Người Giấy - Chương 4: Chương 004: Khung Tre Mặc Áo

Mưa phùn tháng Ba ở làng Trung Nghĩa dai dẳng vô cùng. Nước mưa len lỏi qua những kẽ ngói âm dương cũ kỹ, nhỏ xuống chiếc chậu nhôm đặt nơi góc nhà ông…

Nội dung chương

Mưa phùn tháng Ba ở làng Trung Nghĩa dai dẳng vô cùng. Nước mưa len lỏi qua những kẽ ngói âm dương cũ kỹ, nhỏ xuống chiếc chậu nhôm đặt nơi góc nhà ông Tám Sáu những tiếng tong tong đều đặn. Căn nhà ba gian lợp ngói vảy rồng vốn đã tối tăm, nay lại càng thêm u tịch dưới ánh sáng leo lét của chiếc đèn dầu hoa kỳ đặt trên chiếc ban thờ tổ nghề đồ mã.

Tôi ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói đã sờn mép, tay bưng chén nước chè xanh đặc sánh nhưng nguội ngắt. Hương chè chát đắng không khỏa lấp nổi mùi củ cậy giã nhỏ hòa lẫn với hồ sắn đang bốc lên từ chiếc vại sành sát góc tường. Đó là thứ keo chuyên dùng để dán đồ mã, thứ mùi chua nồng, ẩm mốc đặc trưng của xưởng làm người giấy mà tôi đã quen từ nhỏ, nhưng đêm nay, nó làm đầu óc tôi nặng trĩu.

Ở gian bên cạnh, Văn Đệ ngồi thu người trên chiếc phản gỗ lim. Gương mặt nó xám ngoét, hai hõm má hóp lại dưới gò má nhô cao. Từ ngày bị vong hồn cái Hạnh bám riết, phần người của nó bị rút cạn, chỉ còn lại da bọc xương. Nó ngồi bất động, đôi mắt lờ đờ nhìn chăm chăm vào khoảng không trước mặt, hai tay ôm khư khư chiếc chậu đồng đựng nước lá bưởi pha rượu đế để trừ tà. Thỉnh thoảng, cả người nó lại giật nảy lên một cái, miệng phát ra tiếng nấc khan nghẹn ứ, giống như có bàn tay ai đó đang bóp chặt lấy cổ họng nó từ phía sau.

Ông Tám Sáu ngồi xổm trên nền đất nện, chiếc rựa sắt sắc lẹm trong tay ông lia nhanh trên những thanh tre bánh tẻ. Những thanh tre này đã được ngâm dưới ao nước vôi đặc suốt ba tháng ròng để tránh mối mọt, cật tre chuyển sang màu xanh xám, dai và chắc. Ông không dùng thước dây hay thước mét của thợ mộc. Ông dùng chính ngón tay và một sợi chỉ đỏ để đo đạc.

- Đệ, lại đây chú bảo.

Giọng ông Tám Sáu khàn đặc, phá tan bầu không khí im ắng của đêm muộn.

Văn Đệ lết từng bước chân nặng nề từ trên phản xuống, đôi dép tổ ong mòn vẹt kéo lê trên nền đất tạo ra những tiếng sột soạt. Nó đứng trước mặt ông Tám Sáu, hai cánh tay buông thõng, đầu hơi ngoẹo sang một bên, mắt nhìn xuống chân.

Ông Tám Sáu kéo sợi chỉ đỏ từ đỉnh đầu Đệ xuống tận gót chân nó, rồi gập sợi chỉ lại làm đôi. Ông dùng móng tay cái bấm một cái dấu thật sâu lên cật thanh tre đang cầm trên tay. Tiếp đó, ông bảo Đệ giơ hai tay ra. Ông đo chiều dài từng cánh tay, đo chu vi vòng ngực, rồi tỉ mỉ đo từng đốt ngón tay của nó.

Cứ mỗi lần đo xong một bộ phận trên người Đệ, ông Tám Sáu lại chọn một nan tre tương ứng, dùng rựa vạt hai đầu cho thật nhọn rồi ráp vào chiếc khung đang dựng dở. Từng mối buộc được siết chặt bằng lạt tre non ngâm nước. Khung tre dần hiện hình, mang dáng dấp của một bộ xương người thẳng đứng, nhưng các khớp xương lại lỏng lẻo lạ thường.

Đến phần khớp tay của hình nhân, ông Tám Sáu dừng lại. Ông ngước mắt nhìn Đệ, ánh mắt ông dưới bóng tối của chiếc nón lá cũ treo trên vách trông sâu hoắm:

- Nhổ ba sợi tóc trên đỉnh đầu, nhớ là phải lấy cả chân tóc còn dính máu.

Văn Đệ run rẩy đưa bàn tay gầy gò lên đầu. Nó túm lấy một chỏm tóc ngay xoáy đầu, nghiến răng giật mạnh một cái. Một tiếng sựt vang lên nhỏ nhoi. Trên kẽ ngón tay của nó là ba sợi tóc đen, phần chân tóc màu trắng đục vẫn còn dính chút da đầu đỏ hỏn cùng một giọt máu tươi li ti.

Ông Tám Sáu đón lấy ba sợi tóc ấy bằng một thái độ kính cẩn. Ông không dùng keo hồ sắn để dán, mà dùng sợi chỉ đỏ quấn chặt ba sợi tóc dính máu của Đệ vào ngay khớp nối bằng tre giữa cẳng tay và bàn tay của hình nhân. Ông lặp lại hành động đó ở các khớp vai, khớp gối và phần đỉnh đầu của con người giấy.

Tôi nhìn thấy cảnh tượng ấy, lồng ngực tự dưng thắt lại. Tôi tiến lại gần, ghé sát vào tai ông hỏi nhỏ:

- Chú Tám, sao làm người giấy thế thân lại phải lấy cả tóc dính máu của thằng Đệ buộc vào xương tre thế kia?

Ông Tám Sáu không ngẩng đầu lên, ngón tay cái thô ráp vẫn thoăn thoắt thắt nút sợi chỉ đỏ. Ông khẽ cười khùng khục trong họng, âm thanh nghe khô khốc như tiếng hai mảnh sành cọ vào nhau:

- Người thế thân cho kẻ sống đi bái đường dưới âm phủ thì không được sai một phân, lệch một ly. Máu tóc của thằng Đệ là cốt, khung tre này là xương. Càng giống người sống thì cô dâu dưới ấy mới nhận diện được, mới không tìm đến người thật. Con ma Hạnh nó khôn lắm, chỉ cần sai lệch một chút hơi người là nó biết ngay mình lừa nó.

Tôi nhìn cái khung tre dần hình thành dưới bàn tay khéo léo của ông Tám Sáu. Chiếc khung tre rỗng tuếch nhưng có kích thước và hình dáng giống hệt Văn Đệ. Năm khớp xương của nó được buộc bằng chỉ đỏ cùng những sợi tóc dính máu của Đệ.

Khi chiếc khung tre đã hoàn thành, ông Tám Sáu đứng dậy, phủi sạch những dăm tre bám trên ống quần nâu. Ông đi vào buồng trong, mang ra một chiếc áo cưới cổ tròn màu đỏ bằng giấy xuyến chỉ và chiếc quần thụng cùng màu. Đây là bộ đồ cưới dành cho chú rể dưới âm phủ, màu đỏ của nó không tươi mà thẫm lại, có màu giống như máu khô lâu ngày.

Ông Tám Sáu cẩn thận luồn chiếc khung tre vào trong bộ quần áo giấy. Khi chiếc áo đỏ bao bọc lấy khung tre, con người giấy trông càng thêm kỳ dị. Nó đứng lù lù giữa gian nhà, bộ quần áo giấy thụng thịnh bay phần phật mỗi khi có luồng gió lạnh lùa qua khe cửa gỗ. Bên trong lớp áo đỏ ấy là những khoảng trống hun hút, phơi ra cấu trúc xương tre chằng chịt và những nút buộc chỉ đỏ đầy tóc người.

Đặc biệt, phần đầu của nó vẫn chỉ là một khối tre tròn được quấn bằng giấy bản màu trắng, chưa được dán mặt mũi. Hai hốc mắt của nó bỏ trống, đen ngòm hướng thẳng về phía chiếc phản gỗ nơi chúng tôi đang ngồi.

Tôi nhìn cái bóng của hình nhân đỏ lòm đổ dài trên vách đất, lòng bồn chồn không yên. Tôi quay sang hỏi ông Tám Sáu, hy vọng tìm kiếm một lời trấn an cho đêm nay:

- Chú Tám, mai làm lễ bái đường, liệu mọi chuyện có suôn sẻ, thằng Đệ có tai qua nạn khỏi không chú?

Ông Tám Sáu ngưng tay gõ chiếc tẩu thuốc vào chân phản, nhìn đăm đăm vào cái khung tre mặc áo cưới đỏ, rồi chậm rãi trả lời:

- Yên tâm đi, cưới xin là chuyện hỷ, người giấy cưới vợ ma thì chỉ có lành chứ không có dữ. Con ma Hạnh nhận được chồng giấy rồi sẽ buông tha cho thằng Đệ thôi.

Nhưng đúng lúc ông vừa dứt lời, đĩa dầu lạc trên bàn thờ tổ nghề bỗng nhiên phụt lên một tia lửa đỏ lòm, phát ra tiếng tách giòn giã rồi tắt ngấm. Căn nhà chìm vào bóng tối âm u, chỉ còn lại ánh sáng yếu ớt từ chiếc đèn dầu hoa kỳ đặt ở góc buồng trong hắt ra. Gió bấc ngoài sân bỗng nổi lên, đập vào cánh cửa liếp sầm sập.

Lòng tôi thắt lại. Câu trả lời của ông Tám Sáu rõ ràng là lời tốt đẹp, nhưng điềm báo ngay sau đó lại u ám vô cùng. Tôi biết quy luật của cõi âm, khi người ta hỏi về vận mệnh mà gặp phải điềm ngược thế này, nghĩa là lành ít dữ nhiều. Tôi không dám hỏi thêm câu nào nữa, chỉ lẳng lặng nhìn ra khoảng sân tối đen như mực.

Ông Tám Sáu lục lọi trong bóng tối để châm lại đĩa dầu. Ánh lửa xanh lét từ que diêm bùng lên, soi rõ khuôn mặt tái mét của Văn Đệ đang ngồi co rúm trên phản. Nó nhìn chằm chằm vào cái khung tre mặc áo cưới đỏ, hàm răng va vào nhau lập cập:

- Anh Danh... anh nhìn kìa... nó... nó đang nhìn tôi...

Tôi nhìn theo hướng ngón tay run rẩy của Đệ. Cái khung tre mặc áo cưới đỏ đứng im lìm ở góc nhà, hai hốc mắt trống rỗng của nó hướng thẳng về phía chiếc phản gỗ. Dù không có mắt, nhưng tôi vẫn có cảm giác có một luồng khí lạnh lẽo đang dò xét, quan sát từng cử động của Đệ từ chính hai hốc mắt đen ngòm ấy.

Gió bấc rít qua khe cửa, chiếc áo cưới giấy đỏ rung lên bần bật. Tiếng nan tre cọ vào nhau kêu cọt kẹt, cọt kẹt, nghe như tiếng bước chân người đang chậm rãi tiến lại gần.

Ông Tám Sáu gắt khẽ:

- Tắt đèn đi ngủ! Mai còn phải dậy sớm làm lễ. Thằng Đệ vào buồng trong nằm cạnh tao. Danh, mày nằm ở phản ngoài trông chừng con người giấy.

Tôi nuốt nước bọt ực một cái, nhìn chiếc phản gỗ ngoài gian khách. Chiếc phản nằm ngay cạnh chỗ cái khung tre mặc áo cưới đỏ đang đứng. Nhưng tôi không thể từ chối lời của ông Tám Sáu.

Tôi nằm trên chiếc phản gỗ, đắp chiếc chăn bông cũ kỹ đã sực mùi ẩm mốc. Đêm khuya thanh vắng, tiếng mưa phùn rơi trên mái ngói nghe càng rõ hơn. Căn nhà tối đen như mực, chỉ có ánh sáng yếu ớt của trăng khuyết bị mây mù che khuất hắt qua khe cửa sổ gỗ, rọi một vệt sáng mờ nhạt lên chiếc áo cưới đỏ của hình nhân.

Con người giấy đứng đó, cách tôi chưa đầy hai mét.

Trong bóng tối, tôi không thể nhắm mắt nổi. Cứ mỗi lần gió thổi, tiếng cọt kẹt của khung tre lại vang lên. Tôi có cảm giác chiếc khung tre ấy đang dịch chuyển. Tiếng cọt kẹt ban đầu ở góc nhà, sau đó nghe gần hơn, sát bên mép phản.

Tôi nín thở, không dám cựa quậy. Tôi mở to mắt nhìn vào bóng tối. Khung tre mặc áo cưới đỏ vẫn đứng yên ở vị trí cũ, nhưng cánh tay bằng tre của nó, nơi có buộc sợi tóc dính máu của Đệ, có vẻ đã hơi nâng lên, hướng về phía tôi.

Tôi tự trấn an bản thân rằng đó chỉ là do gió thổi làm tà áo giấy lay động. Nhưng rồi, tôi nghe thấy một tiếng động lạ từ phía buồng trong.

Đó là tiếng thở dốc của Văn Đệ, kèm theo tiếng cào cấu sột soạt lên vách đất.

- Đệ? Đệ ơi?

Tôi gọi khẽ.

Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng thở càng lúc càng gấp gáp hơn. Tôi định ngồi dậy bật diêm, nhưng một bàn tay lạnh ngắt như đồng rỉ chợt chạm vào cổ chân tôi.

Gai ốc nổi khắp người. Tôi cứng đờ cả thân thể. Bàn tay ấy không có da thịt, chỉ có những cọng tre cứng ngắc, ráp và khô khốc. Nó từ từ siết chặt lấy cổ chân tôi, rồi buông ra.

Tôi vùng dậy, quẹt diêm châm ngọn đèn dầu. Ánh lửa bùng lên. Cái khung tre mặc áo cưới đỏ vẫn đứng im lìm ở góc nhà. Nhưng lần này, tôi nhìn thấy rõ ràng: một sợi chỉ đỏ buộc ở khớp cổ tay của nó đã bị đứt, và sợi tóc dính máu của Văn Đệ đã biến mất.

Trong buồng trong, ông Tám Sáu bước ra, nét mặt nghiêm nghị. Ông nhìn chằm chằm vào cổ tay hình nhân bị đứt chỉ, rồi quay sang nhìn tôi:

- Ngày mai bái đường, tuyệt đối không được để nó nhìn thấy mặt trời. Nếu không, người đi sẽ là thằng Đệ, chứ không phải nó.

Chương khác

Xem thêm