Ngũ Tiên Thôn - Chương 9: Hũ Cao Nhím

Mùa đông ở dải rừng rậm phía sau chợ phiên Ngũ Tiên Thôn luôn đến sớm hơn các nơi khác nửa tháng. Khi gió bấc vừa tràn qua rặng thông già, mặt đất đã…

Nội dung chương

Mùa đông ở dải rừng rậm phía sau chợ phiên Ngũ Tiên Thôn luôn đến sớm hơn các nơi khác nửa tháng. Khi gió bấc vừa tràn qua rặng thông già, mặt đất đã đóng thành từng tảng băng cứng ngắc như đá mài. Cả góc chợ phiên nồng nặc mùi mỡ thú thối rữa, mùi da thuộc ngâm phèn và khói than tổ ong cay xè mắt.

Lang băm họ Chu ngồi sau sạp gỗ mục ở mé chợ, hai bàn tay luồn sâu vào ống tay áo bông dày để ủ ấm. Trên mặt bàn bày lơ thơ mấy gói thuốc rẻ tiền và một hũ đất nung đựng cao đen sánh.

Gã Chu không biết bấm huyệt, càng không thuộc trọn vẹn cuốn sách thuốc nào của cổ nhân. Cả vùng này gọi gã là lang băm.

Để có thứ cao dán đắt đỏ ấy, mùa nào gã cũng tự mình vào rừng lùng sục hang hốc, đặt bẫy kẹp săn nhím gai. Nhím thường chỉ to bằng cái nồi đất, thịt ít mỡ nhiều, gã lột da lấy lông làm ống cắm kim, còn toàn bộ xương thịt băm nhỏ ném vào vạc dầu sôi cùng nhựa thông và rễ xuyên khung.

Năm nay trời lạnh sớm, tuyết phủ dày đến đầu gối, nhím rừng trốn tiệt dưới các hang sâu. Gã Chu lùng suốt mười ngày mà hũ cao trống trơn, trong khi khách đặt trước đã kín cả tháng.

Nhìn hai thỏi bạc nặng trịch nằm trên mặt gỗ mun, lòng tham của Chu bùng lên át cả nỗi sợ bão tuyết. Sáng hôm sau, khi gà rừng còn chưa gáy, gã đã khoác cung tên, dắt rìu ngắn bên hông và vác theo chiếc giỏ sắt nặng trịch, một mình lặn sâu vào dải rừng thông sau chợ.

Tuyết lấp kín mọi lối mòn. Gã Chu lần theo những vết cào trên vỏ cây thông, đi mãi tới thung lũng đá xám cuối rừng mới thấy dấu vết sống.

Dưới gốc một cây thông cổ thụ mọc nghiêng bên vách đá, tuyết xung quanh tan chảy thành một vòng tròn đất ướt.

Gã Chu nheo mắt nhìn qua rặng cây khô. Nằm cuộn giữa đám rễ thông phủ rêu là một con nhím to lớn khác thường. Toàn thân nó trắng muốt như tuyết, từng chiếc gai lấp lánh ánh ngọc dưới nắng mờ.

Con nhím già nằm im lìm, hơi thở phập phồng chậm rãi.

Gã Chu nín thở, rút chiếc rìu ngắn sau lưng, chân bước rón rén trên nền tuyết xốp. Khoảng cách thu hẹp dần xuống còn năm bước chân. Khi gã vừa giơ cao lưỡi rìu thép định bổ xuống gáy con vật, con nhím trắng bỗng cựa mình.

Nó không xù lông phóng gai tự vệ, cũng không co tròn thân mình lăn xuống hốc đá như những con thú hoang khác.

Con nhím chậm rãi ngồi thẳng dậy trên hai chân sau, để lộ phần bụng mềm phủ lớp lông tơ mịn màng. Đôi chân trước ngắn ngủn của nó co lại, chắp chặt vào nhau giơ lên ngang ngực. Đôi mắt đen láy mở to nhìn thẳng vào khuôn mặt gã Chu.

Từ khóe mắt tròn xoe của con vật, hai giọt nước đọng lại rồi lăn dài xuống mép lông trắng.

Nó dập đầu về phía gã. Từng nhịp, từng nhịp một, hai chân trước chắp lại cúi lạy lia lịa, phát ra những tiếng khẹt khẹt nghẹn ngào sâu trong cuống họng.

Bàn tay cầm rìu của gã Chu run lên bần bật. Cơn ớn lạnh từ sống lưng chạy dọc lên đỉnh đầu. Loài thú biết chắp tay lạy người và rơi nước mắt, gã từng nghe những phường hát rong kể trong các tích cổ về ngũ đại tiên gia, nhưng chưa bao giờ tận mắt chứng kiến.

Gã lùi lại nửa bước. Nhưng ánh mắt chạm vào túi vải bên hông, nơi hai thỏi bạc trắng đang cộm lên nặng trĩu.

- Súc sinh thì cũng chỉ là thịt xương trong vạc.

Gã Chu gằn giọng qua kẽ răng, vứt rìu sang một bên rồi vung mạnh tấm lưới sắt có gắn móc câu bén ngót chụp thẳng lên đầu con nhím.

Con vật bị bọc kín trong lưới sắt, gai nhọn đâm xuyên qua các mắt lưới nhưng không thể bung ra. Nó không giãy giụa hung hãn, chỉ nằm ép sát xuống đất, đôi mắt vẫn đẫm nước nhìn trừng trừng vào gã lang băm suốt quãng đường gã kéo lê nó trên nền tuyết về lán thuốc.

***

Trong gian bếp chật hẹp phía sau lán, ngọn lửa củi thông cháy bừng bừng dưới đáy vạc gang khổng lồ. Dầu mè, nhựa thông cùng các vị thuốc bắc sôi sùng sục, bốc lên làn khói đen kịt ngạt thở.

Gã Chu khóa chặt cửa nẹp gỗ, hai tay mang găng da trâu dày cộp, nhấc con nhím trắng ra khỏi lưới sắt. Con vật vẫn giữ nguyên tư thế hai chân trước chắp lại, ngực phập phồng, ánh mắt không hề rời khỏi mặt gã.

Gã Chu quay mặt đi, lấy hết sức bình sinh ném cả con nhím còn sống nguyên vào giữa vạc dầu sôi ngùn ngụt rồi đập mạnh nắp gỗ nặng nề đè lên trên.

*Éc...*

Một tiếng thét ngắn ngủn, the thé và chói gắt vang lên từ đáy vạc gang rồi im bặt.

Không có tiếng cào xé hay giãy giụa nào tiếp theo. Chỉ có tiếng dầu sôi sùng sục ngày càng dữ dội. Qua khe hở của nắp gỗ, bọt dầu trào ra ngoài không phải màu đen xám của thảo mộc, mà là những mảng bọt trắng xóa như tuyết vụn, bốc lên mùi thơm ngai ngái vừa ngọt ngào vừa tanh nồng.

Gã Chu canh lửa suốt hai ngày hai đêm. Khi ngọn lửa tàn dần, gã mở nắp vạc.

Bên trong lòng gang đen bóng, toàn bộ thịt da của con nhím đã tan rữa hoàn toàn, hòa quyện với thảo dược tạo thành một khối cao sánh mịn màu nâu sẫm, óng ánh như mật ong rừng để lâu năm. Những chiếc gai trắng dài gom lại thành từng cụm nổi lềnh bềnh trên mặt lớp dầu cặn.

Gã cẩn thận dùng muôi đồng vớt từng lớp cao đặc đổ đầy vào một chiếc hũ đất nung tráng men nâu thô ráp. Hũ cao ấm nóng, nặng trịch trên tay khiến gã Chu thở phào nhẹ nhõm. Gã cất hũ đất lên bệ gỗ cao nhất trong buồng ngủ rồi leo lên phản đất nung đánh một giấc say sau hai ngày thức trắng.

Nửa đêm hôm ấy, gió bấc thổi giật từng cơn khiến mái tranh của lán thuốc kêu răng rắc.

Trong cơn mê man, gã Chu thấy mình đang đứng giữa gian bếp mịt mù khói trắng. Vạc gang trên bếp lò bỗng nhiên cựa quậy. Nắp gỗ bật tung, từ trong đáy vạc ngập ngụa dầu đen, một khối cao dẻo quánh từ từ nhô lên, tụ lại thành hình một bóng người nhỏ bé ngồi xổm.

Bóng đen ấy mọc đầy những chiếc gai trắng dài nhọn hoắt. Nó cầm một chiếc lược làm bằng xương thú, chậm rãi đưa từng đường chải chuốt lớp gai trên lưng mình.

*Rột... rột... rột...*

Tiếng gai nhọn cọ vào răng lược phát ra âm thanh khô khốc, đanh gọn giữa đêm khuya tĩnh mịch. Mỗi lần chiếc lược đưa qua, những giọt dầu đen lại nhỏ tong tòng xuống nền gạch nung. Cái bóng bỗng xoay đầu lại một góc trọn vẹn, để lộ hai hốc mắt sâu hoắm rỉ máu, nhìn thẳng vào gã Chu đang chết lặng trên giường.

Gã giật bắn mình tỉnh giấc, mồ hôi ướt đầm đìa chiếc áo bông lót.

Trời vừa rạng sáng. Gió ngoài sân đã ngừng nhưng không khí trong phòng buốt lạnh khác thường. Gã Chu định chống tay ngồi dậy thì phát hiện bàn tay phải của mình tê dại, không còn chút cảm giác.

Gã đưa tay lên trước mặt nhìn kỹ.

Mười đầu ngón tay của gã đã co quắp lại, gập cứng vào lòng bàn tay như vuốt thú bị sấy khô trên lửa.

Từ những vết phồng rộp ấy bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc, hệt như mùi cao nhím cháy khét trong vạc dầu đêm trước.

Gã hốt hoảng lấy kim châm chọc vỡ các bọc nước. Nhưng mũi kim vừa rút là dịch vàng chảy tràn. Chạm đến đâu, da thịt chỗ đó loét đến đấy, mang lại cảm giác đau nhức buốt thấu tận tủy xương, hệt như có hàng ngàn mũi gai nhọn đang từ trong thớ thịt đâm ngược ra ngoài.

Gã chạy vội ra chợ phiên tìm các thợ thuốc lâu năm để cầu cứu.

Lão thợ thuốc đầu chợ vừa nắm lấy cổ tay gã Chu định bắt mạch liền giật nảy mình rụt tay lại. Lão nhìn chằm chằm vào những ngón tay co quắp đang rỉ dịch vàng của gã, ngửi thấy mùi khét lẹt đặc trưng bốc ra từ da thịt, mặt lão lập tức biến sắc.

- Mày rước thứ vạ gì vào thân rồi? Đi đi! Quán của tao không chữa được thứ bệnh này, mày bước vào làm uế tạp hết thuốc của tao!

Lão xua tay đuổi gã như đuổi tà rồi vội vã đóng sập then cài cửa tiệm. Những người khác trong chợ thấy bàn tay gã Chu biến dạng kỳ quái cũng dạt ra xa, không một ai dám đứng gần trong phạm vi ba trượng.

Chỉ trong vòng ba ngày ngắn ngủi, tai họa đổ ập xuống căn lán thuốc.

Những nốt mụn nước không dừng lại ở bàn tay mà bắt đầu lan nhanh theo cẳng tay lên bả vai, rồi bò kín khắp cổ và nửa khuôn mặt bên phải của gã Chu. Toàn bộ tóc trên đầu gã rụng từng mảng lớn, để lộ lớp da đầu phồng rộp, bóng nhẫy và đỏ lừ như vừa bị nhúng vào nồi nước sôi.

Mỗi khi gã cử động, lớp da nứt toác ra rỉ thứ nước vàng ngai ngái, dính bết vào vạt áo bông. Mùi hôi thối pha mùi cao cháy bao trùm căn lán nhỏ. Không còn một vị khách nào dám bén mảng tới mua thuốc.

Người vợ gã Chu nhìn chồng biến thành quái vật lở loét, sợ hãi gom hết bạc vụn và quần áo lành lặn rồi lẳng lặng về nhà mẹ đẻ.

Đến ngày thứ bảy, gã Chu không thể tự đứng dậy được nữa. Khắp thân thể gã căng tức, đau đớn như bị xé rách từng mảng da. Gã hiểu rằng các loại lá thuốc trần thế không cứu được mình.

Gã dùng mảnh vải rách quấn tạm quanh người, quỳ rạp trên nền tuyết lạnh ngắt, cắn răng bò từng bước một qua con đường mòn phủ đầy băng đá hướng về phía miếu thờ ở đầu thôn để tìm Mã Vạn Hỷ.

***

Khi gã Chu bò lết được nửa đường, kiệt sức ngã sấp xuống nền tuyết trước cổng làng, gã nhìn thấy một bóng người gầy gò đã đứng đợi sẵn bên gốc cây đầu ngõ.

Mã Vạn Hỷ khoác chiếc áo bông chắp vá nhiều mảnh, bên hông đeo chiếc trống da lừa nhỏ xíu, hai tay chắp sau lưng. Bàn tay cụt ngón út của ông lão đặt hờ trên khúc tre làm cổng. Đôi mắt ông bình thản nhìn gã lang băm đang nằm lê lết dưới chân mình, thân thể bê bết máu mủ và tuyết bẩn.

- Thầy Mã... cứu tôi với...

Gã Chu thều thào qua đôi môi nứt nẻ rỉ máu, hai bàn tay co quắp cố gắng bám vào gấu quần Mã Vạn Hỷ.

- Tôi đau quá... Tôi biết lỗi rồi...

Mã Vạn Hỷ khẽ lùi lại nửa bước, né tránh bàn tay đang rỉ dịch của gã. Ông không bước theo gã về phía lán thuốc, chỉ đứng yên ở ranh giới giữa đường làng và lối vào nhà Chu.

- Cửa nhà ông giờ là cửa vạc dầu, khói oán tích tụ đặc quánh trên xà nhà. Tiên gia không nhận lời mời vào chỗ đó, tôi cũng không thể bước qua bậu cửa ấy.

Gã Chu ôm lấy đầu gối, dập đầu lia lịa xuống nền tuyết cứng:

- Tôi chỉ nấu một nồi cao thôi mà... Một nồi thôi mà! Xưa nay người ta vẫn săn thú nấu cao, sao riêng tôi lại phải chịu nỗi thống khổ này?

Mã Vạn Hỷ cúi nhìn gã, giọng nói trầm đều và lạnh như băng tuyết đầu mùa:

- Săn thú để sinh nhai khác với việc tận diệt linh vật đã khai mở linh tính. Nó lạy ông bằng đôi chân nó sẽ chết. Giờ ông muốn ai lạy ông đây?

Gã Chu nghẹn ứ nơi cổ họng. Khuôn mặt sưng phù giật giật, nước mắt lẫn dịch vàng rỉ ra chảy tràn xuống râu.

- Thầy ơi... có cách nào cứu mạng tôi không?

Gã Chu nấc nghẹn.

- Tôi không muốn chết thối rữa thế này đâu...

Mã Vạn Hỷ ngẩng đầu nhìn về phía rặng thông xa xa, nơi đỉnh thung lũng đá xám vẫn chìm trong màn sương mờ mịt.

- Bạch Tiên là loài giỏi y thuật nhất trong ngũ tiên, tính tình vốn dĩ ôn hòa, xưa nay chưa từng chủ động hại người. Nhưng kẻ nào bội ước, đập vỡ lời cầu xin thì phải chịu cái giá của lời bội ước đó. Cái chết với ông lúc này còn là quá nhẹ nhàng.

Ông lão cụt ngón út rút từ trong túi vải thô ra một nén hương đen chưa đốt, đặt xuống đỉnh cọc tre đầu cổng:

- Muốn giữ lại hơi tàn, chỉ có một con đường. Hũ cao nhím ông nấu từ thịt xương nó, tuyệt đối không bán hay dùng. Đem đổ trả xuống đúng gốc thông nơi ông bắt nó.

Mã Vạn Hỷ ngừng lại một chút, ánh mắt nghiêm nghị nhìn thẳng vào gã lang băm:

- Phần đời còn lại, da thịt này vĩnh viễn không lành lặn như xưa nữa. Ông phải đem hết hiểu biết về cỏ cây thuốc chữa miễn phí cho trẻ con trong thôn. Đó là phần việc thay cho mạng nó.

Nói xong, Mã Vạn Hỷ không ngoái đầu nhìn lại, chắp tay sau lưng chầm chậm bước đi trên con đường tuyết trắng xóa.

***

Trưa hôm ấy, giữa cơn gió bấc buốt giá gầm rú qua các khe đá, người ta thấy gã Chu lảo đảo ôm chiếc hũ đất nung tráng men thô bước từng bước nặng nề vào thung lũng đá xám.

Thân thể gã rách nát, mỗi bước đi đều để lại một vệt dịch vàng nhạt trên nền tuyết trắng. Nhưng hai bàn tay co quắp của gã vẫn ôm chặt lấy chiếc hũ trước ngực như ôm lấy mạng sống duy nhất của mình.

Đến trước gốc thông già nghiêng bên vách đá, gã quỳ sụp xuống. Vòng tròn đất ẩm nơi con nhím trắng từng nằm nay đã bị tuyết mới phủ kín một lớp mỏng.

Gã Chu run rẩy mở nắp hũ đất.

Lớp cao nhím màu nâu sẫm bên trong vẫn còn nguyên vẹn, tỏa ra mùi thơm ngai ngái quen thuộc. Gã nghiêng miệng hũ, từ từ đổ toàn bộ khối cao đặc quánh xuống khoảng đất quanh gốc thông già. Chất cao sánh mịn thấm dần vào lớp đất xốp, tan chảy dưới cái lạnh thấu xương của mặt đất mùa đông.

Khi giọt cao cuối cùng rơi xuống, gã Chu giơ cao chiếc hũ đất nung, đập mạnh vào tảng đá xám cạnh gốc cây.

*Choang!*

Chiếc hũ vỡ tan thành từng mảnh gốm vụn.

Gã Chu quỳ trên tuyết, dùng mười đầu ngón tay co quắp đang rỉ mủ của mình cào từng nắm đất đá sắc nhọn, đào một cái hố nhỏ ngay dưới rễ cây. Máu tươi từ các kẽ móng tay ứa ra hòa cùng đất bùn buốt giá. Gã cẩn thận nhặt từng mảnh gốm vỡ đặt vào lòng hố rồi vùi đất lấp lại cẩn thận.

Gã dập đầu ba cái xuống nấm đất nhỏ, nước mắt lã chã rơi làm tan một mảng băng mỏng.

Khi gã Chu lê bước trở về lán thuốc, một sự thay đổi kỳ lạ bắt đầu diễn ra trên thân thể gã.

Những nốt mụn nước không vỡ ra nữa. Dịch vàng ngừng rỉ, dần khô se thành lớp vảy mỏng trên da.

Mười ngón tay của gã mãi mãi co quắp, chỉ có thể cầm nắm được những vật thô ráp như cuốc xới thuốc và rễ cây khô.

***

Từ mùa đông năm ấy, góc chợ phiên Ngũ Tiên Thôn không còn tấm biển "Chu Nhất Đao - Cao Nhím Gia Truyền" nữa.

Thay vào đó, dưới gốc cây tiêu huyền già ở mé chợ, luôn có một ông lang mặt sẹo ngồi xổm trên tấm chiếu rách. Nửa khuôn mặt sần sùi của gã Chu khiến người lạ nhìn vào phải khiếp vía, nhưng những gia đình nghèo trong thôn đều dắt con cái đến tìm gã mỗi khi con trẻ ho hen hay nổi ban mùa lạnh.

Gã Chu dùng đôi bàn tay khoèo cẩn thận bốc từng thang thuốc lá rừng gói vào giấy báo cũ trao cho họ. Gã không bao giờ thu tiền, ai đưa biếu củ khoai hay bắp ngô nướng gã cũng đều lắc đầu từ chối.

Đêm về, trong căn lán thuốc đơn sơ lạnh lẽo, gã Chu thắp một ngọn đèn dầu hạt cải leo lét đặt ở đầu phản.

Gió mùa đông ngoài rừng thông vẫn thổi qua từng khe vách đất nung.

Trên bức vách đất đối diện giường nằm của gã, dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, chiếc bóng của một con thú nhỏ luôn in hằn rõ rệt từ lúc nửa đêm cho tới khi trời rạng sáng.

Chiếc bóng ngồi thẳng lưng trên hai chân sau, thân hình xù xì những chiếc gai dài. Nó lặng lẽ cầm chiếc lược xương chải từng chiếc gai trên lưng mình, đôi mắt bóng đen không chớp, im lìm nhìn thẳng vào người đàn ông mặt sẹo đang co ro dưới tấm chăn bông mỏng.

Và gã Chu học cách nhắm mắt ngủ dưới ánh nhìn lạnh lẽo ấy qua từng đêm đông dài dằng dặc.

Chương khác

Xem thêm