Người Giấy - Chương 11: Chương 011: Quan Tài Gọi Tên
Gió bấc cuối đông thổi hun hút qua rặng tre đầu ngõ, kéo theo hơi lạnh buốt của sương muối luồn qua lớp áo vải thô. Tôi đứng trân trối nhìn bát cháo…
Nội dung chương
Gió bấc cuối đông thổi hun hút qua rặng tre đầu ngõ, kéo theo hơi lạnh buốt của sương muối luồn qua lớp áo vải thô. Tôi đứng trân trối nhìn bát cháo nguội ngắt đã đổ ụp xuống vệ cỏ, bùn đất bám vào những hạt gạo trương phình, chuyển sang màu xám xịt dưới ánh trăng lu. Lời của lão ăn mày mù vẫn ong ong bên tai như tiếng muỗi kêu trong chum vại. Kẻ bị chôn sống trong cuộc hôn âm này chính là tôi, Nguyễn Văn Danh, chứ không phải hình nhân thế mạng cho thằng Văn Đệ.
Tôi đưa tay lên sờ vào thái dương. Vệt máu khô ráp cộm lên dưới đầu ngón tay. Đó là thứ máu mà thầy tôi đã bôi lên khi làm lễ nhập hồn cho con bù nhìn giấy chiều nay. Đầu óc tôi quay cuồng giữa những suy nghĩ hỗn độn. Nếu lão mù nói đúng, thì cả thầy, u và những người trong gia đình đang đẩy tôi vào chỗ chết để đổi lấy sự bình yên cho dòng họ. Nhưng tại sao lại là tôi? Tôi là con trưởng, là đứa quanh năm suốt tháng cắm mặt vào xưởng đồ mã để nuôi sống cái nhà này.
Đêm đã về khuya, không gian đặc quánh mùi vôi bột rải dọc lối đi để ngăn khí lạnh từ nghĩa địa tràn vào làng. Tôi bước đi lảo đảo trên con đường đất trơn trượt. Làng Đông vào mùa này vắng lặng đến rợn người. Những ngôi nhà mái ngói rêu phong đóng chặt cửa, chỉ có ánh đèn dầu leo lét hắt qua khe liếp. Thỉnh thoảng, tiếng chó sủa ma từ phía cuối bãi sông vọng lại, nghe dài và oán hận.
Khi về đến ngõ nhà mình, tôi dừng lại dưới bóng cây nhãn cổ thụ. Ngôi nhà ngói ba gian hai chái của gia đình tôi nằm im lìm dưới bóng tối. Mùi hồ dán làm từ bột sắn và mùi giấy bản quen thuộc của xưởng đồ mã bay ra, nhưng đêm nay nó lẫn lộn với một mùi hương khác lạ. Đó là mùi gỗ ngọc am mới đục đẽo, ngai ngái, nồng nặc xen lẫn mùi sơn ta chưa kịp khô.
Tôi tiến lại gần cổng tre. Cánh cổng vốn luôn được cài then chắc chắn từ lúc chạng vạng tối nay lại để mở toang. Dưới bóng tối của mái hiên trước cửa xưởng đồ mã, có một vật thể to lớn nằm chắn ngang lối đi vào nhà chính.
Tôi nheo mắt nhìn. Dưới ánh trăng nhợt nhạt, một cỗ quan tài mới tinh đặt trên hai chiếc ghế đẩu bằng gỗ lim. Cỗ quan tài có dáng hình đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ với phần đầu to, đuôi nhỏ, hai bên sườn phình ra như bụng cá trắm. Thân quan tài được quét một lớp sơn ta màu đỏ thẫm, bóng loáng dưới ánh trăng. Lớp sơn chưa khô hẳn, bốc lên mùi hăng nồng khiến mắt tôi cay xè.
Lòng ngực tôi đập thình thịch như trống chầu. Tôi bước từng bước nhẹ tênh, cố không gây ra bất kỳ tiếng động nào. Khi khoảng cách thu hẹp lại, tôi nhìn rõ những đường chỉ đỏ quấn chằng chịt xung quanh nắp quan tài. Cứ cách một đoạn, sợi chỉ lại được thắt một nút thòng lọng, găm chặt vào những chiếc đinh quan tài chưa đóng hết. Đầu đinh nhô lên loang lổ những vệt đen sì của máu chó đen pha lẫn với vôi bột trừ tà.
Nhưng điều khiến chân tôi đông cứng lại chính là những dòng chữ khắc trên nắp cỗ quan tài.
Từng nét chữ được đục sâu vào thớ gỗ, thô bạo và dứt khoát. Người thợ khắc đã dùng bột chu sa trộn với máu động vật để miết vào những rãnh chữ, tạo nên những nét đỏ lòm, nhớp nhúa như vết thương chưa lành. Tôi nhìn kỹ từng nét vẽ gồ ghề:
Nguyễn Văn Danh. Sinh năm Nhâm Tuất. Tử giờ Tý, ngày mười bốn tháng Chạp.
Tôi dụi mắt, hy vọng mình nhìn nhầm do ánh trăng đánh lừa. Nhưng ba chữ tên tôi vẫn nằm sừng sững trên thớ gỗ ngọc am. Ngày mười bốn tháng Chạp chính là đêm nay. Giờ Tý đã điểm từ lúc tôi gặp lão ăn mày mù ở miếu hoang.
Tôi cảm nhận thấy toàn bộ máu trong cơ thể mình như đông cứng lại. Tôi vẫn còn sống, hơi thở vẫn ấm nóng, ngực vẫn phập phồng, vậy mà cỗ quan tài này đã khắc sẵn tên tuổi và giờ chết của tôi.
Dưới gầm cỗ quan tài, sát hai chiếc ghế đẩu, có một đôi giày vải thêu hoa đỏ. Đôi giày vải được đặt ngược hướng, gót giày quay ra ngoài đường, mũi giày chĩa thẳng vào gầm quan tài. Sợi chỉ đỏ từ trên nắp quan tài rủ xuống, quấn chặt lấy cổ hai chiếc giày như thể đang xích chúng lại.
- Danh đấy à con?
Một giọng nói trầm đục, khản đặc vang lên từ góc tối của hiên nhà.
Tôi giật bắn mình, lùi lại hai bước. Từ trong bóng tối của xưởng đồ mã, bóng thầy tôi từ từ bước ra. Ông cụ mặc bộ quần áo bà ba đen quen thuộc, tay cầm chiếc bật mực bằng gỗ dùng để kẻ đường thẳng khi xẻ gỗ làm quan tài. Khuôn mặt thầy tôi xám xịt, hai hốc mắt sâu hoắm dưới ánh trăng, không hề có một chút thần sắc của người sống.
Tôi run rẩy chỉ tay vào cỗ quan tài:
- Thầy... cái này... tại sao tên con lại ở trên kia? Con vẫn còn sống cơ mà?
Thầy tôi không nhìn tôi, ông cúi xuống dùng ngón tay cái miết lại một nét chữ đỏ trên nắp gỗ. Giọng ông đều đều, lạnh lẽo không một chút gợn sóng:
- Con sống thay phần thằng Đệ mười tám năm nay là đủ rồi. Số mệnh nhà họ Nguyễn không thể đứt đoạn. Thằng Đệ là đứa có căn quả, nó phải sống để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên. Còn con, con sinh ra vào giờ hắc đạo, mạng mỏng như tờ giấy bản. Hôn âm này không có con thế mạng, cả nhà ta sẽ bị quỷ thần bắt sạch.
Tôi bước giật lùi, lưng đập mạnh vào cánh cổng tre kêu sột soạt:
- Con là con trưởng của thầy u. Thầy u định chôn sống con thật sao?
Thầy tôi ngước lên. Ánh mắt ông đục ngầu, không chút ấm áp của tình cha con. Ông nói:
- Con giấy không điểm mắt, người giấy không biết đau. Danh à, con đã là người giấy từ chiều nay rồi. Nhớ lại xem, vệt máu trên trán con là từ đâu mà có?
Tôi ôm lấy đầu. Ký ức chiều nay hiện về rõ mồn một. Lúc ở trong xưởng đồ mã, khi tôi đang dán dở con bù nhìn giấy cho đám cưới ma của thằng Đệ, thầy đã dùng một cây kim dài chọc vào thái dương tôi, lấy máu bôi lên mắt con bù nhìn. Thầy bảo đó là để làm phép thế thân. Nhưng bây giờ tôi mới nhận ra, cây kim đó không phải để lấy máu thông thường. Nó đã găm một sợi chỉ đỏ xuyên qua da đầu tôi, nối thẳng sợi xích mệnh của tôi vào con người giấy kia.
Tôi cúi đầu nhìn xuống chân mình. Dưới ánh trăng, tôi không thấy bóng của mình in trên mặt đất. Chỉ có một vệt dài mờ nhạt, ngoằn ngoèo như vệt nước chảy.
- Không thể thế được! Con vẫn biết đau, con vẫn nghe thấy tiếng thầy nói!
Tôi hét lên, giọng lạc đi trong gió đêm.
Thầy tôi bước lại gần cỗ quan tài, tay cầm chiếc búa gỗ nặng trịch. Ông gõ nhẹ vào đầu đinh ngâm máu chó đen trên nắp gỗ. Tiếng cộc cộc khô khốc vang lên giữa đêm thanh vắng.
- Người chết đi rồi thường mượn cát ngôn để trả lời ngược. Con bảo con biết đau, tức là con đã không còn cảm giác gì nữa. Con bảo con nghe thấy, tức là tai con đã bị bít bằng sáp ong rồi.
Ông vừa nói, vừa giơ búa lên cao.
Đúng lúc đó, từ bên trong cỗ quan tài gỗ ngọc am phát ra tiếng cào cấu sột soạt. Âm thanh như móng tay người cào vào lòng gỗ sồi khô, kèn kẹt, buốt nhức tai.
- Danh... Nguyễn Văn Danh... vào đây với em...
Một tiếng gọi thều thào, mang theo hơi lạnh thấu xương phát ra từ kẽ hở của nắp quan tài. Giọng nói đó không phải của thằng Đệ, cũng không phải của người nhà tôi. Đó là giọng của một người con gái, thanh mảnh nhưng vô hồn, giống như tiếng gió rít qua kẽ lá chuối non.
Tôi nhớ lại luật cứng của những người làm nghề đồ mã: Khi đóng đinh quan tài hoặc khi đi đêm, tuyệt đối không được thưa khi nghe thấy ai gọi đủ họ tên mình. Nếu thưa, hồn vía sẽ bị hút vào trong gỗ, vĩnh viễn không đầu thai được.
Tôi mím chặt môi, hai tay bấu chặt vào tà áo.
Thầy tôi lại giơ búa lên, gõ thêm một nhịp vào chiếc đinh thứ hai.
- Nguyễn Văn Danh.
Tiếng gọi lần này lớn hơn, phát ra ngay bên tai tôi. Tôi quay ngoắt đầu lại. Đứng ngay bên cạnh tôi từ lúc nào là con người giấy mặc áo quan đỏ. Con người giấy cao bằng người thật, khuôn mặt nó được tô vẽ bằng phẩm màu sặc sỡ nhưng tuyệt nhiên không có mắt. Hai hốc mắt của nó chỉ là hai khoảng giấy bản trắng bệch, trống rỗng. Trên tay nó đang cầm đôi giày vải thêu hoa đỏ tháo từ gầm quan tài ra. Nó từ từ đưa đôi giày về phía chân tôi.
Tôi nhìn xuống chân mình lần nữa. Đôi giày vải tôi đang đi đã biến mất từ lúc nào. Bàn chân trần của tôi đang giẫm lên lớp vôi bột lạnh ngắt trên mặt đất.
- Danh... đi giày vào đi con. Đi giày ngược để về nhà mới.
Thầy tôi lên tiếng, tay ông vẫn tiếp tục giơ búa. Chiếc đinh thứ ba chuẩn bị được đóng xuống. Cứ mỗi lần một chiếc đinh cắm sâu vào gỗ, tôi lại cảm thấy lồng ngực mình thắt lại, nhịp thở trở nên khó khăn hơn. Đầu óc tôi bắt đầu mụ mị, hai tai lùng bùng như có hàng ngàn con ong đang bay bên trong.
- Tôi không phải người giấy.
Tôi hét lớn, dùng hết sức bình sinh gạt phăng con người giấy đang đứng cản đường. Người nó nhẹ bẫng, đổ sập xuống đất phát ra tiếng kêu xào xạc của tre nứa và giấy bản khô. Đôi giày vải thêu hoa đỏ rơi ra, lăn lóc trên nền đất ẩm.
Tôi không dám nhìn lại cỗ quan tài đỏ thẫm kia nữa. Tôi quay đầu, dùng hết sức lực chạy bán sống bán chết ra phía cổng tre.
- Danh! Nguyễn Văn Danh! Quay lại!
Tiếng thầy tôi gọi giật giọng từ phía sau. Giọng ông không còn điềm đạm nữa mà trở nên thúc giục, đay nghiến. Cùng lúc đó, tiếng gõ đinh cộc cộc cộc dồn dập vang lên như tiếng trống trận thúc quân.
Mỗi tiếng búa gõ xuống là một lần gót chân tôi đau nhói như có kim châm. Tôi biết, nếu thầy đóng đủ chín chiếc đinh ngâm máu chó đen vào cỗ quan tài kia, hồn vía tôi sẽ hoàn toàn bị khóa chặt trong đó, và tôi sẽ thực sự trở thành một cái xác không hồn phục vụ cho cuộc hôn âm quái dị kia.
Tôi chạy băng qua con ngõ nhỏ, rẽ ra đường làng. Sương đêm buông xuống dày đặc, che mờ cả lối đi. Dưới chân tôi, những vệt vôi bột rải dọc đường như những con rắn trắng uốn lượn trong bóng tối, chỉ dẫn tôi chạy trốn khỏi ngôi nhà đầy rẫy sự lừa dối kia. Tôi không biết mình sẽ đi đâu, trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Phải chạy thật xa, chạy khỏi làng Đông, chạy khỏi cỗ quan tài đang gọi tên mình.