Ngũ Tiên Thôn - Chương 6: Hạt Thóc Đen
Gió bấc thổi qua những rặng bạch dương khẳng khiu ngoài đầu thôn, cuốn theo từng cơn lốc tuyết mỏng đập chan chát vào cánh cửa gỗ kho thóc ba gian của…
Nội dung chương
Gió bấc thổi qua những rặng bạch dương khẳng khiu ngoài đầu thôn, cuốn theo từng cơn lốc tuyết mỏng đập chan chát vào cánh cửa gỗ kho thóc ba gian của nhà họ Nghiêm.
Nghiêm Phú Thành đứng giữa gian kho, hai tay chắp sau lưng chiếc áo bông đen dày, mũi hếch lên ngửi mùi hạt khô trong không khí ẩm.
Thế nhưng, dưới chân lão, từng vốc vỏ trấu rỗng nằm rải rác bên mép chân tường.
Lão Nghiêm cau mày, cúi người nhặt một nhúm trấu. Hạt thóc bị cắn rách một đầu, ruột gạo trắng tinh bên trong bị khoét rỗng không còn một mẩu.
- Năm nay giá gạo tăng gấp đôi năm ngoái. Một phần mười số này là bao nhiêu bạc...
Lão Nghiêm lẩm bẩm một mình, ánh mắt đục ngầu lóe lên tia nhìn độc địa. Lão quay đầu nhìn vào góc kho tối tăm, nơi có những chiếc lỗ tròn sâu hoắm khoét thẳng vào chân vách đất nung.
Tối hôm đó, đợi người làm khiêng vác về hết và trời sập tối, lão Nghiêm một mình cầm đèn bão quay lại kho. Lão rải thuốc độc trắng xóa khắp sàn, trộn đều vào cám bã đổ thành đống giữa kho. Rồi lão thổi tắt đèn, đóng cửa kho ba vòng, về nhà ngủ một giấc yên.
Lão cẩn thận lấy chiếc muỗng sắt, trộn đều bột độc vào những hạt kê béo ngậy tẩm dầu vừng Rồi cúi rạp người rải men theo chân tường, nhét sâu vào từng ngóc ngách kẽ vách và đổ ngập miệng các hang chuột. Lão làm việc một cách lén lút, không để cho vợ con hay bất kỳ người phụ việc nào hay biết.
Xong xuôi, lão Nghiêm khóa chặt ba ổ khóa đồng nặng trịch bên ngoài cánh cửa kho, nhổ một bãi nước bọt xuống lớp tuyết dày rồi quay về buồng sưởi ngủ một giấc ngon lành.
***
Sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy canh năm vừa dứt, lão Nghiêm đã vội vã khoác áo bước ra sân.
Trời đất mờ mịt sương muối. Lão tra chìa mở khóa, đẩy mạnh cánh cửa kho thóc nặng nề.
Một mùi hôi tanh lợm giọng xộc thẳng vào mũi lão. Dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn bão, cảnh tượng bên trong khiến lão Nghiêm đứng chết sững tại ngưỡng cửa, khóe miệng từ từ giật giật rồi nở thành một nụ cười đắc chí.
Khắp sàn đất nung, xác chuột nằm la liệt chất đống. Hàng trăm con lớn nhỏ, lông xám tro, toàn thân cứng đờ, bốn chân co quắp chổng ngược lên trời.
Lão Nghiêm giẫm ủng lên nền kho, đá văng xác một con chuột béo múp chắn đường, cất tiếng gọi lớn ra ngoài sân:
- Thằng Đại, thằng Nhị! Cầm chổi với xẻng vào đây! Dọn sạch cái đám này vứt hết ra rãnh băng ngoài bãi rác đầu dốc cho tao!
Hai gã người làm chạy vào, nhìn thấy bãi xác chuột nghìn nghịt thì mặt mày tái mét. Thằng Đại run rẩy cầm cán xẻng, ấp úng:
- Ông chủ... Chuột trong kho xưa nay các cụ dặn không được dùng độc sát hại bừa bãi... Lỡ như... lỡ như đụng phải Hôi Tiên gia thì khốn...
- Tiên cái mả ba mày!
Lão Nghiêm quắc mắt chửi, vung chiếc tẩu thuốc gõ mạnh vào trán thằng người làm:
- Chuột ăn thóc của tao thì là súc sinh hại của, tiên nào che chở cho lũ ăn trộm? Mau hót sạch mang đi chôn dưới tuyết, không được hé răng với ai trong làng một lời. Đứa nào dám nói ra ngoài, tao trừ sạch tiền công Tết năm nay!
Hai gã người làm sợ hãi, cắn răng dùng xẻng xúc từng đống xác chuột lạnh ngắt đổ vào sọt tre, gánh từng chuyến mang ra bãi rác hoang phía sau rặng cây ngoài đầu thôn đổ xuống rãnh nước đã đóng băng.
Lão Nghiêm đứng giữa kho, vỗ bồm bộp vào những bao gạo nếp cao ngất. Lão bụng thầm tính số tiền lãi năm nay sẽ giữ trọn trong tay, không mất một hạt nào cho lũ gặm nhấm.
***
Hai ngày sau, tiệm gạo Nghiêm Ký tấp nập người qua lại. Dân trong Ngũ Tiên Thôn và các làng lân cận nườm nượp kéo đến mua gạo trắng, bột nếp về chuẩn bị gói bánh đón Tết.
Trước cửa tiệm, chiếc xe bò của nhà họ Triệu đầu làng đang chờ bốc năm bao gạo hoa mai thượng hạng.
- Nghiêm lão bản, năm nay thóc nếp được mùa, gạo nhà ông trắng và thơm nhất vùng đấy nhé!
Lão Triệu cười hà hà, rút xấp tiền giấy đặt lên mặt bàn tính.
Lão Nghiêm cười toe toét, hai mắt híp lại thành một đường chỉ:
- Bác Triệu cứ yên tâm! Hàng nhà họ Nghiêm tôi xưa nay chưa từng làm ai thất vọng. Thằng Đại, rọc bao số một, trút ra máng cho khách kiểm tra!
Gã người làm cầm con dao nhọn rạch đứt đường chỉ khâu bằng dây đay trên miệng bao tải gai dày. Hắn nghiêng bao, trút một vốc lớn xuống máng gỗ đặt giữa quầy hàng.
Nụ cười trên môi lão Nghiêm cứng đờ.
Tiếng xôn xao của đám đông mua hàng xung quanh bỗng chốc im bặt.
Rơi xuống máng gỗ không phải gạo trắng muốt tròn mẩy như hoa mai, mà là dòng hạt thóc đen sì méo mó quăn queo, bốc mùi mốc meo như vùi dưới bùn ngàn năm.
- Cái... cái gì thế này?
Lão Triệu lùi lại một bước, bịt mũi, mặt mày biến sắc.
Lão Nghiêm hoảng loạn xông tới, gạt phăng thằng người làm sang một bên. Lão thọc cả hai bàn tay vào bao tải, bới sâu xuống tận đáy. Càng bới sâu, những hạt thóc đen sì càng trào ra, nhớp nháp và bốc mùi tanh nưởi bám chặt vào kẽ móng tay lão.
- Mở bao khác! Mở bao số hai! Mở bao gạo nếp nương mau!
Lão gào thét như người mất trí.
Thằng Đại và thằng Nhị cuống cuồng rạch tiếp năm bao, rồi mười bao gạo xung quanh. Nhưng dù rọc đến bao nào, lớp hạt trút ra máng cũng chỉ toàn một màu đen ngòm ghê rợn, mùi xú uế bốc lên nồng nặc khắp gian nhà trước, làm khách khứa đứng ngoài sân cũng phải nôn ọe lùi xa.
- Nghiêm lão bản! Ông bán thứ gạo độc này cho dân làng ăn Tết đấy à?
- Đồ thất đức! Gạo thế này mà dám đem ra bán!
Tiếng chửi bới, tiếng đòi lại tiền đặt cọc vang lên huyên náo. Người mua hàng vội vã quay lưng bỏ chạy, chẳng mấy chốc trước cửa tiệm gạo Nghiêm Ký chỉ còn lại những vệt bánh xe bò lún sâu trên nền tuyết lạnh.
Lão Nghiêm ngồi thụt xuống đống thóc đen giữa nhà, hai bàn tay run lẩy bẩy, mặt cắt không còn một giọt máu.
***
Nhưng tai họa chưa dừng lại ở kho thóc.
Đến tối ngày thứ ba, đứa con trai độc nhất của lão Nghiêm - thằng Thuận mới lên tám tuổi - bắt đầu có những biểu hiện kỳ quái.
Thằng bé vốn ham ăn, nhưng từ chiều đó bỗng không đụng đũa vào món nào trên mâm. Vợ lão Nghiêm dỗ dành bưng bát cháo thịt băm ra tận mặt, nó lắc đầu, chỉ há miệng hỏi xin đất.
Nửa đêm, tiếng gió rít qua khe cửa sổ gỗ lồng lộng.
Lão Nghiêm trằn trọc nằm trên giường sưởi, đầu óc vẫn còn quay cuồng vì kho thóc hỏng, thì bỗng nghe thấy những âm thanh lạ lùng phát ra từ góc buồng.
*Ken két... ken két... sột soạt...*
Âm thanh khô khốc, sắc nhọn vang lên đều đặn, như tiếng một vật kim loại bén ngót đang cào nghiến liên tục vào thớ gỗ mục.
Lão Nghiêm chống tay ngồi dậy, với lấy cây đèn dầu trên bàn con, châm lửa rồi rón rén bước lại gần góc buồng. Vợ lão cũng choàng tỉnh giấc, sợ hãi bám chặt lấy vạt áo chồng.
Ánh lửa vàng vọt hắt xuống khoảng trống dưới gầm tủ đất.
Thằng Thuận quỳ rạp cả hai tay hai chân, mặt áp sát chân giường gỗ nung. Nó đang dùng răng gặm khúc gỗ sồi cứng ngắc, kêu rắc rắc như gặm củ mía.
- Thuận nhi! Con làm cái gì thế này?
Vợ lão Nghiêm khóc thét lên, lao tới ôm lấy con trai kéo ra ngoài.
Thằng bé vùng vẫy dữ dội, sức mạnh của một đứa trẻ tám tuổi lúc này lớn đến mức hất văng cả mẹ nó ngã ngửa ra nền đất. Nó ngửa đầu lên nhìn cha.
Dưới ánh đèn dầu lay lắt, lão Nghiêm kinh hoàng lùi lại ba bước, lưng đập mạnh vào vách tường.
Hai chiếc răng cửa hàm trên của thằng Thuận đã biến đổi hoàn toàn. Chúng mọc dài ra từng ngày, cong xuống như răng gặm nhấm, xuyên qua môi dưới để lộ hai chóp ngà vàng khè ngoài môi.
Thằng bé nhìn thẳng vào mặt lão Nghiêm, khóe miệng rách toạc kéo xếch lên thành một nụ cười quái dị, trong cổ họng phát ra những tiếng khè khè đứt quãng.
***
Sáng sớm hôm sau, vợ chồng lão Nghiêm bọc kín thằng bé trong chăn bông, vội vã mang đến nhà đại phu giỏi nhất vùng. Vị đại phu bắt mạch, xem lưỡi, soi mắt rồi lắc đầu bảo bệnh này ngoài y thuật trần gian.
Hết cách, hai vợ chồng bồng con chạy vòng qua chợ tây, tìm đến túp lều rơm của bà mụ họ Lưu - người già nhất làng, nổi tiếng am hiểu những chuyện dị thường chốn thôn dã.
Bà mụ Lưu ngồi bên bếp than hồng, mái tóc bạc phơ xơ xác. Bà đưa bàn tay gầy guộc đầy đồi mồi lật nhẹ chiếc chăn bông ra, nhìn chăm chú vào hai chiếc răng nhọn hoắt đang cắm ngập vào môi dưới của đứa trẻ.
Bà mụ khẽ thở dài, buông tấm chăn xuống rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào khuôn mặt đang tái nhợt vì sợ hãi của lão Nghiêm:
- Chuột tổ lấy của nhà này bao nhiêu đời, ông tưởng nó ăn không trả sao?
Lão Nghiêm run rẩy, quỳ sụp xuống bên đống tro tàn:
- Bà mụ... xin bà cứu lấy con tôi! Nó chỉ là đứa trẻ con, nó có tội tình gì đâu!
Bà mụ Lưu lắc đầu, giọng trầm đục:
- Chuột trong kho gạo nhà họ Nghiêm không phải chuột đồng hoang dại. Hàng chục năm chúng làm tổ trong lòng đất nung của ba gian kho. Chúng ăn thóc của ông, nhưng cũng giữ kho khỏi mọt, báo mùa lụt mùa hạn cho cha ông kịp tích trữ. Đó là Hôi Tiên gia ngụ cùng dưới một mái nhà với ông.
Lời bà mụ như gáo nước lạnh tạt vào mặt lão Nghiêm. Lão nhớ lại những đời trước, thời ông nội còn sống, mỗi bận nhập kho thóc mới đều để lại một nắm thóc đầu kho cho lũ chuột, Tết còn đặt đĩa thịt sống sau vòm rượu.
- Giờ... giờ tôi phải làm sao?
Lão Nghiêm đập đầu xuống nền đất, khóc lóc thảm thiết.
- Đi tìm Mã Vạn Hỷ.
Bà mụ Lưu khép mắt lại, xua tay:
- Chỉ có kẻ gõ trống dẫn đường mới biết cách nói chuyện với Hôi Tiên gia. Đi nhanh lên, trước khi chiếc răng thứ ba mọc xuyên qua cuống họng nó.
***
Giữa trưa buốt giá, tuyết bắt đầu rơi nặng hạt.
Lão Nghiêm chạy thục mạng qua ba con dốc tuyết dày, tìm đến căn nhà vách đất lợp cỏ tranh ở rìa phía bắc Ngũ Tiên Thôn.
Mã Vạn Hỷ đang ngồi trước hiên nhà, chiếc áo chần bông cũ kỹ bạc màu quấn quanh thân hình gầy gò. Chiếc trống da lừa đặt trên đầu gối, bàn tay cụt ngón út của ông cầm chiếc dùi gỗ gõ nhẹ từng nhịp *tong... tong...* chậm rãi vào mặt da thuộc xám xịt.
Lão Nghiêm nhào tới, quỳ mọp dưới chân ông lão:
- Mã đại gia! Cứu mạng con tôi! Tôi xin cúng dường toàn bộ số bạc trong nhà, xin dâng nộp mười xe gạo ngon cho am thờ, chỉ xin ngài cầu xin Hôi Tiên gia tha mạng cho đứa con độc nhất của họ Nghiêm!
Mã Vạn Hỷ dừng tay dùi. Tiếng trống ngưng bặt.
Ông nhìn người đàn ông đang run rẩy dưới chân mình bằng ánh mắt sâu thẳm, không chút gợn sóng:
- Đừng xin tha.
Lão Nghiêm ngẩng đầu lên, nước mắt nước mũi giàn giụa:
- Sao... sao lại không được xin tha hả thầy?
Mã Vạn Hỷ trầm giọng cất lời:
- Xin tha là coi việc mình làm là lỗi nhỏ. Ông giết hàng trăm mạng sinh linh sống nương dưới mái nhà mình bằng thuốc độc. Đó là tội cố ý.
- Đổi... đổi thế nào, xin thầy chỉ bảo! Con xin theo hết!
- Về kho thóc của ngươi.
Mã Vạn Hỷ đứng dậy, khoác chiếc trống da lừa lên vai:
- Tự tay ngươi, không nhờ kẻ hầu hạ nào. Nhặt riêng từng hạt thóc sạch nhất, tròn mẩy nhất trong số gạo còn sót. Xay thành gạo mới, nấu chín, đặt vào đúng cái hang chuột cũ trong kho. Rồi cả nhà quỳ suốt đêm. Không xin tha. Chỉ xin đổi.
***
Đêm đông đen đặc như mực.
Gió ngoài trời gầm rú, tuyết phủ trắng xóa những mái ngói nung.
Bên trong gian giữa của kho thóc tiệm Nghiêm Ký, không khí lạnh buốt thấu xương. Giữa sàn đất nung trơ trọi, một chiếc bát sứ mẻ miệng đựng đầy ắp những hạt gạo trắng muốt, từng hạt được lau sạch bóng, đặt ngay ngắn trước một chiếc miệng hang tròn tối om khoét sâu dưới chân vách.
Thằng Thuận nằm mê man trên chiếc chiếu rơm trải cạnh đó, toàn thân sốt hầm hập, hai chiếc răng chuột dài ngoằng vẫn cắm chặt vào môi dưới, hơi thở yếu ớt đứt quãng.
Vợ chồng lão Nghiêm quỳ sụp trên nền đất lạnh ngắt. Hai đầu gối lão tê dại vì giá buốt, trán tì sát xuống mặt đất ẩm mốc.
- Nợ hạt trả hạt, nợ mạng đổi gạo...
Lão Nghiêm run rẩy lẩm bẩm, mỗi lần đọc xong một câu lại dập đầu xuống đất nghe một tiếng *cộp* khô khốc. Vợ lão bên cạnh vừa lạy vừa khóc nghẹn ngào, hai bàn tay chắp chặt trước ngực không dám buông lơi.
Canh một trôi qua. Canh hai trôi qua.
Cái lạnh từ nền gạch nung ngấm dần qua lớp quần bông, buốt buốt tận tủy xương. Bắp chân lão Nghiêm co rút đau đớn, nhưng nhớ đến lời dặn của Mã Vạn Hỷ, lão cắn chặt răng không dám dịch chuyển dù chỉ một tấc.
Đúng canh ba, gió ngoài sân bỗng nhiên ngừng bặt một cách kỳ dị.
Trong kho thóc hoàn toàn tĩnh mịch, chỉ còn tiếng thở dốc nặng nhọc của thằng Thuận.
Từ sâu bên trong miệng hang chuột tối tăm, một chuỗi âm thanh lách cách bắt đầu vang lên.
Tiếng móng vuốt sắc nhọn cào nhẹ vào vách đất nung. Tiếng sột soạt của những chiếc râu dài quét qua lớp rơm khô.
Lão Nghiêm nín thở, trán vẫn áp sát mặt đất, mắt không dám hé nhìn.
Một bóng đen nhỏ nhoi từ từ thò ra khỏi miệng hang. Dưới ánh sáng mờ ảo của ngọn nến sắp tàn, một con chuột nhỏ xíu, toàn thân phủ lớp lông màu xám tro mịn màng, chậm rãi trèo lên miệng chiếc bát sứ mẻ.
Nó ngồi xổm trên mép bát, hai chân trước chắp lại đưa lên miệng, đôi mắt đen láy như hai hạt đỗ tương nhìn chằm chằm vào hai bóng người đang quỳ rạp dưới đất.
*Rột... rột... rột...*
Tiếng gặm nhấm rất khẽ, đều đặn vang lên trong không gian tĩnh mịch. Con vật nhai từng hạt gạo trắng, nuốt chậm rãi. Tiếng cắn vỡ hạt gạo vang lên giòn tan, nhịp nhàng như tiếng đồng hồ cát đếm từng khắc thời gian trôi qua trong đêm lạnh.
Cùng lúc đó, trên chiếc chiếu rơm bên cạnh, tiếng thở khò khè của thằng Thuận bỗng dịu dần.
Lão Nghiêm nghe thấy tiếng xương cốt cọ xát nho nhỏ phát ra từ phía con trai mình. Tiếng rút rin rít như một vật cứng đang từ từ thụt lùi vào bên trong nướu thịt.
Tiếng gặm nhấm trong hang kéo dài suốt hai canh giờ liền, rồi đột ngột ngưng bặt.
Một tiếng gió bấc thổi thốc qua khe cửa, ngọn nến tàn lụi hẳn, dìm cả gian kho vào bóng tối đen kịt.
***
Khi tia sáng đầu tiên của ngày mới rọi qua khe liếp, tiếng gà gáy canh năm vang vọng từ phía đầu thôn.
Lão Nghiêm toàn thân cứng đờ vì lạnh, run rẩy chống hai tay nâng người dậy. Vợ lão cũng lồm cồm bò sang phía con trai.
- Cha... mẹ...
Một tiếng gọi yếu ớt cất lên.
Thằng Thuận đã mở mắt tự bao giờ. Đôi mắt thằng bé trong veo trở lại, hết vẻ đỏ ngầu hung dữ của đêm trước. Hai răng cửa dị thường trên môi đã rút dần về như cũ.
- Con đói... Cho con ăn cháo trắng...
Thằng bé thều thào, giơ hai bàn tay nhỏ bé ôm lấy cổ mẹ. Vợ lão Nghiêm ôm chầm lấy con, òa khóc nức nở trong niềm vui mừng tột độ.
Lão Nghiêm run rẩy bò lại gần miệng hang chuột trong góc tường.
Chiếc bát sứ mẻ miệng vẫn nằm nguyên ở vị trí cũ.
Thế nhưng, toàn bộ số gạo trắng tinh khiết đầy ắp đêm qua đã biến mất sạch sành sanh. Đáy bát trơ trọi, sạch bóng như vừa được rửa qua nước, không còn sót lại dù chỉ là một hạt tấm hay một mảnh trấu vụn.
Lão Nghiêm đưa mắt nhìn quanh kho. Những bao thóc đen hôm trước đã bớt mùi tanh hẳn, gạo bên trong dần khô lại. Nhưng màu đen ấy là vĩnh viễn, không thể đem bán nữa, chỉ có thể đổ đi làm phân bón. Đó là cái giá cho lòng tham của lão.
Lão chống gậy đứng dậy, bước từng bước tập tễnh ra khỏi cửa kho thóc, hướng về phía ngôi nhà tranh ở rặng cây đầu thôn dập đầu tạ ơn ba lạy.
***
Sau mùa đông năm ấy, tiệm gạo Nghiêm Ký mở cửa trở lại, nhưng lão Nghiêm đã thay đổi hoàn toàn tính nết. Lão không bao giờ dùng đến một hạt thuốc độc, cũng không cho phép bất kỳ người làm nào mang bẫy sắt hay gậy gộc vào trong kho thóc ba gian.
Góc kho nơi có miệng hang cũ, lão cho xây một bệ gạch nhỏ sạch sẽ, ngày ngày đặt lên đó một chiếc đĩa gốm mộc.
Mỗi buổi sáng đầu tháng, khi mở cửa kho kiểm kê số lượng ngũ cốc, lão Nghiêm lại tự tay đong đúng một bát gạo trắng hoa mai đầy ắp mang vào đặt lên bệ gạch.
Và cứ đến sáng hôm sau, chiếc bát sứ ấy lại sạch trơn đáy, không một hạt vương vãi.
Lão Nghiêm lặng lẽ bưng chiếc bát không đi ra, cầm cuốn sổ tính tiền gạch đi một dòng ghi chép, rồi khép cửa kho lại. Lão đã học được cách không bao giờ cầm bàn tính đếm lại số thóc hao hụt ấy nữa.