Ngũ Tiên Thôn - Chương 5: Bùn Đen Dưới Cầu
Gió bấc thổi rát mặt trên khúc sông ngoài Ngũ Tiên Thôn. Mặt nước đóng một lớp băng dày đến hai gang tay, trắng đục và cứng như đá tảng. Quan đội trưởng…
Nội dung chương
Gió bấc thổi rát mặt trên khúc sông ngoài Ngũ Tiên Thôn. Mặt nước đóng một lớp băng dày đến hai gang tay, trắng đục và cứng như đá tảng.
Quan đội trưởng đứng trên bờ đất cao, hai tay thọc sâu vào túi áo bông dày, chiếc mũ lông kéo sụp xuống tận mang tai.
Lệnh từ huyện rót xuống đã rõ ràng: Cây cầu gỗ nối tuyến đường vận tải gỗ của lâm trường này phải xong trước khi tuyết tan vào đầu mùa xuân. Nếu chậm một ngày, toàn bộ tiền công cả mùa đông của đội thợ sẽ bị trừ sạch, bản thân lão Quan cũng mất luôn chức đội trưởng.
Mười giờ sáng, tiếng cuốc chim bỗng khựng lại.
Một người thợ trẻ tên Thiết buông cuốc, há hốc mồm chỉ xuống hố sâu vừa đục thủng lớp băng. Bên dưới tầng đá cuội đáy sông, bùn đen sủi bọt ùng ục dù trời đang âm hơn hai mươi độ.
- Đội trưởng Quan, mau lại xem! Dưới này có cái gì lạ lắm!
Lão Quan sải bước nhảy xuống hố móng. Dưới chân gã, một mảng đất bùn sụt xuống, để lộ một cái hang ngầm rộn ràng hơi ấm giữa lòng sông đông cứng.
Mùi tanh nồng đặc trưng bốc thốc lên từ miệng hố, quyện với hơi lạnh cắt da cắt thịt tạo thành một thứ mùi tanh buốt lợm giọng.
Thôi thợ cả, một người già nhất trong đội xây cầu, vừa nhìn thấy đã tái mét mặt mày. Lão quỳ thụp xuống bên mép băng, chắp hai tay vái lấy vái để rồi quay sang túm chặt lấy vạt áo Quan đội trưởng:
- Không được đụng vào! Đây là ổ của Liễu Tiên! Cả trăm con rắn tụ lại kết ổ thế này, con đầu đàn ít nhất cũng có đạo hạnh mấy trăm năm rồi. Sông này từ ông tổ đã nhường cho chúng. Người ta nhường đất, mình lại đi đòi. Phải lấp móng, dời cọc qua phía đông ba trượng ngay!
- Dời cái đầu ông!
Quan đội trưởng giật phăng vạt áo ra, mắt trợn trừng:
- Dời sang phía đông là phải khảo sát lại từ đầu, đào lại ba cái hố móng khác. Mất nửa tháng trời, đến lúc băng tan thì cầu trôi sạch à? Ai đền tiền cho huyện? Ai trả công cho anh em?
- Lão Quan, tiền mất thì kiếm lại được, chứ động vào ổ Liễu Tiên lúc chúng đang ngủ đông thì không còn đường về nhà đâu!
Thôi thợ cả run rẩy, giọng méo mó.
- Thời buổi này làm gì có ma quỷ thần tiên! Chỉ có mấy con rắn cỏ chết cóng!
Quan đội trưởng gạt phắt đi. Lão bước lên mép hố, ngo ngoe tay gọi thợ lái máy nghiền sỏi:
- Kéo máy nghiền lại đây! Đổ đá tảng xuống, dùng bàn dập dập nát cái hang này rồi đổ vữa mác cao đè lên! Trước hoàng hôn phải xong cái móng trụ số ba cho tôi!
Thôi thợ cả đứng bật dậy, mặt trắng bệch không còn hột máu. Lão nhìn đám rắn đang ngủ say dưới bùn, rồi quay lại nhìn lão Quan:
- Ông muốn chết thì tự đi mà chết. Đám thợ già Ngũ Tiên Thôn chúng tôi không ai dám nhúng tay vào việc này.
Nói xong, Thôi thợ cả quay lưng thu dọn xà beng, dẫn theo hơn hai mươi thợ địa phương lục tục kéo nhau rời khỏi công trường, mặc cho Quan đội trưởng gào thét, chửi rủa vang cả một góc sông.
Còn lại đám thợ trẻ từ các huyện khác đến vì miếng cơm manh áo, họ đành cắn răng làm theo lệnh.
Chiếc máy nghiền sỏi gầm rú inh tai, cần cẩu đưa bàn dập nặng hàng tấn nện thẳng xuống miệng hang ngầm. Từng lớp bùn đá bị nghiền nát tanh bành dưới bàn sắt.
Đến khi bóng tối mùa đông phủ kín mặt sông, trụ móng bằng đá hộc và vữa xi măng đã được đổ xong, phẳng phiu và cứng ngắc, lấp kín miệng hang bùn đen bên dưới.
Quan đội trưởng thở phào, quẹt mồ hôi trán rồi xua đám thợ còn lại về lán trại uống rượu cho ấm người.
***
Đêm đầu tiên sau khi nghiền hang rắn, sông Hắc Hà bắt đầu biến chuyển quái dị.
Nửa đêm, gió bấc bỗng ngừng thổi. Không khí im phăng phắc đến ngột ngạt. Giữa tiết đại hàn, nước đóng băng dày cả thước ở hai bờ.
Sáng hôm sau, khi đám thợ ra công trường lấy đá hộc để tiếp tục dựng giàn giáo, tai họa ập đến.
Thiết, người thợ trẻ phát hiện ra cái hang đầu tiên, đang đứng trên mép băng vác một tảng đá xanh. Bỗng nhiên, hai chân hắn khuỵu xuống một cách kỳ lạ, toàn thân trượt thẳng xuống vòng nước đen kịt quanh mố cầu. Hắn không hề kêu la, cũng không hề vùng vẫy bơi lội, cứ thế chìm nghỉm xuống đáy bùn trong nháy mắt.
Bốn người thợ vội vàng lao tới, dùng sào gỗ và móc sắt mò mẫm suốt hai canh giờ mới móc được áo của Thiết kéo lên mặt băng.
Khi thi thể Thiết được đặt nằm trên nền tuyết trắng, tất cả những người có mặt đều kinh hoàng lùi lại ba bước.
Cái xác mềm nhũn một cách quái đản. Không còn một chiếc xương nào nâng đỡ cơ thể, tay chân và lồng ngực Thiết nhũn như bún bỏ vào nồi.
Kỳ dị nhất là gương mặt của Thiết. Mặt hắn không hề có vẻ hoảng loạn hay ngạt nước, hai mắt mở to nhìn thẳng lên vòm trời xám xịt, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười phẳng lặng, bình thản đến lạnh người.
Sang ngày thứ hai, một người thợ khác trượt chân rơi xuống đúng vòng nước đen đó lúc kiểm tra dây cáp.
Đến ngày thứ ba, lại thêm một người nữa chìm nghỉm khi đang rửa tay bên mép băng.
Cả ba cái xác vớt lên đều cùng một trạng thái rùng rợn. Xương cốt bên trong tan biến sạch sẽ không còn một mẩu, thịt mềm nhũn như bùn lỏng. Gương mặt ai nấy đều giữ nguyên nét cười bình thản ma quái.
Tin dữ đồn xa, người nhà của ba người thợ xấu số kéo từ huyện lên công trường gào khóc thảm thiết. Tiếng khóc hờ xé toạc bầu không khí lạnh lẽo của khúc sông hoang.
Đám thợ còn lại kinh hồn bạt vía, quăng hết đồ nghề bỏ chạy tán loạn về quê ngay trong đêm. Công trường cầu gỗ hoang tàn, chỉ còn lại những cột gỗ trơ trọi cắm giữa hố nước đen tanh tưởi.
Dân làng Ngũ Tiên Thôn đóng chặt cổng ngõ, then cài đóng kín. Không một ai nhận lời ra sông đào đất hay dọn dẹp hiện trường, dù lão Quan có mang cả xấp tiền giấy ra nài nỉ.
***
Chiều muộn ngày thứ tư, tuyết lại rơi dày đặc.
Quan đội trưởng như kẻ mất hồn, lê từng bước chân nặng trĩu trên con đường đất phủ đầy tuyết trắng dẫn vào miếu thờ đầu thôn Ngũ Tiên. Lão biết rõ, nếu không giải quyết được chuyện này, không chỉ công việc tiêu tan mà mạng sống của chính lão cũng khó giữ nổi.
Bên trong gian miếu lạnh ngắt nghi ngút khói hương, một chiếc trống da lừa nhỏ nằm tựa vào góc cột gỗ.
Mã Vạn Hỷ ngồi xếp bằng trên tấm đệm cói rách, một tay cầm chiếc bút lông đã mòn vẹt, tay kia lần giở cuốn sổ bài vị ố vàng. Bàn tay phải của ông thiếu mất ngón út, vết sẹo tròn nhẵn thui lủi cọ vào mặt giấy xao xác.
Lão Quan vừa bước qua ngưỡng cửa đã sụp quỳ xuống nền gạch tàu lạnh buốt, dập đầu lia lịa:
- Thầy Mã! Cứu tôi với! Cầu xin thầy cứu lấy đội thợ của tôi! Ba mạng người rồi... bọn họ chết mà không còn miếng xương nào...
Mã Vạn Hỷ không ngẩng đầu lên. Nét bút lông màu đen vẫn đều đặn vạch từng nét chữ ngoằn ngoèo lên trang giấy:
- Ta là kẻ gõ trống dẫn đường, ghi chép chuyện nhân gian và cõi âm, không phải thầy pháp bắt ma trừ tà. Ngươi tìm đến ta làm gì?
- Thầy Thôi trong làng bảo chỉ có thầy mới hiểu luật lệ của Ngũ Tiên! Tôi trót dại phá hang rắn dưới chân cầu... Tôi xin dâng tiền, bao nhiêu tiền tôi cũng chịu, chỉ xin thầy đứng ra làm lễ cúng tạ tội, xin Liễu Tiên tha cho tôi một con đường sống!
Mã Vạn Hỷ dừng bút, chậm rãi ngẩng mặt lên. Đôi mắt già nua đục ngầu nhìn thẳng vào gương mặt đang run rẩy của Quan đội trưởng.
- Ngươi nghiền nát cái hang lúc chúng còn ngủ hay đã tỉnh?
Lão Quan run lập cập, cổ họng nghẹn ứ:
- Lúc... lúc đó chúng cuộn tròn thành búi... đang ngủ đông sâu lắm, không con nào cựa quậy...
Mã Vạn Hỷ khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu dứt khoát:
- Hỏng rồi.
- Sao... sao lại hỏng hả thầy?
Mã Vạn Hỷ đặt bút lông xuống nghiên mực, giọng trầm đục vang lên giữa gian miếu vắng:
- Nếu chúng tỉnh giấc, thấy động mà bò đi, ngươi đuổi theo đập chết thì đó là nghiệp giết hại sinh linh đang tránh họa. May mà chúng chưa tỉnh kịp.
Mã Vạn Hỷ đưa tay chỉ về phía dòng sông ngoài xa:
- Đạo hạnh mấy trăm năm tích tụ trong giấc ngủ đông, bị máy nghiền của ngươi băm nát thành nghìn mảnh. Thù này không đền bằng bạc vàng hay mạng người được.
Lão Quan nghe đến đây thì rụng rời chân tay, bò lết lại gần ôm lấy đầu gối Mã Vạn Hỷ:
- Thầy ơi! Vậy giờ tôi phải làm sao? Lập đàn cúng mổ bò mổ lợn có được không? Tôi xin đem hết gia sản cúng cho Liễu Tiên gia!
- Liễu Tiên coi trọng huyết thống và cốt tủy, lạnh lùng thù dai truyền kiếp. Thù này không giải nổi. Đồ cúng trần gian đối với ngài ấy chỉ là rác rưởi.
Mã Vạn Hỷ gạt tay lão Quan ra, giọng lạnh tanh:
- Ngươi là kẻ chủ mưu ra lệnh nghiền hang, cái giá lớn nhất phải do chính máu mủ của ngươi gánh. Muốn không liên lụy đến con cháu cả dòng họ Quan bị tuyệt diệt, ngươi chỉ có một cách duy nhất.
- Cách gì thầy bảo tôi cũng làm!
- Về nhà, mở từ đường dòng họ Quan. Tự tay viết một tờ văn tự nhận tội báng bổ Tiên gia, đọc to từng chữ trước bàn thờ tổ tiên, rồi đốt tờ văn tự hòa tro vào nước sông đem rải lại đúng hố nước đen. Làm xong việc đó, họa diệt môn của họ Quan mới dừng lại ở đời ngươi.
Quan đội trưởng run rẩy gật đầu, vội vã lồm cồm bò dậy chạy thục mạng ra khỏi miếu.
***
Tối hôm đó, tại gian nhà chính của họ Quan ở làng bên, ánh đèn dầu leo lét soi rõ gương mặt hoảng sợ của hơn ba mươi người trong dòng tộc.
Bàn thờ tổ tiên nghi ngút khói hương. Quan đội trưởng quỳ sụp trên chiếc chiếu rách trải giữa gian nhà, hai tay run bần bật cầm tờ giấy bản viết kín những dòng mực đen tạ tội.
Lão cất giọng, từng lời từng chữ run rẩy vang lên trong không gian tĩnh mịch:
- Con là Quan Chấn Sơn... mắt mù lòng tối, vì chút lợi nhỏ công danh... đã ra lệnh nghiền nát hang ổ Liễu Tiên gia lúc ngài đang ngủ đông dưới đáy sông Hắc Hà... Tội nghiệt tày trời do một thân con gánh chịu, khẩn xin Liễu Tiên gia chứng giám, tha cho con cháu họ Quan một đường sống...
Khi đọc đến chữ cuối cùng, lão Quan châm lửa vào góc tờ giấy bản. Ngọn lửa bùng lên le lói, thiêu rụi tờ văn tự thành một nhúm tro đen rơi lả tả xuống chiếc bát sứ đựng nước sông mà lão đã múc về từ chiều.
Đúng lúc tàn tro vừa tắt ngấm, một tiếng rắc rất khẽ vang lên từ bên trong khớp háng của lão Quan.
Cơn đau không hề ập đến dữ dội, chỉ có một luồng khí lạnh buốt như băng tuyết từ từ luồn vào hai ống chân.
Lão Quan ngã sụp xuống bên bàn thờ. Hai chân lão mềm oặt như sợi bún, không còn một chút sức để nhấc thân lên.
- Chân tôi... Chân tôi làm sao thế này?
Lão Quan gào lên kinh hãi, hai tay cuống cuồng sờ xuống đùi mình.
Dưới lớp quần bông dày, thịt ở hai chân lão nhão nhoét, trơn tuột. Toàn bộ xương ống chân, xương bánh chè đã nhừ như tan trong một khối chất lỏng sền sệt. Hai chân lão teo tóp lại, dài thượt và mềm nhũn như hai chiếc vạt áo ướt sũng dính chặt vào thân dưới.
Họ hàng rú lên kinh hãi. Nhưng trước khi khiêng lão đi, người cháu trưởng tộc ôm lấy bát nước tro, quỳ mọp xuống đất hứa với tổ tiên rằng sáng mai sẽ thay chú đem tro rải đúng hố nước đen theo lời thầy đồng dặn. Lão Quan nằm sấp trên xe bò, gật đầu yếu ớt.
Sáng hôm sau, trời chưa sáng hẳn, ba người cháu họ của lão đã chèo thuyền gỗ ra giữa lòng sông Hắc Hà. Chiếc bát nước tro được đổ từ từ xuống đúng chỗ hố nước đen quanh mố cầu số ba, khói trắng bốc lên khỏi mặt nước rồi tan vào sương sớm. Tro vừa chạm nước, dưới đáy sâu vọng lên một tiếng động rất khẽ như ai đó đang nuốt nước bọt, rồi mặt sông lại phẳng lặng đến rợn người.
Còn lão Quan thì bị đưa lên bệnh viện tỉnh ngay trong đêm. Các bác sĩ giỏi nhất khoa xương chụp hàng chục tấm phim X-quang, hình ảnh trả về chỉ là hai vệt mờ xám xịt. Xương chân của lão Quan không hề bị gãy, mà đã hoàn toàn tiêu biến như chưa từng tồn tại trên đời. Thịt da vẫn hồng hào, mạch máu vẫn đập, nhưng không phương pháp nào làm cho đôi chân ấy cứng cáp trở lại.
Cuối cùng, bệnh viện đành trả lão về nhà.
Kể từ ngày hôm đó, Quan đội trưởng không bao giờ đứng thẳng dậy được nữa. Mỗi khi muốn di chuyển, lão phải cởi quần dài, dùng hai cùi chỏ chai sần tì xuống nền đất. Phần bụng lưng uốn éo để trườn bò từng thước, hai chân mềm nhũn kéo lê phía sau như đuôi con rắn què.
***
Mùa xuân năm ấy, công trình cầu gỗ qua sông Hắc Hà buộc phải thay đổi toàn bộ bản vẽ thiết kế.
Dưới sự chỉ dẫn của những người già trong làng, chính quyền huyện cho dời mố cầu sang một khúc sông cạn cách đó ba dặm về phía đông, nơi dòng nước êm đềm và lòng sông toàn cát trắng. Cây cầu mới được hoàn thành suôn sẻ, xe cộ lâm trường nườm nượp qua lại chở gỗ đi khắp các tỉnh.
Khúc sông cũ bị bỏ hoang hoàn toàn. Mố cầu số ba xây dở đứng trơ trọi giữa trời tuyết, phủ đầy rêu phong và mạng nhện. Điều kỳ lạ là suốt từ mùa đông năm đó cho đến tận những năm sau này, vòng nước tròn quanh mố cầu hoang ấy không bao giờ đóng băng nữa. Nước ở đó vẫn đen kịt như mực, sủi bọt tanh nồng và phẳng lặng đến rợn người.
Một buổi chiều muộn cuối đông năm sau đó, tuyết lại lả tả rơi trên mặt sông hoang vắng.
Từ con dốc đất phía Ngũ Tiên Thôn, một bóng người cởi trần thân trên, dùng hai cánh tay đầy vết trầy xước trườn bò nhọc nhằn qua lớp tuyết dày. Lão Quan lê cái bụng áp sát mặt đất đóng băng, trườn từng tấc một ra đến mép bờ sông.
Lão dừng lại bên mép vực, ngẩng cái đầu bù xù tóc bạc nhìn xuống vòng nước đen kịt dưới chân mố cầu gãy.
Dưới mặt nước không đóng băng, từng luồng bùn đen khẽ cuộn lên thành những hình thù uốn lượn ngoằn ngoèo, như hàng trăm chiếc đuôi dài đang vẫy chào kẻ tàn phế trên bờ. Lão Quan há miệng, nhưng không thốt nên lời, chỉ có những tiếng thở phì phò rít qua kẽ răng như tiếng rắn thở trong đêm lạnh.
Cách đó không xa, bên gốc liễu khẳng khiu đầu dốc, Mã Vạn Hỷ lặng lẽ đứng nhìn.
Chiếc trống da lừa khoác bên hông ông khẽ rung lên một nhịp *bùng* trầm đục theo cơn gió bấc. Ông lão cụt ngón út mở cuốn sổ bài vị ố vàng kẹp dưới nách, nhúng đầu bút lông vào nghiên mực đen pha tuyết lạnh.
Dưới cái tên đầu tiên đã ghi từ mùa đông trước, Mã Vạn Hỷ chậm rãi hạ một nét mực đen thứ hai, kéo dài và ngoằn ngoèo như một vệt vảy rắn bò ngang trang giấy.