghiến răng giật mạnh.
*Phựt!*
Chiếc vảy bị nhổ bật ra, mang theo một túm thịt đỏ tươi và dòng máu đen đặc bốc mùi tanh tưởi. Đoàn ngã quỵ xuống sàn đất, rên rỉ vì đau đớn.
Nhưng ngay sáng hôm sau, tại chỗ chân vảy vừa bị nhổ đứt, ba chiếc vảy mới to hơn, đen hơn và dày hơn lập tức trồi lên khỏi mặt da, siết chặt lấy đường thở của gã còn khốc liệt hơn trước.
Gã đem hết số tiền bán gỗ lậu thuê xe ngựa xuống trấn lớn tìm thầy thuốc. Các danh y trong trấn nhìn thấy vùng cổ phủ kín vảy đen của gã đều lắc đầu kinh hãi xua tay từ chối. Gã tìm đến các đạo sĩ, thầy cúng lập đàn giải hạn, uống hàng chục bát nước tro bùa đỏ lòm, nhưng lớp vảy trên cổ vẫn ngày một dày thêm, mọc lan dần lên tận vành tai và cằm dưới.
Cuối cùng, gã bò đến cửa nhà một thầy đồng có tiếng ở ngoại ô trấn. Thầy đồng vừa kéo chiếc khăn che cổ của Đoàn xuống. Thấy những vảy đen xếp lớp hình thoi, ông tái mặt, thụt lùi vào nhà đóng chặt then cài:
- Liễu gia bản xứ đòi nợ máu! Đạo hạnh của xà tiên ngàn năm trên núi tuyết không ai dám đụng vào. Mày đắc tội với tiên gia đất nào thì mang cái thân tàn ấy về đất đó mà chịu tội, đừng mang váng độc đến cửa nhà tao!
***
Giữa trưa một ngày giáp Tết, tuyết rơi mù mịt xóa nhòa ranh giới giữa rừng và làng.
Một chiếc xe bò kéo chở Đoàn trở lại Ngũ Tiên Thôn. Gã không còn ngồi thẳng được nữa mà nằm co quắp trên đống rơm khô, toàn bộ phần ngực, cổ và nửa khuôn mặt dưới đã bị một lớp vảy đen bóng như sắt nguội bao bọc hoàn toàn. Mồm gã há hốc, hai mắt lồi ra đỏ ngầu, từng tiếng rít the thé thoát ra từ cuống họng khô khốc.
Người nhà dìu gã lết từng bước nặng nề đến am thờ nhỏ của Mã Vạn Hỷ ở bìa rừng phía đông.
Mã Vạn Hỷ đang ngồi trước hiên nhà đất nung, tay cầm chiếc dùi gỗ gõ nhịp đều đặn lên mặt chiếc trống da lừa cũ kỹ. Tiếng trống trầm đục vang lên giữa không gian tĩnh mịch, hòa cùng tiếng gió rít qua rặng bạch dương.
Thấy gã họ Đoàn được người nhà khiêng vào sân, Mã Vạn Hỷ dừng tay dùi. Ông đặt chiếc trống da lừa sang một bên, nâng chiếc ấm gốm sứt vòi rót một chén nước chè rừng nóng bốc khói nghi ngút.
Mã Vạn Hỷ bước xuống bậc thềm, cúi nhìn gã đàn ông đang quằn quại dưới đất. Bàn tay cụt ngón út của ông khẽ lướt qua những phiến vảy đen sì đang rung lên bần bật theo từng nhịp thở của Đoàn.
Mã Vạn Hỷ nhìn thẳng vào đôi mắt vằn tia máu của kẻ buôn gỗ. Giọng ông phẳng lặng như mặt hồ đóng băng:
- Cây tùng cổ thụ trên gò Độc Mộc ấy, lúc mày vung nhát rìu đầu tiên xuống, chúng nó đang ở trong ổ hay đã đi trẩy hội?
Đoàn run rẩy, hai bàn tay co quắp bám chặt lấy ống quần thô của Mã Vạn Hỷ. Gã cố gắng dùng hết sức tàn mấp máy môi, nhưng cơ hàm đã bị vảy sắt khóa chặt, chỉ phát ra những âm thanh đứt quãng nghẹn ngào từ đáy họng:
- Đêm... đêm lạnh... ổ... ổ còn ấm... có... có mùi tanh...
Mã Vạn Hỷ thở dài một tiếng thật khẽ, thu tay về sau lưng áo bông cũ:
- Mày chặt đúng vào đêm Liễu Tiên đang ngủ đông trong ruột cây. Nhà của người ta tích tụ linh khí ngàn năm, mày đốn hạ đem bán lấy mấy thoi vàng tây. Mày không chỉ đốn cây, mày phá nát tổ ấm đời đời của một dòng họ tiên gia.
Gã Đoàn quỳ sụp xuống, đầu đập chan chát xuống nền tuyết đóng băng, hai mắt ứa ra hai dòng lệ đục ngầu, cổ họng rít lên những tiếng cầu xin thảm thiết.
Người nhà gã cũng vội vã dập đầu khóc lóc:
- Thầy Mã! Xin thầy thương tình cứu lấy mạng nó! Nhà con xin dâng hết số tiền bán gỗ, xin cúng mười con lợn béo, một trăm mâm xôi gà lập đàn chuộc tội cho Liễu Tiên! Xin ngài mở lượng khoan hồng!
Mã Vạn Hỷ lắc đầu, ánh mắt nhìn xa xăm về phía ngọn gò mù mịt sương trắng:
- Liễu Tiên coi trọng huyết thống, tính tình lạnh lùng thù dai bậc nhất trong ngũ đại gia. Hoàng Tiên quấy người bằng giấc mơ. Hồ Tiên hại người bằng nhan sắc. Bạch Tiên phạt bằng gai và bệnh tật. Nhưng Liễu Tiên một khi kết oán là thù riêng một đổi một. Ông ấy không nhận lễ chuộc bằng bạc vàng hay thịt xôi.
Ông lão cụt ngón cúi nhìn Đoàn lần cuối:
- Cây ngàn năm đã mất thì phải có một cái thân cây khác cắm xuống đỉnh gò để trả lại chỗ ngự cho tiên gia. Đó là luật của dòng họ rắn không bao giờ thay đổi từ đời tổ. Mày tự tay chặt gốc, thân mày phải thế chỗ. Đi về đi, chuẩn bị hậu sự cho tươm tất.
Nói xong, Mã Vạn Hỷ quay lưng bước vào trong gian nhà đất nung, khép chặt cánh cửa gỗ lại.
Tiếng trống da lừa lại cất lên bên trong gian nhà, nhịp gõ đanh gọn và lạnh lẽo, tiễn đưa những kẻ lầm đường lội qua bão tuyết trở về lán gỗ.
***
Đêm hôm đó, cơn bão tuyết lớn nhất trong vòng ba mươi năm qua đổ ập xuống Ngũ Tiên Thôn.
Gió gào thét từng cơn dữ dội, cuốn phăng những mảng vách nứa và rui mè của các lán thợ xẻ ven rừng. Trong căn lán gỗ của đội buôn, tiếng gầm rú vì đau đớn của Đoàn vang lên không ngớt suốt từ chập tối cho đến tận canh ba.
Lớp vảy sắt đen sì lúc này đã lan kín toàn bộ khuôn mặt gã, chỉ chừa lại hai hốc mắt đỏ ngầu vô hồn. Các khớp xương tay chân của gã cứng đờ, uốn cong lại như những cành cây khô gãy gập. Da thịt toàn thân gã lạnh ngắt, cứng như một tảng đá ngâm dưới đáy sông băng.
Cơn đau buốt từ tủy xương dâng lên đỉnh điểm, biến từng giây từng phút thành địa ngục trần gian.
Đến gần sáng, tiếng la hét trong lán gỗ bỗng nhiên im bặt.
Mấy gã thợ xẻ run rẩy đẩy cửa bước vào. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão, họ kinh hoàng nhìn thấy Đoàn đã treo mình lơ lửng trên chiếc xà ngang giữa lán bằng một sợi dây thừng bện bằng vỏ gai rừng. Chiếc lán đêm đó đứng trơ trọi ngay dưới chân gò Độc Mộc, chỉ cách gốc tùng bị đốn hạ vài trăm bước chân.
Một gã thợ run rẩy rút dao cắt đứt sợi dây thừng.
Xác của Đoàn rơi xuống nền đất nện, phát ra một tiếng cộp khô khốc và nặng trịch y hệt một súc gỗ tùng vừa bị đốn hạ. Lật ngửa xác gã lên, toàn bộ mặt trước thân thể từ đỉnh trán đến mười đầu ngón chân đã hóa thành khối vảy sắt đen kịt, nhẵn bóng lạnh buốt. Không còn sót một tấc da thịt người.
Khuôn mặt gã vĩnh viễn bị phong kín sau lớp mặt nạ vảy rắn, đôi mắt trợn trừng nhìn thẳng lên mái lán trơ trọi. Khi mấy người khiêng xác gã ra khỏi lán, ai nấy đều tái mặt. Xác gã nặng như cả khối cây già, sáu người hì hục mới kéo lê được lên sườn gò. Vừa đặt xuống đúng chỗ gốc tùng cũ, chẳng ai nhấc nổi thêm lần nữa.
***
Sáng hôm sau, khi bão tuyết vừa tan, ánh mặt trời mùa đông nhợt nhạt rọi xuống ngọn gò Độc Mộc.
Một tiếng hô hoán kinh ngạc của đám thợ rừng vang vọng khắp thung lũng. Cả làng Ngũ Tiên Thôn lũ lượt kéo nhau lên đỉnh gò xem xét.
Khúc gỗ tùng ngàn tuổi bị đốn hạ đêm trước cùng toàn bộ cành nhánh gãy nát đã hoàn toàn biến mất không để lại một dấu vết kéo lê nào trên nền tuyết. Chỉ còn lại chiếc lán gỗ trống, xà ngang vẫn buông lơ lửng sợi dây bị cắt đứt.
Ngay tại vị trí gốc cây bị cưa đứt, một cây tùng cổ thụ mới to lớn lạ thường bỗng nhiên sừng sững mọc lên giữa trời đông giá rét. Thân cây đen nhánh như sắt nguội, lớp vỏ ngoài xếp lớp chằng chịt từng phiến hình thoi đen bóng y hệt lớp vảy trên xác chết của gã họ Đoàn.
Kỳ lạ hơn cả, giữa mùa đông tuyết phủ trắng xóa các ngọn đồi xung quanh, tán cây tùng này lại bung nở những chùm lá kim xanh rì, tươi tốt mơn mởn như đang độ giữa mùa xuân.
Một cụ già trong thôn đứng nhìn trân trân lên tán cây xanh mướt, giọng run rẩy thì thào:
- Cây xanh lại rồi. Nhưng các ông nhìn kỹ đi, tán cây nay nghiêng hẳn về phía làng mình, như đang cúi xuống rình rập từng mái nhà...
Phía sau đám đông, Mã Vạn Hỷ chậm rãi bước đến.
Ông khoác chiếc áo bông vá vai, tay ôm chiếc trống da lừa, im lặng nhìn lên ngọn tùng đen nhánh đang vươn những nhánh lá xanh ngắt vào nền trời xám xịt. Gió bấc thổi qua ngọn tùng phát ra những tiếng xào xạc rì rào nhè nhẹ, nghe như tiếng trườn mình của một sinh linh khổng lồ trên lớp lá mục.
Mã Vạn Hỷ ngồi xuống một tảng đá ven đường, mở cuốn sổ bọc da thú màu nâu thẫm đã ố vàng theo năm tháng.
Ông nhúng chiếc bút lông cũ vào nghiên mực đen đặc, nắn nót viết thêm một dòng chữ nhỏ vào trang giấy:
*Năm Canh Dần, tháng Chạp. Kẻ đốn tùng gò Độc Mộc hóa vảy sắt đền mạng. Thân thay thế đã đủ.*
Mã Vạn Hỷ khẽ lẩm bẩm trong miệng:
- Thân thay thế đã đủ. Rừng lại có chủ nương mình.
Nói xong, ông gập cuốn sổ lại, gõ một nhịp trống da lừa trầm đục rồi chầm chậm quay gót đi xuống con đường tuyết trắng xóa dẫn về phía xóm đông. Tán tùng ngàn tuổi trên đỉnh đồi vẫn lặng lẽ nghiêng bóng về phía thôn làng, ngút ngàn một màu xanh ma quái giữa mùa đông lạnh ngắt.