Người Giấy - Chương 3: Chương 003: Hốc Mắt Bỏ Trống

Đám người nhà cái Hạnh rút đi khi trời đã sập tối, mang theo cả chiếc quan tài gỗ thông còn thơm mùi sơn gắn sơn ta đỏ lòm. Họ không mang về nhà họ, mà…

Nội dung chương

Đám người nhà cái Hạnh rút đi khi trời đã sập tối, mang theo cả chiếc quan tài gỗ thông còn thơm mùi sơn gắn sơn ta đỏ lòm. Họ không mang về nhà họ, mà đặt ngay ngắn ở đầu ngõ nhà tôi, chặn đứng con đường duy nhất đi vào xóm. Người làng Lạc Điền không một ai dám đi qua lối đó. Họ đứng túm tụm bên kia bờ rào dâm bụt, chỉ trỏ vào cái hòm gỗ dài ngoẵng đang chắn lối, rồi quay sang nhìn nhà tôi bằng những ánh mắt vừa oán giận vừa sợ hãi. Họ sợ cái dớp người chết đòi chồng của nhà cái Hạnh sẽ kéo theo điềm gở cho cả vùng đất chiêm trũng này.

Trong nhà, khói thuốc lào của bố tôi bay nghi ngút, đặc quánh dưới ánh đèn măng-sông tù mù. Mẹ tôi ngồi bệt dưới đất, hai tay ôm lấy đầu gối khóc không thành tiếng. Bà khóc đến khản cả cổ, nước mắt nước mũi giàn giụa làm ướt sũng hai vạt áo cánh màu nâu sồng.

- Ông trời ơi, sao tai ương lại đổ xuống đầu con tôi thế này. Thằng Đệ nó có tội tình gì đâu. Nó mới mười chín tuổi đầu, chưa biết mùi đời là gì, sao bắt nó phải đi làm rể dưới âm phủ.

Bố tôi không nói gì, ông chỉ gõ mạnh chiếc điếu cày xuống nền gạch đỏ nghe một tiếng "cộc" khô khốc. Tàn thuốc đỏ lừ rơi ra, ám muội đen lên nền đất. Văn Đệ thì ngồi thu hẹp một góc trên chiếc phản gỗ lim, hai tay ôm chặt lấy đầu gối, hàm răng nó gõ vào nhau lập cập. Nó sợ đến mức không dám nhìn ra phía cửa sổ, nơi bóng tối của vườn chuối đang xào xạc theo từng cơn gió lạnh thổi từ ngoài sông vào.

Giữa lúc cả nhà đang chìm trong bầu không khí nghẹt thở ấy, một tiếng ho khan từ ngoài ngõ truyền vào. Tiếp đó là tiếng bước chân chậm rãi nện trên sỏi đá.

Bố tôi đứng bật dậy, tay vẫn cầm chiếc điếu cày. Người bước vào là ông Tám Sáu.

Ông Tám Sáu năm nay đã ngoài sáu mươi, là thợ làm đồ mã có tiếng nhất ở tổng Lạc Điền này. Cả đời ông chỉ sống bằng nghề tre nứa, giấy bản, phẩm màu để phục vụ cho người cõi âm. Người ta đồn ông có đôi tay thần sầu, có thể vuốt nan tre dán giấy thành những con ngựa, con kiệu giống như thật. Nhưng cũng có người bảo ông biết những thuật tà môn liên quan đến cõi chết. Ông mặc chiếc áo cánh màu chàm cũ kỹ, vai đeo một chiếc túi cói đựng đầy đồ nghề, tay kia xách theo một bó tre cật đã được chuốt bóng nhẵn.

Bố tôi bước vội ra thềm nhà, giọng run run:

- Bác Tám, bác sang chơi. Bác xem có cách nào cứu lấy cháu nó không. Nhà bên kia họ mang cả hòm bén đến đặt trước ngõ rồi. Họ bảo đúng giờ Tý đêm mai không đưa thằng Đệ sang làm lễ bái đường thì họ sẽ mở nắp quan tài gõ bùa gọi hồn nó đi.

Ông Tám Sáu không vội trả lời. Ông bước vào gian nhà ngoài, đặt bó tre cật xuống góc tường, rồi thong thả ngồi xuống chiếc ghế trường kỷ. Ông liếc nhìn Văn Đệ đang run rẩy trên phản, thở dài một tiếng rồi bảo:

- Thằng Đệ vướng nợ âm nặng quá. Lời hẹn ước từ thuở cha sinh mẹ đẻ giữa hai nhà không phải chuyện đùa. Con Hạnh nó chết trẻ khi chưa gả chồng, oán khí tích tụ lại dưới lòng giếng sâu. Nó không cam lòng đi đầu thai một mình đâu. Nó muốn tìm người đi cùng để bầu bạn dưới suối vàng.

Mẹ tôi nghe thế liền lết đến bên chân ông Tám Sáu, van xin:

- Bác Tám, tôi lạy bác. Bác có trăm phương ngàn kế, bác cứu con tôi với. Nhà tôi chỉ có hai anh em nó. Thằng Đệ mà đi thì tôi cũng đâm đầu xuống giếng theo nó mất.

Ông Tám Sáu đỡ mẹ tôi dậy, giọng ông điềm đạm nhưng lạnh lẽo:

- Chị hai bình tĩnh. Tôi sang đây là để bàn cách giải cái hạn này. Chôn sống thằng Đệ là chuyện không thể, pháp luật nhà nước không cho phép, mà lương tâm con người cũng không đành. Nhưng muốn con Hạnh nó buông tha, ta phải cho nó một người chồng tương xứng.

Bố tôi nhíu mày hỏi:

- Người chồng tương xứng? Ý bác là sao?

Ông Tám Sáu khẽ vuốt chòm râu cằm lưa thưa, mắt nhìn thẳng vào chiếc đèn măng-sông đang tỏa ra thứ ánh sáng trắng nhợt nhạt:

- Ta sẽ làm một hình nhân thế mạng. Một người giấy có cốt tre, da bằng giấy bản, mặc hỷ phục chú rể. Ta sẽ cho nó bái đường với con Hạnh, rồi đưa nó xuống huyệt mộ cùng chiếc quan tài đôi mà nhà bên kia đã chuẩn bị. Đồ mã thế thân phải làm thật khéo, giống thằng Đệ như đúc thì mới lừa được vong hồn dưới ấy.

Nghe đến đây, tôi đứng nép sau cánh cửa buồng cũng thấy tim mình đập nhanh hơn. Tôi bước ra ngoài, khẽ hỏi ông Tám Sáu:

- Bác Tám, làm thế liệu có qua mắt được người âm không? Cháu nghe người ta bảo người chết họ tinh lắm, ngửi hơi người sống là biết ngay.

Ông Tám Sáu quay sang nhìn tôi, đôi mắt ông đục ngầu nhưng sắc lẹm:

- Muốn lừa được họ thì phải có mồi dẫn. Danh, mày vào buồng lấy cho ta một cái áo cánh cũ mà thằng Đệ hay mặc lúc đi làm ruộng, chiếc áo nào chưa giặt ấy. Lại cắt thêm một nhúm tóc trên đỉnh đầu của nó nữa. Ta sẽ dùng những thứ đó để làm cốt cho người giấy. Hơi người sống và sợi tóc sẽ dẫn dụ vong hồn con Hạnh tin rằng đó chính là thằng Đệ.

Tôi nhìn bố mẹ, thấy cả hai gật đầu đồng ý liền chạy vội vào trong. Tôi lấy kéo cắt một nhúm tóc đen cứng của Văn Đệ. Khi lưỡi kéo chạm vào da đầu, Đệ khẽ rùng mình một cái nhưng không dám tránh né. Tôi lấy thêm chiếc áo bà ba màu nâu đã bạc màu, sực mùi mồ hôi của em trai mang ra ngoài gian khách.

Ông Tám Sáu nhận lấy những thứ đó rồi bắt đầu làm việc. Ông trải một chiếc chiếu hoa cũ ra giữa nhà. Tôi được phân công ngồi bên cạnh phụ giúp ông chẻ lạt và bôi hồ nếp.

Đêm càng về khuya, không gian trong nhà càng trở nên tĩnh mịch. Chỉ có tiếng "xoẹt xoẹt" của dao rựa rạch trên cật tre và tiếng gió rít qua khe cửa gỗ. Ông Tám Sáu bắt đầu dựng khung. Đôi bàn tay của ông thoăn thoắt uốn những thanh tre mềm dẻo thành hình bộ xương người. Đầu tiên là cái sọ tròn bằng một chiếc rổ nhỏ, tiếp đến là khung ngực, hai cánh tay dài ngoẵng và đôi chân khẳng khiu.

Khi bộ khung tre đã hòm hòm, ông Tám Sáu lấy chiếc áo cũ của Văn Đệ bọc lấy phần ngực tre, rồi nhét nhúm tóc của nó vào bên trong hốc sọ tre. Xong xuôi, ông bắt đầu công đoạn dán giấy bản.

Mùi hồ nếp luộc hòa với mùi giấy bản ẩm mốc bốc lên nồng nặc trong gian nhà chật chội. Cứ mỗi lớp giấy bản bồi lên, hình nhân lại dần hiện rõ hình hài của một con người. Khi lớp giấy ngoài cùng khô đi, ông Tám Sáu lấy ra mấy lọ màu nước cất trong túi cói. Ông dùng cọ vẽ từng sợi tóc đen nhánh trên đỉnh đầu hình nhân. Ông vẽ đôi lông mày rậm rạp, cái mũi hơi hếch và khuôn miệng rộng giống hệt như gương mặt của Văn Đệ.

Tôi ngồi bên cạnh, nhìn cái đầu người bằng giấy nằm chỏng trơ trên chiếu dưới ánh đèn dầu bập bùng mà lòng đầy bất an. Gương mặt giấy bản trắng bệch nhưng các đường nét thì lại sinh động đến kỳ lạ.

Ông Tám Sáu lấy từ trong bọc ra một bộ hỷ phục màu đỏ rực bằng giấy bóng. Bộ quần áo cưới này được cắt may rất khéo, có cả những đường viền thêu hoa văn bằng kim tuyến vàng lá. Ông mặc bộ hỷ phục đó cho người giấy, rồi đeo vào chân nó một đôi giày vải màu đen. Nhưng khi nhìn kỹ, tôi phát hiện đôi giày vải đó được xỏ ngược, gót giày quay về phía trước, mũi giày hướng về phía sau.

Tôi khẽ hỏi:

- Bác Tám, sao bác lại xỏ giày ngược cho nó thế kia?

Ông Tám Sáu vừa vuốt lại nếp áo đỏ trên ngực hình nhân, vừa thì thầm giải thích:

- Giày ngược để nó đi không quay đầu lại được. Người cõi âm đi đứng không giống người sống. Xỏ giày ngược thì nó chỉ có đường đi xuống huyệt, không thể tìm đường quay lại nhà này được nữa. Đây là giao ước với đất đai, không thể làm sai một li.

Nói rồi, ông Tám Sáu cầm chiếc bút lông chấm vào đĩa mực tàu pha phẩm đỏ. Ông cúi người xuống, bắt đầu tô đôi môi của người giấy. Đôi môi được tô đỏ chót, cong lên như đang nở một nụ cười nửa miệng đầy ma quái.

Nhưng khi vẽ xong đôi môi, ông Tám Sáu thu bút lại, đặt đĩa phẩm màu sang một bên. Ông phủi tay đứng dậy, thu dọn đồ nghề vào túi cói.

Tôi nhìn vào gương mặt của hình nhân và giật mình nhận ra một điều kỳ dị. Toàn bộ khuôn mặt của nó từ lông mày, mũi, miệng, tai đều đã được vẽ đầy đủ, cực kỳ chi tiết. Thế nhưng, tại vị trí của hai con mắt lại hoàn toàn bỏ trống. Đó chỉ là hai hốc mắt tròn xoe, phẳng lì và trắng nhách của lớp giấy bản thô sơ. Không có tròng đen, không có tròng trắng, cũng không có bất kỳ một nét mực nào vẽ mi mắt. Nó giống như một kẻ mù lòa có hai hốc mắt trống rỗng đang nhìn chằm chằm lên trần nhà.

Tôi vội vàng nói:

- Bác Tám, bác quên chưa vẽ mắt cho nó rồi. Để thế này nhìn rợn người quá, với lại không có mắt thì làm sao nó thấy đường mà bái đường với con Hạnh được?

Bố tôi cũng bước lại gần, nhìn chằm chằm vào hai hốc mắt bỏ trống của người giấy, nét mặt hiện lên sự lo lắng:

- Đúng đấy bác Tám. Liệu nhà bên kia họ nhìn vào có phát hiện ra đây là đồ giả không? Nhìn hai hốc mắt trắng trơn thế kia ai mà chẳng sợ.

Ông Tám Sáu quay lại, khuôn mặt ông dưới ánh đèn măng-sông trở nên nghiêm nghị đến đáng sợ. Ông lắc đầu, giọng nói trầm xuống đầy răn đe:

- Không được vẽ mắt. Đây là luật cứng của nghề làm đồ mã thế mạng. Người giấy tuyệt đối không được điểm mắt.

Tôi thắc mắc:

- Tại sao lại thế hả bác?

Ông Tám Sáu ngồi xuống chiếc ghế, rít một hơi thuốc lào thật sâu rồi mới chậm rãi nói:

- Người giấy vốn là vật vô tri vô giác, chỉ có cái xác không hồn. Nhưng nếu ta vẽ thêm mắt cho nó, tức là điểm nhãn. Đôi mắt là cửa sổ của linh hồn. Khi hình nhân có mắt, nó sẽ tụ linh khí của trời đất, nó sẽ biết nhìn, biết nghĩ và biết oán hận. Nó sẽ nhận thức được bản thân nó chỉ là kẻ thế mạng phải xuống huyệt lạnh thay cho người khác. Lúc đó, nó không còn nghe lời ta nữa. Đêm xuống, nó sẽ mở mắt ra, tự bò dậy và tìm đường quay về đây để đòi lại mạng sống thật của thằng Đệ.

Mẹ tôi nghe đến đó liền run bắn người, bà vội vàng che miệng để không bật ra tiếng khóc.

Ông Tám Sáu nói tiếp, giọng ông như gió rít qua kẽ răng:

- Hai hốc mắt bỏ trống là để giữ cho nó luôn câm lặng, luôn mù lòa. Nó không thấy đường thì nó chỉ biết đi theo tiếng gọi hồn của thầy cúng bên nhà cái Hạnh đưa xuống huyệt. Khi chôn cất xong xuôi, đất cát đè lên, nó sẽ mãi mãi nằm lại dưới đó làm chồng con Hạnh mà không thể phản kháng. Mọi người phải nhớ kỹ, từ giờ cho đến lúc đưa nó ra khỏi nhà, tuyệt đối không ai được nhìn thẳng vào hai hốc mắt trống rỗng của nó. Nếu ai vô tình nhìn vào mà thấy trong đó có tròng mắt đen xuất hiện, tức là đã có vong quỷ nhập vào hình nhân rồi. Lúc đó thì thần tiên cũng không cứu nổi nhà này.

Tôi nhìn chằm chằm vào hình nhân mặc áo đỏ đang nằm trên chiếu. Dù biết đó chỉ là khung tre và giấy bản, nhưng hai hốc mắt trắng trơn của nó cứ như đang hút lấy ánh nhìn của tôi. Tôi vội vàng quay mặt đi chỗ khác, mồ hôi hột rịn ra trên trán.

Bố tôi thở dài, hỏi thêm:

- Thế còn việc đóng đinh quan tài thì sao hả bác? Tôi nghe nói khi hạ huyệt họ sẽ đóng đinh quan tài đôi để giữ hai đứa lại với nhau.

Ông Tám Sáu gật đầu:

- Đúng vậy. Khi đóng đinh quan tài, thầy cúng bên họ sẽ gọi đủ họ tên của thằng Đệ để xua đuổi tà khí và nhập hồn vào hình nhân. Lúc đó, thằng Đệ ở nhà phải tuyệt đối im lặng, không được thưa, không được lên tiếng. Nếu nghe thấy ai gọi tên mình ngoài ngõ thì phải ngậm chặt miệng lại. Chỉ cần nó trả lời một tiếng, hồn vía nó sẽ bị hút thẳng vào chiếc quan tài dưới huyệt kia ngay lập tức. Đây gọi là mượn cát ngôn trả lời ngược, người chết hỏi gì ta cũng phải làm ngược lại hoặc giữ im lặng.

Nói xong, ông Tám Sáu đứng dậy, cầm lấy bó lạt tre còn thừa cất vào túi cói. Ông dặn dò bố tôi:

- Ngày mai, đúng giờ Tý, khi sương xuống dày nhất, tôi sẽ sang đây cùng nhà trai đưa kiệu đỏ sang đón hình nhân này. Từ giờ đến lúc đó, hãy canh chừng nó thật kỹ. Đừng để mèo hoang hay chuột bọ chạy qua xác nó. Cứ để nó đứng ở góc nhà ngoài này.

Bố tôi tiễn ông Tám Sáu ra cổng. Tôi nhìn theo bóng dáng gầy gò của ông lão biến mất vào màn đêm đen kịt ngoài ngõ, nơi chiếc quan tài gỗ thông vẫn đang nằm lặng lẽ dưới bóng cây gạo cổ thụ.

Khi bố tôi quay vào nhà, ông cùng tôi khênh hình nhân người giấy đặt đứng thẳng ở góc gian nhà ngoài, ngay cạnh chiếc tủ chè cũ. Bộ hỷ phục màu đỏ rực của nó nổi bật lên giữa bóng tối nhập nhoạng của gian nhà. Đôi giày vải xỏ ngược dưới chân nó chạm sát vào nền gạch đỏ.

Mẹ tôi dắt Văn Đệ vào buồng trong, đóng chặt cửa lại. Gian nhà ngoài chỉ còn tôi và bố ngồi bên chiếc bàn nước. Ánh đèn măng-sông đã cạn dầu, bắt đầu lụi dần, chỉ còn lại ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu lạc đặt trên bàn thờ tổ tiên.

Tôi nhìn sang góc nhà. Trong bóng tối lờ mờ, hình nhân người giấy mặc áo cưới đỏ đứng lù lù, hai tay buông thõng sát sườn. Gương mặt giấy bản trắng bệch của nó hướng thẳng về phía cửa buồng nơi Văn Đệ đang trốn. Hai hốc mắt bỏ trống, trắng nhách và sâu hoắm, cứ như đang lặng lẽ quan sát mọi chuyển động trong căn nhà này.

Chương khác

Xem thêm