Người Giấy - Chương 8: Chương 008: Hai Vệt Máu Bầm
Gió từ phía sông Đáy thổi vào bãi tha ma mỗi lúc một lồng lộn, cuốn theo hơi nước lạnh buốt và mùi đất ẩm. Chiếc quan tài gỗ ngọc am của Hạnh nằm nghiêng…
Nội dung chương
Gió từ phía sông Đáy thổi vào bãi tha ma mỗi lúc một lồng lộn, cuốn theo hơi nước lạnh buốt và mùi đất ẩm. Chiếc quan tài gỗ ngọc am của Hạnh nằm nghiêng góc bốn mươi lăm độ trên miệng huyệt, bị mắc kẹt bởi hai sợi dây chão to bằng cổ tay trẻ con. Ba cây đinh sắt ngâm máu chó đen đóng ở nắp quan tài đã cong quặp ngược lên, đầu đinh chĩa ra ngoài như những móng vuốt giận dữ. Từ sâu trong lòng thớ gỗ dày cộp, tiếng móng tay cào sột soạt mỗi lúc một nhanh, nghe đanh và buốt tai vô cùng.
Mấy thanh niên trai tráng trong làng vốn khỏe mạnh là thế, nay mặt cắt không còn giọt máu, tay lăm lăm giữ dây chão nhưng chân cứ ríu lại, chực buông tay chạy tháo thân.
Ông Tám Sáu mặt đỏ gay, quai hàm bạnh ra. Ông giật lấy chiếc búa tạ từ tay một người thợ ngoa, quát lớn:
- Đứa nào dám buông dây, tao chặt chân! Giữ chặt lấy! Hồn chưa dứt, xác chưa yên, buông ra là nó hóa quỷ nhập tràng cả lũ đấy!
Nói rồi, ông Tám Sáu bước một bước dài qua mép huyệt, đặt một chân lên thành quan tài để lấy điểm tựa. Gương mặt ông hằn lên những nếp nhăn xô kịt vào nhau dưới ánh đuốc dầu hỏa chập chờn. Ông giơ cao chiếc búa sắt nặng trịch, nhắm thẳng vào cây đinh cong đầu tiên ở góc đầu quan tài.
Tôi đứng cách đó chừng ba mét, hai tay chắp trước ngực, lòng bàn tay đẫm mồ hôi lạnh. Trong lòng tôi nóng như có lửa đốt. Hạnh là người tôi từng thương, dù cô ấy đi bước nữa với cõi âm dưới hình thức hôn âm này, tôi vẫn không đành lòng nhìn thấy cảnh cô ấy bị đóng đinh trấn yểm đau đớn như vậy.
Mẹ tôi đứng ngay sát bên cạnh. Từ lúc lễ rước kiệu đỏ xuất phát từ nhà ra nghĩa địa, bà cứ đờ đẫn, mắt nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt. Hai bàn tay bà bấu chặt lấy vạt áo tứ thân màu nâu sồng, miệng lẩm bẩm những lời vô nghĩa. Tôi khẽ chạm vào vai mẹ:
- Mẹ, hay con đưa mẹ về trước. Ở đây gió máy quá.
Mẹ tôi không trả lời, bắp thịt trên mặt bà giật giật.
Bên kia huyệt, ông Tám Sáu đã lấy đà xong. Chiếc búa tạ bằng sắt đen sì vung lên vẽ một đường vòng cung trong không trung. Đúng lúc lưỡi búa chuẩn bị giáng xuống đầu cây đinh cong quặp, mẹ tôi bỗng nhiên trợn ngược mắt. Bà quay ngoắt đầu về phía tôi, cổ họng phát ra một tiếng rống chói tai, âm thanh lanh lảnh và sắc lẹm khác hẳn giọng nói trầm ấm thường ngày của bà:
- Nguyễn Văn Danh! Nằm xuống đi con!
Tiếng gọi trọn cả họ lẫn tên tôi vang lên giữa bãi tha ma tĩnh mịch, lấn át cả tiếng gió rít qua rặng tre.
Người làng quê chiêm trũng chúng tôi đều biết một luật bất thành văn khi đi chôn cất người chết. Đó là khi thợ ngoa đóng đinh quan tài, tuyệt đối không được gọi tên người sống. Kẻ nào bị gọi tên đúng vào nhịp búa giáng xuống, vía sẽ bị đóng đinh găm chặt vào nắp quan tài, hồn phách theo người chết xuống âm phủ.
- Chát!
Tiếng búa đập mạnh vào cây đinh sắt vang lên chát chúa, tóe ra những tia lửa xanh lét.
Đồng thời với tiếng nổ đanh tai đó, thái dương bên trái của tôi nhói buốt lên một nhát cực mạnh. Cảm giác đau đớn đến đột ngột như thể có một cây kim sắt nung đỏ đâm xuyên qua da thịt, cắm sâu vào tận xương tủy. Tôi loạng choạng thét lên một tiếng, hai tay ôm lấy đầu, đầu gối khuỵu xuống nền đất bùn nhão nhoét.
- Danh! Mày làm sao thế này?
Văn Đệ, đứa em họ đứng ngay cạnh tôi, hốt hoảng lao tới. Nó dang hai tay đỡ lấy bả vai tôi khi tôi chuẩn bị ngã ngửa ra phía sau.
Ông Tám Sáu nghe tiếng thét của tôi liền giật mình quay lại. Nhưng tay búa của ông đã lỡ đà. Ông không dừng được nhịp búa thứ hai.
- Chát!
Nhát búa tiếp theo nện xuống cây đinh thứ hai ở giữa thân quan tài.
Ngay khi tiếng sắt thép va chạm vang lên, tôi thấy thân hình Văn Đệ cứng đờ. Đôi mắt nó trợn trừng, đồng tử co rụt lại. Một tiếng "hự" nghẹn ứ nơi cổ họng nó. Nó chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì một dòng máu đỏ tươi đã từ thái dương bên phải của nó rỉ ra, chảy dài xuống má.
Tôi cố gượng dậy, nhìn chằm chằm vào mặt em mình. Trên thái dương bên trái của tôi cũng đang có một dòng nước ấm nóng rỉ xuống, ngửi thấy mùi tanh nồng của máu tươi.
Hai vệt máu bầm xuất hiện cùng một lúc trên đầu hai anh em tôi. Vết của tôi nằm bên trái, vết của Văn Đệ nằm bên phải, đối xứng nhau một cách kỳ dị, giống hệt như có một cây đinh dài vô hình đâm xuyên từ thái dương đứa này sang thái dương đứa kia, xỏ chung hai anh em vào một sợi dây âm khí.
Mẹ tôi sau khi hét lên câu đó thì đổ sụp xuống đất, ngất lịm đi.
Mấy người dân làng kinh hãi lùi lại phía sau, bỏ cả đuốc đang cháy dở xuống đất. Ánh lửa từ những cây đuốc đổ nghiêng trên cỏ khô liếm vào những tờ tiền vàng mã bay lả tả, tạo nên những đốm lửa xanh vàng lập lòe.
- Trời đất ơi! Đóng đinh đôi rồi! Hai đứa nó bị dính đinh quan tài rồi!
Một ông lão trong họ Nguyễn nhà tôi run rẩy chỉ tay vào hai anh em tôi, giọng lạc đi vì sợ hãi.
Ông Tám Sáu vứt phăng chiếc búa sắt xuống đất. Chiếc búa rơi trúng một tảng đá hộc, phát ra tiếng động nặng nề. Ông nhảy phắt từ thành quan tài xuống, chạy vội về phía chúng tôi. Gương mặt ông xám ngoét như da người chết trôi. Ông túm lấy vai tôi, giật mạnh ra rồi ghé sát mắt nhìn vào vệt máu trên thái dương tôi, sau đó quay sang nhìn vệt máu trên đầu Văn Đệ.
- Hỏng rồi! Hà tất phải thế này! Ai cho mụ ấy gọi tên thằng Danh vào lúc này?
Ông Tám Sáu nghiến răng, giận dữ quát lên. Tiếng quát của ông làm mấy người đàn bà đứng xa xa bật khóc thút thít.
Tôi ôm đầu, cơn đau buốt ở thái dương vẫn giật lên từng hồi theo nhịp đập của tim. Tôi khào khào hỏi:
- Ông Tám... thế này là sao hả ông? Đầu con đau quá...
Văn Đệ bên cạnh cũng lảo đảo, mặt nó tái mét, hai tay bám chặt lấy cánh tay tôi để khỏi ngã. Vệt máu trên thái dương nó đã bắt đầu đông lại thành một đường màu tím bầm, nổi rõ lên như một con rết bò trên da.
Ông Tám Sáu không trả lời tôi ngay. Ông thọc tay vào túi vải chàm, lôi ra một nắm vôi bột trộn lẫn với cát nhang lấy từ bát hương miếu Bà Chúa Kho. Ông xoa mạnh nắm vôi bột đó vào lòng bàn tay cho nóng lên, rồi đột ngột áp mạnh vào hai bên thái dương của tôi và Văn Đệ.
Cát nhang và vôi bột chạm vào vết thương hở làm tôi đau buốt thấu xương. Tôi nghiến răng chịu đựng, mồ hôi vã ra như tắm.
- Đỡ hai đứa nó ngồi xuống gốc cây gạo kia! Mau lên!
Ông Tám Sáu hét lớn ra lệnh cho mấy người đàn ông trung niên trong họ.
Họ lúng túng chạy lại, người đỡ nách, người khiêng chân đưa tôi và Văn Đệ ra gốc cây gạo cổ thụ ở rìa bãi tha ma. Gốc cây gạo này xù xì, những cái rễ lớn trồi lên mặt đất như những con mãng xà nằm phục.
Khi đã đặt chúng tôi ngồi vững, ông Tám Sáu mới quay lại nhìn chiếc quan tài của Hạnh. Thật lạ kỳ, sau khi hai nhát búa đóng xuống và hai anh em tôi bị rỉ máu, chiếc quan tài không còn nằm chênh vênh nữa. Nó tự động sụt xuống một tiếng "rầm" nặng nề, nằm lọt thỏm vào lòng huyệt đất sét đỏ quánh. Tiếng móng tay cào gỗ bên trong cũng im bặt, chỉ còn tiếng gió rít ù ù qua những kẽ hở của nắp quan tài chưa được đóng khít hoàn toàn.
Ông Tám Sáu thở hắt ra một hơi, lau mồ hôi trên trán rồi bước lại gần chúng tôi. Ông nhìn hai vệt máu bầm đã sẫm màu trên thái dương hai anh em tôi, lắc đầu thở dài:
- Thằng Danh bát tự chí dương, đáng lẽ ra là để trấn cái vong của con Hạnh. Nhưng mẹ mày lúc nãy bị vong nhập hay bị quỷ ám mà lại gọi tên mày đúng lúc đóng đinh. Cái đinh sắt ngâm máu chó đen này là đinh yểm mệnh. Nhát búa thứ nhất găm hồn mày vào áo quan. Nhát búa thứ hai, thằng Đệ lao vào đỡ mày, vía hai đứa mày vốn là anh em cùng huyết thống nên bị kéo xích lại gần nhau. Cái đinh thứ hai đã khóa chặt vía hai đứa vào làm một với người nằm dưới kia rồi.
Văn Đệ run rẩy hỏi:
- Ông nói thật đi, cháu phải làm thế nào để sống sót?
Ông Tám Sáu im lặng một lúc. Ông rút trong túi ra một điếu thuốc lào, châm lửa hút. Ánh lửa từ đốm thuốc đỏ rực soi rõ khuôn mặt đầy lo âu của ông. Khói thuốc bay ra, bị gió thổi bạt đi ngay lập tức.
- Chết thì chưa chết ngay được. Nhưng từ giờ đến ba ngày tới, hai đứa mày không được đi đâu xa khỏi làng này. Hồn của hai đứa đã bị xỏ chung một sợi dây âm với con Hạnh dưới kia. Đêm xuống, người dưới huyệt đau đớn một phần, hai đứa mày sẽ đau mười phần. Vệt máu bầm này chính là dấu đinh. Khi nào vệt bầm này chuyển sang màu đen kịt và loét ra, lúc đó là lúc trần âm gặp nhau, không cứu được nữa.
Tôi nghe ông Tám Sáu nói mà lòng lạnh ngắt. Tôi nhìn sang Văn Đệ. Nó mới mười tám tuổi, còn cả tương lai phía trước, chỉ vì lòng tốt lao vào đỡ tôi mà giờ đây phải gánh chịu tai ương này. Tôi nắm chặt tay, tự trách bản thân mình quá yếu ớt.
Mẹ tôi lúc này đã được mấy bà cô trong họ xoa dầu gió cho tỉnh lại. Bà ngơ ngác nhìn xung quanh, khi thấy tôi và Văn Đệ đầu quấn băng vải trắng (do ông Tám Sáu vừa băng tạm bằng vải xé từ sớ cúng), bà òa lên khóc nức nở. Bà chạy lại ôm lấy tôi:
- Danh ơi! Mẹ không cố ý... Mẹ thấy có người đứng sau lưng mẹ, cứ bắt mẹ phải gọi tên con. Mẹ không kìm được miệng...
Tôi ôm lấy vai mẹ, vỗ về:
- Không sao đâu mẹ. Con không sao, Đệ nó cũng không sao. Mẹ bình tĩnh lại đi.
Nhưng tôi biết, mọi chuyện không hề đơn giản như thế. Vệt máu bầm ở thái dương trái của tôi vẫn đang âm ỉ cháy, cảm giác như có hàng ngàn con kiến lửa đang bò và cắn phá bên trong hộp sọ. Mỗi khi gió thổi mạnh từ sông Đáy vào, cơn đau lại tăng lên gấp bội.
Ông Tám Sáu đi vòng quanh huyệt mộ của Hạnh. Nắp quan tài lúc này vẫn chưa được đóng kín hoàn toàn vì cây đinh thứ ba chưa được gõ xuống. Cây đinh đó vẫn đang cong quặp, nằm chơ vơ trên thớ gỗ ngọc am màu đỏ sẫm.
Ông Tám Sáu đứng bên mép huyệt, nhìn xuống lòng đất tối đen rồi quay lại bảo dân làng:
- Thôi, không đóng đinh nữa. Đóng nữa là hai đứa nhỏ chết tươi tại chỗ đấy. Lấy vôi bột rải quanh quan tài, rồi xúc đất lấp tạm lên. Đêm nay chưa lấp sâu được, chỉ đắp một lớp đất mỏng thôi.
Mấy người thợ ngoa nghe vậy liền lục đục làm theo. Họ cầm xẻng xúc từng tảng đất sét đỏ quánh đổ xuống huyệt. Tiếng đất đá rơi bôm bốp lên mặt gỗ quan tài nghe như những tiếng gõ cửa từ cõi âm ty.
Tôi đứng dậy, bước lại gần mép huyệt. Nhìn lớp đất dần dần che khuất chiếc quan tài gỗ ngọc am, lòng tôi dâng lên một nỗi xót xa khó tả. Hạnh nằm dưới đó, lạnh lẽo và cô độc. Liệu cô ấy có biết rằng, ba cây đinh sắt ngâm máu chó đen kia đang găm chặt linh hồn cô ấy, và giờ đây, cả tôi và Văn Đệ cũng đã bị kéo vào vòng xoáy này?
Đúng lúc nhát đất cuối cùng được đắp lên thành một nấm mộ thấp lè tè, gió bỗng nhiên ngưng bặt.
Không gian nghĩa địa trở nên im ắng một cách đáng sợ. Sự im lặng đột ngột này làm ai nấy đều nín thở, chỉ nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực.
Từ phía bờ sông Đáy, một mùi tanh tưởi bắt đầu lan tỏa vào không khí. Đó không phải mùi bùn sông bình thường, mà là mùi thịt thối rữa lâu ngày trộn lẫn với mùi nước cống hôi hám.
Ông Tám Sáu chợt khựng lại, mắt nhìn chằm chằm về hướng bờ sông, nơi có những bụi lau sậy rậm rạp đang lay động xào xạc dù không hề có gió. Ông lầm bầm:
- Có biến rồi. Lấp nhanh lên rồi rút! Mau!
Nhưng chưa kịp để mọi người động tay vào xẻng, từ trong bóng tối của những bụi lau sậy ven sông, có tiếng sột soạt vang lên. Tiếng động nhỏ ban đầu nhanh chóng dày đặc hơn, giống như tiếng của hàng ngàn bàn chân nhỏ xíu đang cào bới trên mặt đất khô khốc.
Tôi nheo mắt nhìn về phía đó. Dưới ánh sáng yếu ớt của những cây đuốc còn sót lại, tôi thấy mặt đất như đang chuyển động. Một làn sóng màu đen kịt, lổn nhổn đang từ bờ sông tràn lên gò đất cao của nghĩa địa, hướng thẳng về phía huyệt mộ của Hạnh.