Người Giấy - Chương 10: Chương 010: Bát Cháo Bên Mộ
Gió từ phía sông Hồng thổi vào bãi tha ma mang theo hơi nước buốt giá, quất từng cơn liên hồi vào rặng chuối dại xơ xác bên rìa đất lở. Sau khi bầy chuột…
Nội dung chương
Gió từ phía sông Hồng thổi vào bãi tha ma mang theo hơi nước buốt giá, quất từng cơn liên hồi vào rặng chuối dại xơ xác bên rìa đất lở. Sau khi bầy chuột đen rút đi, không gian rơi vào một sự im ắng đến phát sợ. Những dấu chân chuột chằng chịt in trên lớp đất mới đắp của mộ con Hạnh trông giống hệt những vết cào cấu của bàn tay người. Tôi ngồi bó gối trên chiếc chiếu cói rách rưới mà ông Tám Sáu ném cho trước khi bỏ về làng. Chiếc chiếu mỏng không ngăn nổi cái lạnh từ đất ẩm xộc thẳng vào xương tủy.
Tay tôi nắm chặt khúc gỗ dâu tằm thô ráp dài chừng hai gang tay. Trên khúc gỗ có quấn những vòng chỉ ngũ sắc đã được ngâm qua nước lá bưởi. Ông Tám Sáu bảo khúc gỗ này là vật phòng thân, nếu thấy nấm mộ có hiện tượng sụt lún hay nghe tiếng động lạ từ dưới lòng đất thì phải cắm ngay khúc gỗ xuống đầu ngôi mộ. Tôi nhìn đốm lửa đỏ tía của cây hương vòng cắm trên nấm đất. Khói hương không bay thẳng lên trời mà bị gió đánh bạt đi, quẩn quanh ngay sát mặt đất, tạo thành một làn sương xám xịt phủ lên ngôi mộ mới.
Trời càng về khuya, sương muối buông xuống càng dày. Da thịt tôi tê dại đi vì lạnh. Bụng tôi bắt đầu cào cấu dữ dội. Từ chiều đến giờ, sau những biến cố kinh hoàng ở đám tang con Hạnh, tôi chưa có hạt cơm nào vào bụng. Tôi cố nhắm mắt để quên đi cơn đói, nhưng cứ mỗi lần nhắm mắt, gương mặt nhợt nhạt của con Hạnh lúc nằm trong quan tài lại hiện ra. Đôi mắt nó nhắm nghiền, nhưng khóe miệng lại hơi xếch lên, tạo thành một nụ cười quái dị.
Giữa lúc tôi đang chập chờn nửa tỉnh nửa mê, một tiếng động lạ vang lên từ phía con đường mòn dẫn ra miếu Bà Cô.
Lộc cộc. Lộc cộc.
Tiếng gậy tre gõ nhịp nhàng xuống nền đất đá sỏi vang lên đều đặn. Tôi giật nảy mình, vội vàng mở trừng mắt, tay siết chặt khúc gỗ dâu tằm.
Từ trong màn sương mù xám đục, một bóng người gầy còm, còng rạp xuất hiện. Người đó mặc chiếc áo tơi lá cọ rách nát, đầu đội nón mê rách vành, chân đất lấm lem bùn đất xám xịt của vùng bãi bồi. Đó là lão Độc. Lão là kẻ ăn mày mù chữ, không nhà cửa, quanh năm suốt tháng chỉ tá túc dưới gầm xà nhà đổ nát của ngôi miếu hoang ở rìa làng. Người trong làng đồn lão bị điên, cả ngày chỉ lảm nhảm những điều không ai hiểu. Nhưng điều kỳ lạ là lão đi đứng rất nhanh nhẹn, hai hốc mắt sâu hoắm, mù lòa từ nhỏ nhưng chưa bao giờ lão đi lạc hay vấp ngã.
Lão Độc đi thẳng về phía tôi. Lão dừng lại ngay bên mép huyệt mộ của con Hạnh, hai hốc mắt trống rỗng hướng thẳng về phía tôi. Trên tay lão bưng một cái bát sành sứt mẻ, khói nóng từ trong bát bốc lên nghi ngút nhưng tan nhanh trong gió lạnh.
Lão cất giọng khàn khàn, nghe giống tiếng hai mảnh sành cọ vào nhau giữa đêm vắng.
- Cậu Danh đấy à?
Tôi nhớ tới lời dặn của ông Tám Sáu là không được trả lời bất kỳ ai gọi tên mình vào ban đêm ngoài bãi tha ma. Tôi im lặng, thu người lại sát bụi dứa dại, nín thở quan sát cử động của lão già mù.
Lão Độc cười khục khục trong cổ họng. Lão ngồi bệt xuống lớp đất ẩm ngay cạnh chiếc chiếu của tôi. Mùi ẩm mốc, mùi bùn ao và mùi trầu không hôi hám từ người lão phả ra nồng nặc. Lão đặt cái bát sành xuống trước mặt tôi.
- Đói thì húp đi. Cháo gạo tẻ nấu với nước giếng khơi miếu Bà Cô đấy. Ăn vào cho ấm cái bụng mà giữ mạng.
Tôi nhìn xuống bát sành. Trong bát là thứ cháo trắng loãng, lạnh ngắt chứ không hề nóng hổi như làn khói ban nãy tôi nhìn thấy. Trên mặt cháo nổi lên vài hạt muối hột to bản, đục ngầu.
Tôi lắc đầu, xua tay dù biết lão không nhìn thấy. Tôi cố hạ giọng thật thấp để trả lời.
- Cảm ơn cụ. Tôi chưa đói, lát nữa người nhà sẽ đem đồ ăn tới.
Nghe thấy hai từ người nhà, gương mặt nhăn nheo như quả táo héo của lão Độc bỗng co rúm lại. Lão đột ngột vươn bàn tay khẳng khiu, móng tay đen sì dính đầy đất cát về phía tôi. Tôi định né tránh nhưng bàn tay lão nhanh đến mức không ngờ. Lão chộp lấy bả vai tôi, những ngón tay gầy guộc như gọng kìm bấu chặt vào da thịt khiến tôi đau nhói. Sức lực của một lão già mù lại lớn đến mức tôi không thể cựa quậy nổi.
Ngón tay trỏ ráp như giấy ráp của lão sờ soạng ngược lên cổ tôi, rồi dừng lại ngay vệt máu đã khô cứng ở thái dương bên phải. Vệt máu này tôi bị dính lúc chiều, khi phụ khiêng quan tài của con Hạnh xuống huyệt. Góc gỗ sến sắc cạnh của chiếc quan tài quẹt qua làm rách một đường nhỏ trên trán tôi, máu chảy ra rỉ xuống nắp quan tài trước khi chúng tôi kịp lấp đất.
Lão Độc miết mạnh ngón tay vào vết thương của tôi. Cơn đau nhói buốt chạy thẳng lên đỉnh đầu khiến tôi suýt chút nữa thì kêu thành tiếng. Lão ghé sát khuôn mặt đáng sợ của mình vào tai tôi, thì thào.
- Máu chí dương đã rỏ xuống nắp quan tài gỗ sến. Đinh đóng huyệt đã găm trọn tên tuổi. Cậu tưởng người ta làm đám cưới ma này cho thằng Văn Đệ thật sao?
Tôi run bắn người, cố gắng dùng sức đẩy bàn tay lão ra khỏi vai mình.
- Cụ nói thế là ý gì? Thầy Tám Sáu bảo con Hạnh chết trẻ, vong linh không yên nên phải làm hôn âm với Văn Đệ đã khuất để hai đứa bầu bạn dưới suối vàng. Tôi chỉ là người gánh hạn, giữ mộ giúp gia đình họ thôi.
Lão Độc cười lên những tiếng chói tai, tiếng cười của lão làm mấy con quạ đen đậu trên ngọn cây gạo gần đó giật mình bay lên, kêu oác oác giữa trời đêm.
- Thằng Văn Đệ chết trôi sông ba năm trước, xương cốt dưới đáy sông đã rã thành bùn đất từ lâu rồi. Người ta làm con hình nhân thế mạng cho nó, nhưng cậu có nhìn kỹ con hình nhân ấy không?
Câu hỏi của lão Độc làm tim tôi đập thình thịch liên hồi. Tôi nhớ lại buổi chiều hôm nay, lúc ông Tám Sáu khiêng con hình nhân bằng giấy từ xưởng đồ mã ra. Con hình nhân mặc bộ quần áo chú rể bằng giấy màu xanh thẫm, mặt mũi vẽ đầy đủ mắt mũi miệng bằng chu sa.
Nhưng khi nhớ lại chi tiết ấy, tôi giật mình nhận ra một điểm bất thường. Con hình nhân ấy có lông mày, có mũi, có miệng cười đỏ chót, nhưng hai con mắt của nó lại hoàn toàn để trống. Phần lòng đen của mắt không hề được vẽ. Đó là hai khoảng giấy trắng dã, trống rỗng và vô hồn.
Trong nghề làm đồ mã của làng tôi, người ta kiêng kỵ nhất là việc điểm mắt cho người giấy. Người giấy không điểm mắt thì chỉ là một vật vô tri vô giác, không thể nhận thức, không thể dẫn hồn. Nếu không có mắt, làm sao vong hồn của Văn Đệ có thể nhập vào hình nhân để cử hành hôn âm với con Hạnh?
Lão Độc vẫn siết chặt vai tôi, giọng lão trầm xuống, lạnh lẽo như băng.
- Người giấy không điểm mắt thì làm sao dẫn hồn? Người giấy ấy chỉ là cái vỏ rỗng để che mắt thiên hạ mà thôi. Đứa bị chôn sống, đứa bị buộc chỉ đỏ vào chân để kéo xuống huyệt lạnh trong cuộc hôn âm này chính là cậu, Nguyễn Văn Danh ạ!
Đầu óc tôi quay cuồng. Lời nói của lão Độc như một nhát búa bổ thẳng vào đầu tôi.
Tôi nhớ lại lúc khiêng chiếc kiệu hoa màu đỏ chứa hình nhân cô dâu giấy của con Hạnh. Sợi chỉ đỏ buộc vào chân cô dâu giấy nối dài ra ngoài. Lúc kiệu đi qua cổng làng, sợi chỉ đỏ ấy bị đứt do vướng vào bụi gai tầm xuân. Chính ông Tám Sáu đã cúi xuống nhặt sợi chỉ lên, nối lại rồi luồn đầu chỉ còn lại vào gấu quần của tôi. Ông ấy dùng một chiếc kim khâu bao tải găm chặt sợi chỉ đỏ vào gấu quần tôi, bảo rằng làm thế để mượn chút hơi ấm của người có bát tự chí dương dẫn đường cho kiệu đi đúng hướng, tránh bị ma đói quấy nhiễu dọc đường.
Lúc đó tôi không mảy may nghi ngờ. Tôi cứ nghĩ ông Tám Sáu là thầy cúng có tiếng trong vùng, lời ông nói chắc chắn là đúng. Nhưng bây giờ, xâu chuỗi lại mọi việc, tôi thấy lạnh toát cả người.
- Sợi chỉ đỏ nối vào gấu quần cậu, còn đôi giày thêu hoa của con Hạnh lúc khâm liệm thì đi ngược. Cậu có biết giày đi ngược nghĩa là gì không?
Lão Độc hỏi, hơi thở hôi hám của lão phả thẳng vào mặt tôi.
- Giày đi ngược là để vong hồn người chết đi lùi, tìm đường về nhà người sống. Chỉ đỏ buộc chân là để kéo kẻ có bát tự chí dương đi cùng xuống cõi âm. Khi ông Tám Sáu gõ búa đóng đinh quan tài, ông ấy có gọi tên thằng Văn Đệ không?
Tôi cố lục tìm trong ký ức hỗn độn của buổi chiều hôm nay. Tiếng búa nện chan chát vào những chiếc đinh sắt ngâm máu chó đen vang lên giữa tiếng gào khóc thảm thiết của mẹ con Hạnh. Lúc đóng chiếc đinh cuối cùng ở góc quan tài phía đông, ông Tám Sáu đã hét lớn một tiếng.
- Nguyễn Văn Danh! Đóng đinh giữ hồn!
Lúc đó, tôi cứ nghĩ ông Tám Sáu gọi tên tôi để tôi giữ chặt góc quan tài cho ông đóng đinh. Nhưng theo luật lệ của những đám cưới ma xưa nay, khi đóng đinh quan tài đôi, thầy cúng gọi to tên của ai khi hạ búa, linh hồn của kẻ đó sẽ bị khóa chặt với xác chết bên trong. Tên của tôi đã bị xướng lên cùng với tiếng búa đóng đinh định mệnh đó.
Mồ hôi hột chảy ròng ròng trên trán tôi, hòa cùng vệt máu khô trên thái dương.
- Không... Không thể như thế được. Bố mẹ tôi, cả ông Tám Sáu nữa... họ là người thân của tôi cơ mà? Tại sao họ lại hại tôi?
Tôi lẩm bẩm, giọng lạc đi vì sợ hãi.
Lão Độc cười khục khục, nụ cười đầy vẻ chế giễu.
- Người thân? Thằng Văn Đệ chết trôi, vong hồn nó không siêu thoát được, suốt ba năm qua đêm nào nó cũng về báo mộng đòi vợ. Nhà cậu muốn yên ổn thì phải hiến tế một mạng sống để làm bầu bạn với nó. Nhưng con Hạnh chết trẻ là do tự tử, oán khí quá nặng, một mình thằng Văn Đệ không trấn nổi. Ông Tám Sáu cần một kẻ có bát tự chí dương như cậu để làm chất dẫn, dùng dương khí của cậu để ép oán khí của con Hạnh xuống, giữ cho cả làng này không bị nó báo thù. Cậu chính là vật tế thần cho cả cái làng này đấy.
Lão Độc buông bả vai tôi ra. Lão đẩy bát cháo sành sứt mẻ về phía sát đầu gối tôi.
- Tuyệt đối không được ăn đồ nhà gửi ra đêm nay. Ăn một hạt cơm nhà nghĩa là cậu đã nhận lễ cưới của người âm, chấp nhận làm chú rể của con Hạnh. Húp bát cháo này đi. Cháo gạo tẻ cúng vong ở miếu Bà Cô sẽ làm giảm dương khí của cậu xuống, khiến con Hạnh dưới huyệt không nhận ra hơi ấm của cậu mà tìm lên.
Tôi nhìn bát cháo trắng loãng lạnh ngắt dưới ánh trăng mờ đục. Những hạt muối hột bên trong trông giống hệt những chiếc răng người bị rụng. Mùi cháo thoang thoảng mùi đất ẩm của nghĩa địa, không có một chút hương vị nào của đồ ăn dành cho người sống.
Từ phía con đường mòn dẫn từ làng ra bãi tha ma, một ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn bão bắt đầu xuất hiện. Ánh sáng lay lắt trong màn sương đêm, cùng với đó là tiếng bước chân thình thịch vội vã trên con đường đất.
Tiếng gọi quen thuộc của mẹ tôi vọng lại giữa màn đêm tĩnh mịch.
- Danh ơi! Danh ơi! Mẹ mang cơm nóng với thịt kho ra cho con đây này!
Giọng mẹ tôi nghe ấm áp, quen thuộc như mọi ngày. Nhưng trong hoàn cảnh này, tiếng gọi ấy lại làm tôi thấy gai người.
Lão Độc nghe thấy tiếng chân người đang đến gần, lão lập tức đứng bật dậy. Động tác của lão nhanh nhẹn đến mức khó tin đối với một người già mù lòa. Lão cầm cây gậy tre, lùi dần vào bóng tối của rặng tre dại bên cạnh nấm mộ con Hạnh. Trước khi biến mất hoàn toàn vào màn sương mù, giọng nói thì thào của lão vẫn kịp lọt vào tai tôi.
- Nhớ kỹ lời lão... Muốn sống thì đừng ăn cơm nhà...
Bóng lão Độc vừa khuất cũng là lúc ánh đèn bão tiến đến sát bên tôi. Mẹ tôi bước ra từ màn sương, gương mặt bà đầy vẻ lo lắng, mệt mỏi. Bà mặc chiếc áo khoác len màu xám tro, tay xách một chiếc cặp lồng nhôm cũ kỹ.
Bà đặt chiếc đèn bão xuống đất, vội vàng ngồi xuống bên cạnh tôi, sờ soạng khắp người tôi xem có bị lạnh không.
- Khổ thân con tôi, đêm hôm phải ra ngồi canh mộ ngoài này. Thầy Tám Sáu bảo phải canh đủ ba đêm mới được về nhà. Mẹ nấu cơm nóng với thịt kho đây, con ăn đi cho ấm người.
Mẹ tôi vừa nói vừa mở nắp chiếc cặp lồng nhôm. Mùi thịt kho tàu thơm phức, béo ngậy bay ra, kích thích khứu giác của tôi đến tột độ. Cái bụng đói cồn cào của tôi réo lên liên hồi.
Nhưng khi nhìn vào bên trong chiếc cặp lồng, tôi chợt khựng lại.
Dưới ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn bão, những hạt cơm trắng ngần nằm gọn trong ngăn cặp lồng. Nhưng trên mặt lớp cơm trắng ấy, có rải một lớp tro mịn màu xám đen. Đó là tro hóa vàng mã. Lớp tro mỏng phủ lên những hạt cơm, tạo thành một màu sắc xám ngoét kỳ dị.
Tôi ngẩng đầu lên nhìn mẹ. Dưới ánh đèn bão lay lắt, gương mặt của mẹ tôi có vẻ tối sầm lại, hai mắt bà sâu hoắm, không hề có chút ánh sáng nào phản chiếu trong con ngươi. Bà nhìn tôi chằm chằm, khóe miệng khẽ giật giật như đang cố kiềm chế một cảm xúc gì đó.
- Ăn đi con. Ăn nhanh đi kẻo nguội.
Mẹ tôi giục, bàn tay bà run rẩy đưa chiếc thìa nhôm cho tôi.
Tôi nhìn chiếc thìa nhôm, rồi nhìn xuống bát cháo sành lạnh ngắt của lão Độc vẫn đang đặt ở góc chiếu. Lời cảnh báo của lão già mù vang vọng trong đầu tôi.
Ăn một hạt cơm nhà nghĩa là cậu đã nhận lễ cưới của người âm...
Tôi nuốt nước bọt, cổ họng khô khốc. Bàn tay tôi đưa ra lơ lửng giữa khoảng không, không biết nên hướng về phía chiếc cặp lồng cơm nóng của mẹ hay bát cháo lạnh lẽo của lão ăn mày mù. Gió sông vẫn thổi từng cơn rít qua những tán lá chuối dại, âm thanh xào xạc nghe như tiếng cười thì thầm của con Hạnh dưới lòng đất sâu.