Người Giấy - Chương 6: Chương 006: Tiếng Rít Hốc Mắt
Cái lạnh từ những viên gạch bát tràng dưới nền nhà ngấm thẳng qua da trán, buốt lên tận đỉnh đầu. Tôi nằm rạp dưới đất, hai tay buông thõng hai bên, toàn…
Nội dung chương
Cái lạnh từ những viên gạch bát tràng dưới nền nhà ngấm thẳng qua da trán, buốt lên tận đỉnh đầu. Tôi nằm rạp dưới đất, hai tay buông thõng hai bên, toàn thân cứng đờ dưới sức ép từ bàn tay gầy guộc của mẹ. Mùi nhang đen làm bằng nhựa trám rừng cháy dở tỏa ra làn khói đặc quánh, khét lẹt, vây lấy đỉnh đầu tôi. Trong gian nhà ngoài của ngôi nhà ba gian lợp ngói vảy rồng, tiếng gõ mõ tụng kinh của cụ Từ mỗi lúc một dồn dập, xen lẫn tiếng sột soạt của những lá bùa vàng dán trên vách đất đang bị gió đêm thổi phần phật.
Mẹ tôi vẫn tì chặt năm ngón tay khô khốc lên bả vai tôi. Giọng bà vang lên ngay sát bên tai, lạnh ngắt và đều đều:
- Danh, lạy đi con. Lạy nốt cái này cho em con được nhẹ lòng mà đi.
Tôi muốn cựa quậy, muốn ngẩng đầu lên để nhìn rõ cái hình nhân giấy đang đứng bên cạnh bài vị của Hạnh, nhưng sức nặng trên vai giống như một tảng đá đè nặng. Lễ bái đường này vốn dành cho Văn Đệ, đứa em họ chết đuối dưới sông của tôi, và Hạnh, cô gái nhà bên kia sườn đồi vừa mới thắt cổ tự tử tròn bảy ngày trước. Theo tục lệ hôn âm của làng này, người sống phải đứng ra lạy thay cho người chết nếu vong hồn người chết chưa chịu quy vị. Tôi là người hợp tuổi nhất với Đệ, nên mẹ bắt tôi phải đứng ra làm cái việc gánh nghiệp này.
Đến cái lạy thứ ba, khi trán tôi vừa chạm sát vào phần gạch ẩm mốc, tiếng cọt kẹt của nan tre bỗng vang lên dồn dập.
Đó là tiếng động phát ra từ bộ khung của hình nhân giấy. Bốn người đàn ông lực lưỡng trong làng vốn được thuê để giữ cho hình nhân đứng thẳng lúc này đều đồng loạt kêu lên một tiếng khe khẽ. Tôi nghe thấy tiếng chân họ dịch chuyển trên nền đất, tiếng những chiếc đế dép cao su cọ xát vào nhau đầy vẻ hoang mang.
- Cụ Từ ơi, hình nhân nặng quá, tay chúng con sắp tuột rồi!
Một người đàn ông tên Thắng cất giọng run rẩy. Anh ta là thợ mộc trong làng, cánh tay cuồn cuộn những bắp thịt, vậy mà giọng nói lúc này lại méo mó đi vì sợ hãi.
Tôi cố sức liếc mắt nhìn nghiêng. Qua khe hở giữa hai cánh tay đang chống dưới đất, tôi thấy đôi giày thêu hoa văn ngược của hình nhân cô dâu đang nhích dần. Đôi giày ấy được làm bằng giấy bản nhuộm phẩm đỏ, phần gót giày quay ra phía trước, mũi giày chĩa về phía sau. Đây là luật cứng của phường đồ mã nhà tôi khi làm người giấy cho đám cưới ma: phải xỏ giày ngược để vong hồn khi nhập vào chỉ có thể đi lùi, không bao giờ tìm được đường quay lại quấy nhiễu nhà chồng.
Nhưng lúc này, đôi giày ngược ấy đang chậm rãi xoay chuyển trên nền gạch bát tràng. Từng tiếng sột soạt của giấy bồi cọ sát vào bề mặt gạch nhám vang lên khô khốc. Nó không đi lùi. Nó đang tự xoay mũi giày về phía tôi.
- Giữ chặt lấy vai! Đừng để nó bật dậy!
Cụ Từ hét lên, tiếng chuông đồng trong tay cụ lắc liên hồi. Tiếng chuông "leng keng" vốn để chiêu hồn lúc này nghe dồn dập và chói tai, giống tiếng báo động hơn là tiếng tụng niệm.
Ngay sau tiếng hét của cụ Từ, một âm thanh khác xuất hiện.
Nó phát ra từ phía trên cao, ngay tại vị trí đầu của hình nhân giấy. Khuôn mặt người giấy được dán bằng giấy bản trắng bệch, hai bên má tô hai vòng tròn đỏ chót bằng phẩm màu hóa học rẻ tiền mua ngoài chợ huyện. Để tránh việc người giấy cướp hồn người sống, cha tôi khi làm hình nhân này đã tuyệt đối tuân theo luật không điểm nhãn. Hai hốc mắt của nó chỉ là hai khoảng trống được che tạm bằng một mảnh giấy đỏ mỏng bằng bàn tay.
Mảnh giấy đỏ dán trên mắt hình nhân bỗng rách toạc một đường dọc ở chính giữa.
Từ hai hốc mắt tối om, sâu hoắm ấy phát ra một tiếng rít dài. Âm thanh đó khò khè, nghẹn ứ, giống hệt tiếng gió mùa đông lùa qua khe cửa sổ gỗ mục, lại giống tiếng đờm đặc nghẹt trong cổ họng của một người đang hấp hối dưới lòng nước sâu. Tiếng rít mỗi lúc một lớn, xoáy thẳng vào tai tôi, khiến hai màng nhĩ đau nhức.
Mùi rơm rạ ẩm và mùi hồ dán làm từ bột sắn thiu bốc lên nồng nặc. Tôi cảm nhận được một luồng khí lạnh buốt tỏa ra từ hai hốc mắt trống rỗng của hình nhân, luồng khí ấy thổi rạp những sợi tóc tơ trên gáy tôi.
- Danh...
Tiếng gọi vang lên. Nó nhỏ nhẹ, thanh mảnh nhưng rõ mồn một.
Tôi giật nảy mình, định nhổm người dậy nhưng bàn tay mẹ tôi vẫn ghì chặt lấy bả vai. Tiếng gọi ấy không phát ra từ miệng cụ Từ, cũng không phải từ những người đàn ông đang giữ hình nhân. Nó phát ra từ bên dưới lớp áo cưới bằng vải đỏ của người giấy. Giọng nói ấy quen thuộc đến mức khiến tim tôi thắt lại. Đó là giọng của Hạnh.
- Anh Danh ơi...
Giọng nói gọi đúng họ tên tôi. Nó không gọi Văn Đệ. Kẻ đáng lẽ phải là chú rể trong đám cưới ma này là Văn Đệ, nhưng cái tên phát ra từ hốc mắt hình nhân lại là Nguyễn Văn Danh.
Theo luật của những người làm nghề đồ mã, khi vong hồn mượn xác giấy để cất tiếng, người sống tuyệt đối không được nhận tên mình. Nếu nhận, vong hồn sẽ hiểu rằng người sống đã đồng ý bầu bạn với họ dưới âm phủ, sợi chỉ đỏ buộc giữa ngón tay út của hình nhân và ngón tay út của tôi sẽ thắt chặt lại, không bao giờ cởi ra được nữa.
Mẹ tôi nghe thấy tiếng gọi ấy liền biến sắc. Bàn tay bà run lên bần bật, nhưng thay vì buông tôi ra, bà lại càng ấn mạnh đầu tôi xuống đất. Bà lẩm nhẩm trong miệng những câu kinh cầu siêu, giọng bà khản đặc đi vì sợ hãi nhưng đầy sự quyết liệt của một người mẹ muốn cứu đứa con trai đã chết của mình bằng mọi giá. Bà muốn Hạnh nhận Văn Đệ, chứ không phải tôi.
Cụ Từ bước vội đến bên cạnh hình nhân, tay cầm nhánh lá bưởi nhúng vào bát nước phép pha máu chó đen, định vẩy lên đầu người giấy. Nhưng chưa kịp để cụ ra tay, một tiếng "khục" khô khốc vang lên.
Đó là tiếng khớp nan tre ở cổ tay hình nhân tự xoay chuyển.
Bàn tay của người giấy vốn được vót từ những cọng nan tre bánh tẻ, dán giấy màu hồng da người, hai tay chắp lại trước ngực theo tư thế bái đường. Giờ đây, các ngón tay tre nhọn hoắt, thô ráp ấy từ từ mở ra. Từng ngón tay chuyển động chậm chạp, cọ sát vào lớp áo vải đỏ phát ra tiếng sột soạt.
Khớp cổ tay bằng tre của nó xoay một vòng tròn hoàn chỉnh. Bàn tay ấy không còn hướng về phía bài vị của Hạnh hay bức ảnh thờ của Văn Đệ đặt trên phản gỗ nữa. Nó từ từ quay đi, chĩa thẳng ngón tay trỏ nhọn hoắt về phía tôi.
Bốn người đàn ông giữ hình nhân lúc này không chịu nổi nữa. Anh Thắng thợ mộc hét lên một tiếng, buông tay ra rồi lùi thẳng về phía góc nhà. Ba người còn lại cũng đồng loạt buông tay, mặt cắt không còn giọt máu.
Chẳng ai đỡ lấy, thế mà hình nhân không hề đổ. Nó vẫn đứng sừng sững trên đôi chân bằng tre quấn vải đỏ. Đôi giày ngược dưới chân nó khẽ dịch chuyển, tiến lên một bước nhỏ về phía tôi.
- Thầy ơi, vong đã đổi mục tiêu sang cậu Danh rồi!
Một người đứng xem ngoài hiên nhà hét lớn lên, rồi tiếng chân người chạy rầm rập ra phía ngõ. Sự sợ hãi giống như một dịch bệnh, nhanh chóng lan ra khắp gian nhà ngoài. Những người họ hàng đứng xung quanh bắt đầu dạt ra xa, chừa lại một khoảng trống rộng giữa tôi, bài vị và hình nhân giấy.
Cụ Từ tay cầm bát nước phép, mặt tái mét nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh. Cụ bước lên một bước, chắn giữa tôi và hình nhân, cất giọng nghiêm nghị:
- Hạnh ơi là Hạnh, hà tất phải làm thế này? Văn Đệ nó đã xuống suối vàng, tấm lòng của nó đối với con là thật. Con nhận lễ bái đường này, rồi ngày mai hạ huyệt đôi, hai đứa sớm tối có nhau dưới âm phủ. Sao con lại đòi người sống?
Tiếng rít từ hai hốc mắt hình nhân bỗng nhiên ngưng bặt.
Cả gian nhà rơi vào một sự im lặng tịch mịch. Chỉ có tiếng dầu rái trong đĩa đèn đặt trên ban thờ nổ lép bép. Khói nhang đen cuộn lại thành những hình thù kỳ dị trên xà nhà bằng gỗ xoan.
Tôi nằm dưới đất, mắt nhìn đăm đăm vào đôi giày ngược của hình nhân. Đôi giày ấy chỉ cách mặt tôi chưa đầy hai gang tay. Từ kẽ giấy bồi của chiếc giày, tôi thấy có những giọt nước màu vàng đục, bốc mùi hôi thối của nước sông bắt đầu rỉ ra, thấm xuống nền gạch bát tràng.
Hình nhân giấy bỗng chuyển động. Đầu nó nghẹo sang một bên, tạo thành một góc vuông kỳ dị với bả vai. Cái đầu bằng đất sét trộn rơm khô phát ra những tiếng rạn nứt nhỏ. Mảnh giấy đỏ dán trên mắt nó rách toạc hẳn ra, để lộ hai hốc mắt tối om, sâu thẳm.
Tôi nhìn vào hai hốc mắt ấy. Trong bóng tối của lòng hình nhân, tôi không thấy nan tre hay rơm rạ, mà thấy hai đốm sáng nhỏ màu xanh lục, giống như mắt của một con mèo hoang đang rình mồi trong đêm tối.
Giọng nói của Hạnh lại vang lên, lần này nó không còn nhỏ nhẹ nữa, mà trở nên khàn đặc, oán hận:
- Nguyễn Văn Danh... anh đã hứa những gì dưới gốc đa đầu làng? Anh nói anh sẽ cưới tôi... sao giờ anh lại bắt tôi lấy một bộ xương khô dưới sông?
Lời nói ấy giống như một gáo nước lạnh dội thẳng vào đầu tôi.
Tôi run lên bần bật. Chuyện tôi và Hạnh từng thề hẹn dưới gốc đa đầu làng là chuyện không một ai biết. Khi ấy, Hạnh chưa treo cổ, và Văn Đệ cũng chưa chết đuối. Nhưng sau đó, gia đình tôi phát hiện ra Hạnh có dòng máu của một dòng họ bị nguyền rủa trong làng, mẹ tôi đã cấm cửa, không cho tôi qua lại với cô ấy. Rồi biến cố xảy ra, Đệ chết đuối, Hạnh tự tử. Mẹ tôi đi xem bói, thầy bói bảo phải làm đám cưới ma cho hai đứa thì dòng họ mới yên ổn.
Tôi đã im lặng, chấp nhận làm theo sự sắp đặt của mẹ. Tôi đã phản bội lời hứa của mình.
Mẹ tôi nghe Hạnh nhắc lại chuyện cũ, mặt bà biến từ đỏ sang xám ngoét. Bà buông bả vai tôi ra, đứng bật dậy, chỉ tay vào hình nhân giấy mà chửi:
- Đồ ma mãnh xảo quyệt! Con Hạnh kia, mày sống đã không bước được vào nhà tao, thì chết cũng đừng hòng lôi con trai tao đi! Cụ Từ, cụ dùng đinh máu chó đen đóng chết nó lại cho tôi!
Cụ Từ nghe lệnh, lập tức đặt bát nước phép xuống, thò tay vào chiếc túi vải chàm đeo bên hông. Cụ rút ra ba cây đinh dài chừng năm thốn. Những cây đinh này đã được ngâm trong máu chó đen suốt chín ngày chín đêm, xám xịt và bốc mùi tanh nồng.
Nhưng trước khi cụ Từ kịp bước tới, bàn tay tre của hình nhân bỗng vươn dài ra một cách bất thường. Những cọng nan tre dán giấy hồng duỗi thẳng, nhanh như chớp lao về phía ngực tôi.
Trong giây phút ấy, tôi nhớ lại luật mượn cát ngôn trả lời ngược của cha tôi dạy. Vong hồn hỏi gì, ta phải trả lời ngược lại thì mới cắt đứt được sợi dây liên kết.
Tôi dùng hết sức bình sinh, lùi lại phía sau, hét lớn:
- Tôi không phải Nguyễn Văn Danh! Nguyễn Văn Danh chết rồi! Tôi là Văn Đệ đây! Tôi là chú rể của cô đây!
Lời nói vừa dứt, bàn tay tre của hình nhân khựng lại giữa không trung, chỉ cách ngực tôi vài phân.
Tiếng rít từ hốc mắt hình nhân lại vang lên, nhưng lần này nó nghe như một tiếng cười khẩy. Cái đầu nghẹo của nó từ từ thẳng lại.
- Đệ này, sau gáy em có bớt đỏ phải không?
Giọng nói từ hình nhân hỏi ngược lại. Nó không hề bị lừa bởi lời cát ngôn ngược của tôi. Nó biết rõ tôi là ai.
Mồ hôi lạnh chảy ròng ròng trên trán tôi, trộn lẫn với bụi tro nhang trên nền đất. Tôi không có bớt đỏ sau gáy. Người có bớt đỏ ấy là Văn Đệ, và cơ thể của Đệ lúc này đang nằm lạnh ngắt trong chiếc quan tài đôi bằng gỗ ngọc am đặt ở gian nhà bên cạnh.
Cụ Từ nhân lúc hình nhân đang khựng lại, cụ bước nhanh tới, tay cầm ba cây đinh ngâm máu chó đen, miệng đọc lớn bài chú trục vong. Cụ giơ tay định đóng cây đinh đầu tiên vào giữa đỉnh đầu của hình nhân giấy.
Nhưng hình nhân bỗng quay ngoắt đầu lại. Đôi giày ngược dưới chân nó giậm mạnh xuống nền gạch một tiếng "bịch" khô khốc.
Một luồng gió lạnh từ đâu ùa vào qua cửa chính, thổi tắt toàn bộ nến và đèn dầu trên bàn thờ. Gian nhà lập tức chìm vào bóng tối dày đặc, chỉ còn lại ánh sáng yếu ớt từ những thanh củi cháy dở trong bếp lò ở nhà ngang hắt sang.
Trong bóng tối, tiếng rít từ hai hốc mắt hình nhân trở nên dữ dội hơn bao giờ hết. Nó không còn là giọng nói của Hạnh nữa, mà là tiếng gào rú của nhiều vong hồn cùng một lúc. Tiếng cọ sát của nan tre, tiếng xé rách của giấy bồi vang lên liên tục.
Tôi nghe thấy tiếng cụ Từ kêu lên một tiếng đau đớn, rồi tiếng bát nước phép rơi xuống đất vỡ tan tành.
- Danh, ra khỏi đây ngay!
Tiếng mẹ tôi hét lên giữa bóng tối. Bàn tay bà lại chụp lấy tay tôi, kéo mạnh tôi về phía cửa sau.
Tôi lồm cồm bò dậy, đầu óc quay cuồng. Trong bóng tối chập chờn, tôi nhìn thấy hình nhân giấy đang chuyển động một cách kỳ dị. Nó không đi lùi nữa. Đôi giày ngược của nó lúc này đã xoay hoàn toàn ra phía trước, mũi giày chĩa thẳng về hướng tôi đang chạy. Nó bước từng bước dài, những thanh tre dưới lớp áo cưới đỏ kêu lên răng rắc như sắp gãy.
Bàn tay tre của nó vươn ra trong bóng tối, những ngón tay nhọn hoắt sượt qua gáy tôi, để lại ba vệt xước rướm máu. Cảm giác buốt nhói chạy dọc xương sống.
Chúng tôi chạy ra đến sân giếng. Trăng đêm nay mờ đục, bị che phủ bởi những đám mây đen xám xịt. Cụ Từ từ trong nhà chạy ra sau, một tay cụ ôm lấy cánh tay đang chảy máu, tay kia vẫn giữ chặt ba cây đinh sắt.
- Hỏng rồi! Vong đã nhìn xuyên qua lớp thế thân!
Cụ Từ vừa thở hổn hển vừa nói, khuôn mặt cụ nhăn nhúm lại vì đau đớn.
Mẹ tôi đứng dưới bóng tối của cây khế bên giếng, khuôn mặt bà hiện lên vẻ cương quyết đến đáng sợ. Bà nhìn cụ Từ, rồi nhìn tôi, cất giọng lạnh lùng:
- Giờ làm thế nào để giữ nó lại? Ngày mai là giờ lành hạ huyệt rồi. Nếu không chôn cất hai đứa nó cùng nhau, cả nhà này sẽ tuyệt tự.
Cụ Từ nhìn ba cây đinh sắt trong tay, rồi nhìn về phía gian nhà ngoài, nơi tiếng rít hốc mắt của hình nhân vẫn đang vang lên đều đặn.
- Phải đóng đinh quan tài ngay đêm nay. Không đợi đến ngày mai nữa. Chúng ta phải đưa quan tài của thằng Đệ ra ngoài huyệt trước, rồi dùng dây chỉ đỏ buộc từ quan tài của nó sang hình nhân này để kéo vong đi. Nhưng... ba cây đinh này phải được đóng vào nắp quan tài của thằng Đệ ngay bây giờ để giữ vía nó lại, không cho nó hiển linh quấy phá.
Tôi nghe cụ Từ nói mà lòng dạ rối bời. Đóng đinh quan tài vào ban đêm là điều đại kỵ trong đám tang của người làng tôi. Người ta chỉ đóng đinh khi chuẩn bị di quan ra nghĩa địa vào ban ngày, dưới ánh sáng mặt trời để tránh âm khí tích tụ.
Nhưng lúc này, chúng tôi không còn lựa chọn nào khác.
Từ trong gian nhà ngoài, tiếng bước chân sột soạt của hình nhân giấy lại gần cửa chính. Dưới ánh trăng mờ, bóng của cái đầu nghẹo và đôi tay tre vươn dài của nó in lên cánh cửa gỗ, giống như một con nhện khổng lồ đang bò ra ngoài.
- Đi thôi Danh. Mày phải khiêng quan tài với tao.
Mẹ tôi nắm chặt lấy cổ tay tôi, kéo tôi đi về phía gian nhà bên cạnh, nơi chiếc quan tài đôi bằng gỗ ngọc am đang nằm im lìm trong bóng tối.