Người Giấy - Chương 1: Chương 001: Khăn Tang Màu Đỏ

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình ba đời làm nghề tào mã ở làng Lạc Điền, một ngôi làng cổ nằm nép mình bên đê sông Hồng. Người trong vùng vẫn…

Nội dung chương

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình ba đời làm nghề tào mã ở làng Lạc Điền, một ngôi làng cổ nằm nép mình bên đê sông Hồng. Người trong vùng vẫn quen gọi nhà tôi là xưởng đồ mã nhà ông đồ Nguyễn. Bố tôi truyền lại nghề cho tôi và em trai tôi là Văn Đệ. Nghề này quanh năm suốt tháng ngập tràn trong đủ loại màu sắc của giấy gương, giấy bản và mùi nồng hắc của hồ tinh bột nấu bằng bột sắn. Những bộ khung tre, nan nứa được xếp ngổn ngang từ trong nhà ra ngoài sân. Người ta đến tìm nhà tôi đa phần là để đặt làm ngựa giấy, nhà lầu, xe cộ cho người cõi âm, hoặc đôi khi là những hình nhân thế mạng cho người bị ốm đau, bệnh tật.

Nghề làm đồ mã này, nhìn thì đơn giản nhưng thực chất lại ẩn chứa nhiều quy luật huyền bí mà người ngoài không thể hiểu được. Bố tôi, trước khi qua đời vì căn bệnh ung thư phổi do hít quá nhiều bụi giấy và khói độc, đã gọi tôi và Văn Đệ lại bên giường bệnh. Ông cầm lấy tay tôi, giọng thều thào nhưng vô cùng nghiêm nghị:

- Danh này, con là anh cả, sau này phải thay bố gánh vác cái xưởng này. Nghề của nhà ta là nghề giao tiếp với cõi âm, giúp người sống gửi gắm tâm nguyện xuống dưới đó. Nhưng con phải nhớ kỹ ba điều cấm kỵ cốt tủy.

Tôi vẫn nhớ như in đôi mắt đục ngầu của bố lúc đó. Ông dặn điều thứ nhất là không được dùng giấy báo cũ có chữ để dán người giấy. Vong hồn dưới kia đọc được chữ trên người mình sẽ sinh ra tạp niệm, không chịu nhận đồ cúng. Điều thứ hai là người giấy không được điểm mắt. Đây là quy tắc bất di bất dịch của dân làm đồ mã Lạc Điền. Người giấy một khi đã được vẽ thêm đôi mắt đen láy thì chẳng khác nào được ban cho linh tính. Những vong hồn vất vưởng, cô hồn dã quỷ ngoài đường ngoài chợ sẽ lập tức nương gá vào đó, mượn xác giấy để làm loạn trần gian. Điều thứ ba là tuyệt đối không được trò chuyện trực tiếp với người giấy. Nếu nửa đêm nghe thấy tiếng thì thầm, tiếng gõ cửa hay tiếng hỏi han phát ra từ đống đồ mã sau nhà, phải mượn cát ngôn trả lời ngược lại để xua đuổi chúng đi.

Tôi đã khắc cốt ghi tâm những lời dạy đó của bố. Suốt mười năm làm nghề, tôi chưa từng vi phạm một lần nào. Nhưng tôi không ngờ rằng, tai họa lần này lại không đến từ việc làm sai luật, mà đến từ chính ngày vui của em trai tôi.

Văn Đệ và Hạnh quen nhau từ hai năm trước. Hạnh là con gái ông Cựu, gia đình cũng thuộc diện khá giả ở xóm bên. Hai đứa xứng đôi vừa lứa, ai nhìn vào cũng khen ngợi. Để chuẩn bị cho đám cưới của em trai, tôi đã tự tay vót tre, chọn những tờ giấy màu đẹp nhất để dựng một chiếc kiệu đỏ rực rỡ. Chiếc kiệu giấy cao bằng người thật, các góc kiệu được trang trí bằng hoa văn rồng phượng uốn lượn vô cùng tinh xảo. Tôi còn làm thêm hai hình nhân tỳ thiếp bằng giấy để đặt hai bên kiệu, chỉ chờ ngày cưới xong sẽ mang ra bãi đất trống đầu làng đốt đi để làm lễ trình báo với các quan thần linh bản địa.

Đêm trước ngày mồng bảy, Văn Đệ ngồi bên hiên nhà cùng tôi. Nó nhìn chiếc kiệu giấy đỏ, ánh mắt ngập tràn niềm vui sướng và hy vọng về một tổ ấm nhỏ. Nó bảo tôi:

- Anh Danh này, cưới xong em sẽ cùng Hạnh mở rộng thêm xưởng đồ mã của nhà mình. Hạnh khéo tay lắm, cô ấy bảo sẽ giúp em dán những chi tiết nhỏ trên người giấy.

Tôi cười, vỗ vai em trai:

- Ừ, hai đứa chịu khó làm ăn thì chẳng mấy chốc mà khá giả.

Đâu có ngờ, lời nói ấy lại là những lời vui vẻ cuối cùng của nó trước khi bi kịch ập đến.

Buổi chiều hôm đó rét đậm. Bầu trời xám xịt như đổ chì, gió bấc thổi thông thốc qua những rặng tre già đầu làng. Hạnh bắt xe ra thị trấn từ sớm để nhận chiếc khăn voan cưới. Đó a chiếc khăn voan trắng muốt, dài thướt tha mà cô ấy hằng mơ ước.

Đến khoảng bốn giờ chiều, tiếng còi hơi của chiếc xe container gầm rú vang dội cả một vùng quê nghèo. Tiếng động cơ gầm rú điên cuồng như một con quái vật mất kiểm soát. Chiếc xe chở hàng chục tấn gỗ từ trên dốc đê lao xuống, quét sạch mọi thứ trên đường đi của nó trước khi lật nghiêng ở ngã ba đường vào làng Lạc Điền.

Khi tôi chạy ra đến nơi, mặt đất vẫn còn rung chuyển nhẹ sau cú va chạm khủng khiếp. Đám đông đứng xung quanh bàn tán xôn xao, gương mặt ai nấy đều lộ vẻ kinh hoàng. Văn Đệ đang quỳ rạp dưới đất, hai bàn tay nó bấu chặt vào nền đường nhựa nguội ngắt, gào khóc đến khản cả giọng.

Tôi tiến lại gần, nhìn qua khe hở giữa những khúc gỗ lớn và bánh xe sau của chiếc container. Thân xác Hạnh nằm đó, bất động. Đầu cô ấy vẹo hẳn sang một bên, mái tóc đen dài rũ rượi bết chặt vào vũng máu tươi đang loang lổ khắp mặt đường. Chiếc khăn voan cưới trắng tinh giờ đây đã bị nhuộm đỏ hoàn toàn bởi máu tươi từ những vết thương trên cơ thể cô ấy. Màu đỏ thẫm của máu quyện vào lớp vải voan mỏng manh, tạo nên một thứ màu sắc rợn người, nổi bật giữa cảnh chiều đông xám xịt.

Khi người ta dùng kích thủy lực để nâng bánh xe lên và đưa thi thể Hạnh ra ngoài, chiếc khăn voan nhuộm máu vẫn dính chặt vào da đầu cô ấy. Gió chiều đông thổi mạnh, làm tấm khăn voan đỏ bay vật vờ như một dải lụa ma quái. Ai nhìn thấy cảnh tượng đó cũng phải rùng mình quay đi.

Sau khi đưa thi thể Hạnh về nhà ông Cựu, tôi chạy vội về xưởng đồ mã để lấy một số đồ dùng cần thiết. Đêm tối buông xuống nhanh chóng, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt. Xưởng đồ mã tối om, chỉ có ánh trăng mờ ảo chiếu qua khe cửa sổ gỗ. Khi tôi đang lục tìm cuộn chỉ đỏ và ít vàng mã trong hòm gỗ, bỗng dưng từ góc xưởng, nơi đặt chiếc kiệu hoa giấy đỏ chuẩn bị cho đám cưới, vang lên một tiếng thì thầm khe khẽ.

- Danh ơi, nhà còn ai thức không?

Giọng nói thều thào, nghe rất giống giọng của Hạnh lúc còn sống. Da đầu tôi tê dại, tóc gáy dựng ngược. Tôi nhớ ngay đến quy tắc thứ ba của bố dặn. Không được trả lời bình thường, phải mượn cát ngôn trả lời ngược lại.

Tôi lấy lại bình tĩnh, cố giữ cho giọng mình không run rẩy, hướng về phía chiếc kiệu giấy đáp lại:

- Đi vắng cả rồi, nhà không có ai đâu.

Tiếng thì thầm im bặt. Chỉ còn tiếng gió rít qua khe cửa sổ. Tôi vội vàng ôm lấy cuộn chỉ đỏ cùng tập tiền vàng rồi khóa chặt cửa xưởng, chạy thẳng sang nhà ông Cựu.

Thi thể Hạnh được đưa về gian nhà ngang nhà ông Cựu. Vì cô ấy chết trẻ, lại chết vì tai nạn thảm khốc ngoài đường nên gia đình không dám đưa vào nhà chính vì sợ mang lại xui xẻo cho dòng họ. Chiếc quan tài gỗ thô sơ được đặt tạm trên chiếc phản gỗ giữa gian nhà ngang tối tăm, ẩm thấp.

Tối hôm đó, trời mưa phùn lất phất, không khí càng thêm lạnh lẽo. Gia đình tôi sang nhà ông Cựu từ sớm để giúp đỡ. Văn Đệ ngồi bệt ở góc sân, hai mắt đỏ hoe, vô hồn nhìn vào khoảng không tối tăm phía trước. Nó không khóc nữa, nhưng sự im lặng của nó lại khiến tôi thấy lo sợ hơn cả tiếng gào khóc lúc chiều.

Thầy cúng Tự bước vào gian nhà ngang với chiếc túi vải chàm và chiếc chuông đồng nhỏ. Thầy Tự là người có tiếng trong vùng về việc cúng bái giải hạn trùng tang. Khi thầy bước đến bên thi thể Hạnh, lật tấm vải liệm màu vàng lên để xem xét, sắc mặt thầy bỗng chốc biến đổi hoàn toàn.

Gương mặt thầy Tự cắt không còn giọt máu, đôi môi run rẩy không ngừng. Thầy lùi lại hai bước, chiếc chuông đồng trên tay rơi bộp xuống đất, phát ra tiếng kêu khô khốc.

- Đầu tang hồng sát! Thầy Tự thốt lên, giọng run rẩy đầy sợ hãi.

Bố tôi vội bước tới, nhặt chiếc chuông đồng lên đưa cho thầy rồi hỏi gặng:

- Thầy Tự, có chuyện gì vậy thầy? Sao lại gọi là đầu tang hồng sát?

Thầy Tự nhận lại chiếc chuông nhưng tay vẫn run bần bật. Thầy chỉ ngón tay gầy guộc về phía thi thể Hạnh:

- Con bé này chết ngay trước ngày cưới, máu của chính nó nhuộm đỏ tấm khăn voan. Trong phong thủy âm trạch, đây là điềm hung hiểm nhất. Người chết mang theo oán niệm cực lớn vì chưa kịp thành hôn, lại chết vì tai nạn máu me. Tấm khăn voan đỏ này chính là sợi dây trói buộc vong hồn cô ấy với trần thế. Vong hồn này sẽ hóa thành hồng sát quỷ, cực kỳ hung tàn.

Mẹ Hạnh nghe vậy thì khóc rống lên, ôm lấy chân thầy Tự cầu xin:

- Thầy ơi, con tôi chết oan uổng quá, xin thầy làm lễ siêu thoát cho cháu. Nó còn trẻ quá, chưa kịp hưởng hạnh phúc ngày nào mà đã phải chịu cảnh này.

Thầy Tự lắc đầu liên tục, nét mặt đầy vẻ bất lực:

- Hà tất phải làm khó tôi. Chuyện này tôi không gánh nổi. Đầu tang hồng sát không phải là vong hồn bình thường. Nếu không giải quyết thỏa đáng, trong vòng một trăm ngày tới, cả họ nhà gái lẫn họ nhà trai sẽ có người phải chết tiếp để đền mạng.

Bố tôi nghe đến đây thì biến sắc, còn mẹ tôi thì mặt mày tái mét. Bà vội vàng níu lấy tay thầy Tự:

- Thầy nói thế nghĩa là sao? Nhà tôi chỉ là nhà chồng sắp cưới, chưa làm lễ rước dâu gì cả, sao lại vạ lây đến cả họ nhà tôi?

Thầy Tự thở dài, chỉ vào chiếc khăn voan đỏ trên đầu Hạnh:

- Sợi tơ hồng đã buộc, tên tuổi hai đứa đã trình lên gia tiên hai nhà. Giờ một bên đứt gánh giữa đường, bên kia làm sao thoát khỏi? Hồng sát quỷ sẽ tìm đến người có duyên nợ lớn nhất với nó.

Nói rồi, thầy Tự quay sang nhìn Văn Đệ đang ngồi bất động ở góc sân.

- Muốn hóa giải hồng sát này, chỉ có một cách duy nhất. Đó là phải tìm người thế mạng để làm dịu cơn thịnh nộ của vong hồn. Hoặc là... phải thực hiện hôn âm.

- Hôn âm? Tôi lên tiếng hỏi.

- Đúng vậy. Phải cho thằng Đệ kết hôn với người chết để hoàn thành tâm nguyện của con Hạnh trước khi chết. Có như vậy, oán khí mới tan đi, vong hồn mới chịu đi đầu thai. Nếu không làm lễ cưới chạy tang ngay trong đêm nay hoặc ngày mai, tai họa sát thân sẽ ập xuống đầu thằng Đệ trước tiên, sau đó là đến những người khác trong dòng họ hai bên. Thầy Tự giải thích.

Mẹ tôi nghe đến đây thì giãy nảy lên như đỉa phải vôi. Bà lớn tiếng phản đối:

- Không được! Con trai tôi còn sống sờ sờ ra đấy, sao lại bắt nó kết hôn với người chết? Làm thế khác nào đẩy nó xuống hố lửa!

Ông Cựu nghe mẹ tôi nói vậy thì nổi giận đùng đùng. Ông đỏ ngầu mắt chửi lớn:

- Bà thông gia, con Hạnh nhà tôi chết thảm như vậy là vì cái gì? Chẳng phải vì nó chuẩn bị làm dâu nhà bà sao? Giờ thầy cúng đã phán rõ ràng, nếu không cưới chạy tang thì cả hai họ cùng gánh hạn. Bà xót con trai bà, thế còn mạng sống của cả nhà tôi thì sao?

- Ông Cựu, ông đừng có mà ngậm máu phun người! Con Hạnh nhà ông bị xe đâm ngoài lộ lớn chứ có phải bị nhà tôi đâm đâu mà đổ vấy? Việc cưới xin chưa thành, hai đứa chưa bái đường thành thân, con Hạnh chưa bước chân qua ngưỡng cửa nhà tôi thì chưa phải là người nhà họ Nguyễn này! Tôi hà tất phải để con trai tôi lấy một cái xác không hồn? Mẹ tôi cũng không vừa, chửi bới ầm ĩ giữa gian nhà ngang.

- Bà... bà ác độc vừa thôi! Con Hạnh chết oan uổng, nó có linh thiêng thì đêm nay nó về bóp cổ thằng Đệ trước tiên! Để xem lúc đó bà có còn già mồm được không! Ông Cựu đập mạnh tay xuống bàn trà gỗ, đỏ ngầu mắt chửi lớn.

- Ông đừng có nói gở! Con ma ấy dám bén mảng tới đây thì tôi không để yên đâu! Mẹ tôi chống nạnh chửi lại.

Hai bên gia đình lập tức xảy ra tranh cãi nảy lửa. Tiếng la hét, chửi rủa át cả tiếng gió bấc rít qua khe cửa gỗ. Bố tôi phải nhảy vào can ngăn:

- Thôi, hai nhà bớt lời đi! Chuyện đã thế này rồi, cãi vã cũng chẳng giải quyết được gì. Bây giờ phải nghe theo lời thầy Tự xem làm thế nào để vẹn cả đôi đường.

Thầy Tự lắc đầu, khẽ gõ chiếc chuông đồng xuống bàn gỗ:

- Các vị không cần phải cãi cọ nữa. Giờ lành để làm lễ hôn âm và khâm liệm chỉ có trong ngày mai. Nếu qua giờ lành mà chưa quyết định, hồng sát quỷ sẽ tự đi tìm người thế mạng. Lúc đó, thần tiên cũng không cứu nổi.

Tôi nhìn sang Văn Đệ, thấy nó vẫn ngồi im lìm như một pho tượng gỗ không có cảm xúc. Nhưng nếu nhìn kỹ, tôi nhận ra đôi mắt nó đỏ sọc, khóe miệng khẽ nhếch lên một nụ cười kỳ dị mà không ai chú ý đến. Nụ cười ấy khiến tôi thấy gai người.

Tôi kéo thầy Tự ra một góc khuất ngoài hiên nhà, tránh xa đám đông đang cãi vã.

- Thầy Tự, nhà tôi làm nghề đồ mã lâu năm. Nếu phải làm lễ hôn âm, có phải chúng ta cần một hình nhân thế mạng bằng giấy không?

Thầy Tự gật đầu, nét mặt nghiêm trọng:

- Đúng vậy. Nhưng trường hợp đầu tang hồng sát này cực kỳ hung hiểm. Danh này, cậu làm nghề đồ mã chắc cũng biết rõ luật lệ. Khi làm người giấy cho lễ hôn âm này, tuyệt đối không được điểm mắt cho hình nhân đó. Người giấy không điểm mắt thì vong hồn không có lối vào. Nếu cậu lỡ tay vẽ mắt cho nó, vong hồn của Hạnh sẽ nhập vào hình nhân ngay lập tức, rồi nó sẽ dùng sợi chỉ đỏ buộc vào chân thằng Đệ, dắt em trai cậu đi theo xuống âm phủ.

Tôi nuốt nước bọt gật đầu:

- Tôi hiểu rồi. Tôi sẽ tự tay làm hình nhân này, tuyệt đối không vẽ mắt.

Thầy Tự dặn dò thêm:

- Chưa hết. Khi khâm liệm và đóng đinh quan tài cho con Hạnh, phải chuẩn bị sẵn đinh quan tài ngâm máu chó đen để trấn áp oán khí. Lúc đóng đinh, người nhà tuyệt đối không được gọi đủ họ tên của người chết. Nếu gọi đủ họ tên khi đóng đinh, vong hồn sẽ bị đóng chặt vào xác, không thể siêu thoát được, oán khí sẽ càng tích tụ mạnh hơn. Ngoài ra, khi đưa tang, phải đi giày ngược cho thi thể và buộc một sợi chỉ đỏ vào ngón chân cái của nó để ngăn không cho hồn ma quay lại quấy nhiễu người sống.

Tôi ghi nhớ từng lời thầy Tự dặn. Cơn gió bấc thổi qua sân làm đống lá khô xào xạc. Tôi nhìn về phía gian nhà ngang, cuộc tranh cãi giữa hai gia đình vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Mẹ tôi kiên quyết không cho Văn Đệ làm đám cưới ma, còn nhà ông Cựu thì dọa sẽ mang quan tài đến đặt trước cửa nhà tôi nếu nhà tôi không chịu thực hiện hôn âm.

Tai họa này quả thực đã vượt quá tầm kiểm soát của gia đình tôi.

Chương khác

Xem thêm