Ngũ Tiên Thôn - Chương 4: Gai Nhọn Trong Gối
Cơn phù thũng ập đến vào đầu tháng mười một, lúc những đợt gió bấc đầu tiên tràn qua rặng liễu trơ trụi ven đầm nước Ngũ Tiên Thôn. Ban đầu, bà Trương…
Nội dung chương
Cơn phù thũng ập đến vào đầu tháng mười một, lúc những đợt gió bấc đầu tiên tràn qua rặng liễu trơ trụi ven đầm nước Ngũ Tiên Thôn.
Ban đầu, bà Trương chỉ thấy hai mu bàn chân nặng nề, xỏ vào đôi hài lót bông cũ thấy chật ních. Chưa đầy nửa tháng sau, nước tích dưới da làm hai cẳng chân bà căng phồng bóng nhẫy. Ấn một ngón tay vào thì lún sâu thành hố trắng bệch, lâu lắm mới đàn hồi. Cơn trướng lan dần lên đùi, lên bụng, chèn ép lồng ngực khiến mỗi hơi thở của bà rít qua kẽ răng khọt khẹt như tiếng kéo bễ lò rèn hỏng. Thầy lang Triệu ở thôn bên sang bắt mạch, lắc đầu để lại mấy thang tiêu thũng lấy lệ rồi thu dọn tráp ra về, dặn dò người nhà chuẩn bị sẵn mảnh áo quan đóng bằng gỗ thông non.
Nằm bẹp trên chiếc giường sưởi đất nung lạnh ngắt, bà Trương nhìn trân trân lên xà nhà bám đầy bồ hóng. Chồng bà mất sớm, đứa con trai độc nhất đi phu đắp đê ngoài trấn xa chưa về, gian nhà đất ba gian thênh thang chỉ có tiếng gió đập vào liếp cửa ràn rạt.
Bà thím Lý ở xóm dưới sang thăm. Nhìn sắc mặt vàng ệch của bà Trương, bà ghé tai nói nhỏ:
- Bệnh này của thím là khí huyết ứ trệ, thuốc trần gian không trục được nước độc ra ngoài đâu. Mau biện một mâm lễ mọn, thắp ba nén hương thơm trước am Bạch Tiên gia trên vách mà khấn nguyện. Bạch Tiên vốn tính hiền từ, tinh thông y lý, chuyên cứu độ kẻ khốn cùng. Nhưng phải nhớ, miệng khấn thế nào thì lòng phải giữ đúng thế ấy, một chữ cũng không được nuốt lời.
Nghe lời mách, chiều hôm đó, bà Trương gắng gượng gượng vịn tường bò dậy. Trên vách đất phía đông gian nhà chính có gắn một khám thờ nhỏ bằng gỗ tạp, bên trong chỉ đặt một tấm bài vị sơn đỏ đã bạc màu ghi bốn chữ "Bạch Thị Tiên Gia".
Bà Trương run rẩy thắp ba nén nhang, quỳ rạp trên nền gạch vỡ. Trán bà đập côm cốp xuống đất:
- Đệ tử Trương thị mắc bệnh hiểm nghèo, thân thể rữa nát, nay dập đầu cầu xin Bạch Tiên gia mở lòng cứu mạng. Nếu qua khỏi kiếp nạn này, đệ tử xin thề trước am thờ sẽ ăn chay niệm Phật suốt đời, trọn kiếp không đụng đến một miếng thịt, không sát sinh một mạng vật. Nếu sai lời thề, xin chịu vạn tiễn xuyên tâm, thân thể mục rỗng.
Khói hương thảo mộc cuộn tròn lại thành từng lọn nhỏ, không tản đi theo gió lùa mà chui thẳng vào khe nứt của bài vị gỗ.
Ngay đêm hôm ấy, bà Trương lên cơn sốt hầm hập. Toàn thân bà toát ra một thứ mồ hôi chua loét, tanh nồng như mùi bùn đáy ao. Nước độc trong người bắt đầu bài tiết ồ ạt qua đường tiện. Suốt bảy ngày bảy đêm, lớp da căng mọng xẹp dần, sắc mặt vàng vọt chuyển hồng hào, nhịp thở êm trở lại. Đến ngày thứ tám, bà Trương đã có thể tự tay xách thùng gỗ ra giếng múc nước, bước đi thoăn thoắt như chưa từng nằm liệt giường chờ chết.
Cả Ngũ Tiên Thôn xôn xao bàn tán về công đức cao dày của Bạch Tiên gia. Ai nấy đi ngang qua cổng nhà bà Trương đều chắp tay nhìn về phía am thờ nhỏ trên vách, trầm trồ khen ngợi sự linh ứng nhiệm màu của vị tiên gia mang hình hài cô nhím trên núi cao.
Để giữ đúng lời thề, bà Trương dẹp bỏ mỡ lợn, tóp mỡ trong chạn bát. Bữa cơm mỗi ngày chỉ có cháo kê nấu loãng, củ cải muối xắt mỏng và dưa cải muối chua trong vại sành. Tháng đầu tiên trôi qua êm ả, bà Trương ngày ngày lau dọn bàn thờ sạch sẽ, dâng nước sạch hoa tươi đầy đủ.
Thế nhưng, khi tiết trời bước vào đợt rét đậm của tháng chạp, cái đói và cái rét bắt đầu cào xé ruột gan.
Gió mùa đông bắc mang theo những trận bão tuyết mù trời phủ trắng xóa từng mái nhà đất nung. Mùi thịt kho tàu béo ngậy từ gian bếp nhà hàng xóm theo khe nứa bay sang. Bà Trương ngồi bên chiếc bàn gỗ ọp ẹp, nhai miếng củ cải khô mà nuốt không trôi. Cơn thèm thịt cắn rứt trong dạ dày như một bầy bọ đói. Đêm nằm trên giường sưởi, nhắm mắt lại là bà thấy thịt mỡ luộc chín tới chảy mỡ vàng ươn, thấy đĩa gà luộc rắc lá chanh.
Cơn thèm tích tụ qua từng ngày, biến thành một nỗi bức bối điên dại.
Một đêm khuya vắng, tiếng gà lục cục ngoài chuồng sau nhà làm bà Trương giật mình tỉnh giấc. Con gà trống tơ nhốt trong lồng kêu lách cách bên đống rơm khô.
Bà Trương ngồi bật dậy, nuốt nước bọt ừng ực. Cơn thèm ăn làm mờ mắt bà. Bà tự nhủ mình chỉ ăn một lần duy nhất này để lấy sức qua mùa đông giá rét, sau đó sẽ tiếp tục ăn chay sám hối. Nhưng nhìn lên am thờ Bạch Tiên gia trên vách, bà lại rùng mình run sợ trước lời thề độc năm xưa.
Một ý nghĩ xảo quyệt nảy ra trong đầu bà lão. Cúng gà ở miếu Thổ Địa ngoài đầu gò, coi như lễ tạ ơn Thổ Thần, thì Bạch Tiên gia trong nhà ắt không nhìn thấy, cũng chẳng thể trách cứ. Thần nào nhận lễ của thần nấy, việc ngoài miếu là việc của cõi ngoài.
Nghĩ là làm, bà Trương lén lút trườn xuống giường. Bà ra chuồng tóm lấy con gà trống tơ, bịt chặt mỏ nó rồi dùng con dao nhỏ cắt tiết gọn gàng sau bụi tre ngà. Bà đun nước vặt lông, làm sạch sẽ rồi luộc chín con gà ngay trong đêm.
Giữa đêm đông rét buốt, bà Trương một mình xách giỏ tre đựng con gà luộc cùng ba nén hương, dò dẫm vượt bãi tuyết ra ngôi miếu Thổ Địa hoang phế ở đầu gò. Bà đặt đĩa gà lên bệ đá lạnh ngắt, thắp hương khấn vội vài câu xin Thổ Thần nhận lễ thay cho thần bản xứ, rồi ngồi bệt xuống bậc thềm, xé toạc đùi gà nhét vào miệng nhai ngấu nghiến.
Vị béo ngậy, ngọt đậm của thịt gà luộc lan tỏa khắp khoang miệng làm bà Trương rên lên vì thỏa mãn. Bà ăn sạch sẽ một nửa con gà trong chốc lát, nhai nát cả những mẩu sụn non, giấu nửa còn lại vào giỏ tre rồi vội vã chạy về nhà trước khi trời hửng sáng.
Về đến gian buồng ấm áp, bà rửa sạch tay chân, leo lên giường sưởi kê sát vách đất, yên tâm ngả đầu xuống chiếc gối nhồi vỏ kiều mạch êm ái. Bà tin rằng màn kịch tế lễ vụng trộm của mình đã che mắt được cõi vô hình.
Thế nhưng, ngay khi vừa chợp mắt được một lúc, một cơn đau nhói bất ngờ đâm thẳng vào giữa sống lưng bà Trương.
Cảm giác đau buốt sắc lẹm, giống như có ai đó cầm một cây kim khâu bao tải dài ngoằng, lạnh ngắt, cắm phập vào giữa hai đốt xương sống. Bà Trương hét lên một tiếng thất thanh, giật bắn người ngồi dậy, mồ hôi toát ra ướt đầm áo lót.
Bà vội vã thắp ngọn đèn dầu hạt cải, cởi áo ngoài rồi xoay người trước tấm gương đồng ố vàng để soi lưng. Nhưng trên mặt da lưng phẳng lặng, vàng nhạt, không hề có một vết xước, không một chấm máu hay vết côn trùng đốt.
Bà thở phào, nghĩ bụng có lẽ do mình nằm sai tư thế hoặc trúng gió độc lúc ra ngoài gò tuyết. Bà thổi tắt đèn, nằm xuống ngủ tiếp.
Nhưng kể từ đêm đó, tai họa thực sự bắt đầu.
Mỗi khi đêm xuống, hễ lưng chạm vào chiếu hoa trên giường sưởi là những mũi kim vô hình bắt đầu hoạt động. Đêm đầu chỉ một hai mũi nhè nhẹ quanh bả vai. Đêm thứ hai đã hàng chục mũi cắm dọc từ đốt sống cổ xuống tận thắt lưng. Cơn đau không đến mức ngất, chỉ buốt rát âm ỉ tận tủy xương.
Đến đêm thứ tư, cảm giác châm chích biến thành một sự chuyển động ghê rợn.
Bà Trương úp mặt xuống chiếu, hai tay bấu chặt mép giường đến bật máu móng. Dưới da lưng, từng vật thể cứng nhọn như đầu tăm tre cựa quậy, không trồi ra ngoài mà nằm ngang dọc dưới biểu bì, xoay theo từng nhịp thở. Mỗi lần chúng cựa mình, da thịt lại bị cào rách từng vệt rát bỏng.
Bà không thể chợp mắt dù chỉ một chớp mắt. Cứ đặt lưng xuống là bị đâm, ngồi dậy thì đỡ hơn nhưng cơn nhức buốt vẫn âm ỉ cắn phá. Chỉ sau ba ngày đêm, đôi mắt bà Trương trũng sâu, thâm quầng như mắt ma đói, hai gò má hóp lại, toàn thân run rẩy vì kiệt sức và kinh hãi.
Nửa đêm ngày thứ năm, gió tuyết ngoài trời gầm thét dữ dội. Ngọn đèn dầu trên bàn lập lòe ánh lửa đỏ quạch.
Bà Trương ngồi co ro giữa giường sưởi, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Khi với tay lấy chiếc gối nhồi vỏ kiều mạch quen thuộc, ngón tay bà chạm phải một vật gì đó cứng và sắc nhọn đâm xuyên qua lớp vải bao gối bằng vải thô xanh.
Một giọt máu đỏ tươi rỉ ra từ đầu ngón tay trỏ của bà.
Bà Trương sững sờ. Chiếc gối này do chính tay bà may từ mùa thu năm ngoái, bên trong chỉ dồn toàn vỏ hạt kiều mạch phơi khô mềm mại, tuyệt đối không có mảnh gỗ hay kim loại nào sót lại.
Bà run rẩy cầm lấy chiếc kéo rèn trên đầu tủ, cắn răng rạch một đường dài dọc theo đường chỉ viền của chiếc gối.
Bà cầm mép vải, dốc ngược ruột gối đổ ra mặt chiếu hoa.
Không có một hạt kiều mạch nào rơi xuống.
Rơi lả tả trên mặt chiếu là hàng trăm chiếc gai nhọn hoắt, đen nhánh bóng bẩy, dài chừng hai đến ba đốt ngón tay, phần gốc gai hơi phình to màu trắng ngà còn phần ngọn vuốt nhọn hoắt như mũi dùi thép.
Kinh hoàng hơn cả, hàng trăm chiếc gai ấy khi rơi xuống chiếu không hề nằm yên. Chúng chuyển động sột soạt. Đầu nhọn đồng loạt quay về một hướng duy nhất: hướng đầu và gáy bà Trương nằm ngủ.
Mùi hôi hăng hắc của loài thú hoang từ đống gai bốc lên nồng nặc khắp gian buồng đất.
Bà Trương thét lên một tiếng kinh hoàng, vứt phăng chiếc kéo sang một bên, lảo đảo ngã lăn xuống nền đất lạnh buốt. Bà nhìn trố mắt lên am thờ Bạch Tiên gia trên vách. Bát hương bằng đất nung trên am lúc này nguội ngắt, ba chân hương cắm từ đợt trước đã gãy gục tự bao giờ, tàn tro vương vãi khắp mặt bài vị sơn đỏ.
Bà bò lê bò lết trên nền gạch, đập đầu van xin thảm thiết:
- Tiên gia tha mạng! Tiên gia thứ tội cho con! Con trót dại lừa dối, con biết tội rồi!
Không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng gió đông rít qua kẽ vách nứa nghe như tiếng hàng ngàn mũi kim sắt đang mài vào nhau sàn sạt.
Sáng sớm hôm sau, tuyết ngập nửa bắp chân. Bà Trương ôm bọc vải đựng đống gai nhọn, khóc lết từng bước sang nhà tranh của Mã Vạn Hỷ ở xóm tây.
Mã Vạn Hỷ đang ngồi trước bậc cửa, tay cầm chiếc dùi gỗ gõ nhẹ từng nhịp tùng cắc lên vành chiếc trống da lừa cũ kỹ để căng lại mặt da sau đêm sương giá. Thấy bà Trương lảo đảo bước vào sân, mặt mũi xám ngoét như người chết trôi, ông dừng tay dùi, đôi mắt đục mờ nhìn thẳng vào bọc vải trên tay bà.
Bà Trương quỳ sụp trước bậc cửa, dập đầu lia lịa, khóc kể đầu đuôi từ lúc mắc bệnh phù thũng, lập lời thề trước am Bạch Tiên, đến chuyện lén giết gà đem cúng miếu Thổ Địa thay vì giữ giới ăn chay.
Kể xong, bà run rẩy mở bọc vải, để lộ hàng trăm chiếc gai nhọn đen nhánh đang nằm im lìm dưới ánh sáng ban ngày.
- Thầy Mã cứu tôi với! Tôi nghĩ cúng thần khác thay cũng được... ai ngờ các ngài tính từng chữ trong lời thề. Giờ gai cứ cựa quậy trong da thịt tôi suốt đêm, tôi sống không bằng chết thế này...
Mã Vạn Hỷ nhìn đống gai nhọn trong bọc vải, khẽ thở dài một tiếng. Ông đặt chiếc trống da lừa sang một bên, ngón tay út cụt ngủn khẽ gõ lên mặt bàn gỗ:
- Ngươi hồ đồ lắm. Bạch Tiên vốn là loài nhím tu luyện trong rừng sâu, bản tính ưa sạch sẽ thanh tịnh, giỏi thuật bốc thuốc cứu người. Cô nhím chữa bệnh không thu tiền. Thu lời hứa. Mà lời hứa với các ngài là món nợ nặng nhất đời người. Ngươi đem mạng sống của mình ra đánh đổi lấy một lời thề nguyền, người ta dùng linh khí trục hết nước độc cứu mạng ngươi, ngươi lại coi lời thề như trò con trẻ.
Bà Trương nức nở:
- Tôi đã mang lễ vật ra miếu Thổ Thần tạ lỗi rồi...
- Thần có phần của Thần, Tiên có cõi của Tiên.
Mã Vạn Hỷ cất giọng nghiêm nghị, từng lời rành rọt như gõ vào đá:
- Ngươi nợ Bạch Tiên một lời hứa chay tịnh, lại đem thịt sống đi hối lộ Thổ Địa đầu làng để mong che mắt tiên gia trong nhà. Ngươi nghĩ Tiên gia ngốc nghếch đến mức để một vị Thổ Thần nhận lễ thay mình sao? Lời thề là giao ước giữa tâm can ngươi và bài vị trên vách, một sợi tóc rụng người ta còn biết, huống chi là mùi mỡ gà dính trên mép ngươi?
Bà Trương nghe xong, toàn thân run rẩy như cầy sấy:
- Giờ... giờ tôi phải làm sao đây thầy? Thầy làm lễ cúng bái trừ tà giúp tôi, tôi xin dâng hết số bạc tích cóp cả đời này cho thầy!
Mã Vạn Hỷ xua tay, lắc đầu dứt khoát:
- Ta chỉ là kẻ gõ trống dẫn đường, không phải pháp sư trừ tà, cũng không có quyền can thiệp vào món nợ giữa ngươi và Bạch Tiên. Nghiệp do miệng ngươi thề thốt tạo ra, chỉ có tự thân ngươi mới cởi bỏ được. Không có bùa chú nào cứu được kẻ nuốt lời.
Bà Trương ôm lấy chân Mã Vạn Hỷ, gào khóc thảm thiết:
- Xin thầy chỉ cho tôi một con đường sống!
Mã Vạn Hỷ nhìn bà hồi lâu, rồi chậm rãi cất lời:
- Muốn giữ lấy tấm thân này, chỉ có một con đường duy nhất. Mang bọc gai về đốt cùng chiếc gối cũ giữa sân. Quỳ trước am Bạch Tiên từ giờ Thân đến tận giờ Tý, tự tát vào miệng đủ một trăm cái, thành tâm nhận tội nuốt lời. Kể từ ngày mai, tiếp tục giữ đúng giới luật ăn chay, nhưng không phải ăn chay trọn đời như lời thề ban đầu nữa.
Bà Trương ngẩng đầu lên, vẻ mặt đầy nghi hoặc:
- Không... không phải ăn chay trọn đời nữa sao thầy?
- Ngươi đã phá vỡ đại nguyện trọn đời, chiếc bình đã nứt thì không thể lành lại như cũ.
Mã Vạn Hỷ trầm giọng giải thích:
- Ngươi phải phạt mình ăn chay ròng rã thêm đúng ba năm nữa. Ba năm này là ba năm trả nợ cho sự dối trá. Trong ba năm ấy, một giọt mỡ lợn, một muỗng nước mắm cá cũng không được dính vào đầu lưỡi. Hết hạn ba năm, nợ cũ mới dứt, duyên nợ với Bạch Tiên mới hoàn toàn thanh toán xong xuôi. Nếu trong ba năm này ngươi còn tái phạm một lần nữa, gai nhọn sẽ không chỉ cựa quậy dưới da lưng, mà sẽ đâm thẳng từ tim ngươi đâm ra ngoài.
Bà Trương dập đầu tạ ơn lia lịa, hai tay run rẩy ôm bọc gai nhọn cắm đầu chạy về nhà.
Trưa hôm đó, giữa khoảng sân phủ đầy tuyết trắng, một đống lửa nhỏ bùng lên đỏ rực. Chiếc vỏ gối cũ bằng vải thô xanh cùng hàng trăm chiếc gai nhím bị ngọn lửa thiêu đốt xèo xèo, bốc lên mùi khét lẹt của lông tóc cháy quyện lẫn tàn tro bay lả tả lên nền trời xám xịt.
Đúng giờ Thân, khi bóng tối mùa đông bắt đầu bao trùm khắp xóm làng, bà Trương quỳ sụp xuống trước am thờ Bạch Tiên gia trên vách đất. Bà thắp ba nén hương mới, cúi đầu dập trán xuống nền gạch nứt.
Từng cái tát vang lên chát chúa trong gian nhà vắng.
Bà Trương vung tay tát thật mạnh vào má mình, miệng liên tục lẩm bẩm nhận tội mắt mù lòng tối, tham ăn nuốt lời. Một cái, hai cái, mười cái... Đến cái tát thứ một trăm, hai bên khóe miệng bà rách toạc, máu tươi ứa ra chảy ròng ròng xuống cằm, hai gò má sưng húp đỏ ửng.
Bà giữ nguyên tư thế quỳ rạp, trán áp sát nền gạch lạnh ngắt, không dám cử động suốt năm canh giờ liền.
Đêm càng về khuya, không gian càng tĩnh mịch đến rợn người.
Gần giờ Tý, gió ngoài sân ngừng bặt. Trong buồng đất vang lên tiếng sột soạt rất khẽ từ phía am thờ trên vách, y như bước chân con vật bốn chân đang dạo quanh mép gỗ.
Ngay sau đó, những cơn đau buốt dọc sống lưng bà Trương đột ngột biến chuyển.
Dưới lớp da căng cứng, những vật thể nhọn hoắt bắt đầu rút lùi. Tiếng rút rin rít như kim khâu luồn qua thớ thịt sống. Mỗi chiếc gai rút đi để lại cảm giác buốt lạnh, nhưng cơn chèn ép đau nhức mấy ngày qua cũng tiêu tan theo.
Bà Trương cắn chặt răng chịu đựng, mồ hôi lạnh vã ra như tắm, hòa lẫn với những giọt máu khô bám trên khóe miệng.
Tiếng gà gáy canh năm cất lên từ chuồng rơm nhà bên, cảm giác châm chích dưới da lưng biến mất hẳn. Toàn thân bà nhẹ bẫng, chỉ còn mỏi mệt rã rời sau một đêm quỳ phạt.
Bà Trương run rẩy chống tay ngồi dậy. Bát hương trên am thờ lúc này tàn hương uốn cong thành một vòng tròn hoàn chỉnh, làn khói mỏng manh tỏa ra mùi thơm dịu nhẹ của thảo quả và rễ cây rừng.
Bà vịn vách tường bước lại gần chiếc giường sưởi.
Trên mặt chiếu hoa, chiếc gối mới do bà tự tay nhồi bằng rơm nếp khô sạch sẽ vào chiều qua đang nằm ngay ngắn ở đầu giường.
Bà Trương tiến lại gần, định đưa tay vuốt phẳng mặt gối.
Ngay chính giữa mặt vải thô trắng tinh của chiếc gối mới, một chiếc gai nhím duy nhất nằm phẳng lặng, đen nhánh, đầu nhọn hướng thẳng về phía chân trời phía đông.
Chiếc gai nằm đó trơ trọi, ngay ngắn như dấu chấm câu cuối một bản giao kèo chưa xong, nhắc về ba năm hạn kỳ phía trước.