Người Giấy - Chương 9: Chương 009: Trăm Con Chuột Đen
Vệt máu bầm trên thái dương tôi nóng ran, cảm giác đau buốt chạy dọc xuống tận xương quai hàm. Tôi đưa tay quệt ngang, ngón tay dính đầy thứ dịch đỏ sẫm,…
Nội dung chương
Vệt máu bầm trên thái dương tôi nóng ran, cảm giác đau buốt chạy dọc xuống tận xương quai hàm. Tôi đưa tay quệt ngang, ngón tay dính đầy thứ dịch đỏ sẫm, đặc sệt và có mùi tanh nồng của máu đọng. Cách đó vài bước chân, thằng Văn Đệ cũng đang áp chặt lòng bàn tay vào bên thái dương bên trái của nó. Máu đỏ tươi len qua kẽ tay thằng bé, nhỏ từng giọt xuống nền đất cát pha của bãi tha ma ngoài đê. Hai anh em tôi nhìn nhau, vết nứt trên da thịt của hai đứa giống hệt nhau, như thể vừa bị đục chung một khuôn.
Mẹ tôi đứng chết trân bên cạnh huyệt mộ của cái Hạnh. Gương mặt bà xám ngoét dưới ánh hoàng hôn nhập nhoạng, đôi môi run rẩy không thốt nên lời. Việc bà lỡ miệng gọi trọn tên cúng cơm Nguyễn Văn Danh của tôi khi cây đinh quan tài thứ tư vừa được đóng xuống là một sự phạm kỵ khủng khiếp. Người làng tôi vẫn truyền tai nhau, đóng đinh quan tài mà gọi tên ai, hồn vía người đó sẽ bị găm luôn vào mảnh gỗ sơn son, đời này kiếp này coi như đã nửa chân bước xuống âm phủ.
Ông Tám Sáu vội vàng giật lấy chiếc búa từ tay tôi, mặt lão đanh lại dưới chiếc nón lá rách rưới. Lão liếc nhìn vệt máu trên trán tôi rồi quay sang nhìn thằng Đệ, đôi lông mày bạc trắng nhíu chặt vào nhau đầy lo ngại. Lão quát lớn:
- Lấp đất! Nhanh tay lên các con giời! Trời sắp sụp tối rồi, để lỡ giờ lành thì khốn cả lũ!
Mấy người đàn ông khỏe mạnh trong làng vội vàng cầm xẻng, xúc từng tảng đất sét vàng đục đổ xuống huyệt. Tiếng đất đá rơi rào rào lên nắp quan tài gỗ sến nghe nặng nề, khô khốc. Nhưng đất mới phủ được một lớp mỏng bằng bàn tay, từ phía mép nước sông đằng xa bỗng vang lên những tiếng xào xạc lạ lùng.
Ban đầu, âm thanh đó chỉ xì xào giống tiếng gió lùa qua rặng lau sậy khô héo mùa hanh hao. Nhưng chỉ vài nhịp thở sau, tiếng xào xạc ấy chuyển thành tiếng cào móng vuốt dày đặc, kèm theo những tiếng chít chít nhức óc.
Từ phía bãi bồi ven sông, một thảm đen ngòm chuyển động nhanh trên mặt cát phẳng. Đó là hàng trăm con chuột cống. Chúng to bằng bắp tay người lớn, lông lá bết bát bùn đất sông đỏ ngầu, đôi mắt con nào con nấy đỏ sọc dưới ánh chiều tà. Lũ chuột không chạy tản mát mà tụ thành một bầy lớn, điên cuồng lao thẳng về phía huyệt mộ cái Hạnh.
- Chuột ở đâu chui ra lắm vậy? Nhìn kìa!
Một người phu huyệt hét lên, vứt vội chiếc xẻng xuống đất rồi lùi lại phía sau.
Đám chuột điên cuồng tràn xuống huyệt. Chúng không thèm để ý đến những bước chân của con người đang giẫm đạp xung quanh, mà chỉ tập trung bám chặt lấy chiếc quan tài gỗ sến. Chúng chen chúc, đè lên nhau thành ba bốn lớp đen ngòm, dùng những chiếc răng vàng khè gặm nhấm các cạnh góc của quan tài.
Mùi hôi thối của lũ thú hoang hòa cùng mùi bùn ẩm bốc lên nồng nặc. Tiếng răng chuột mài vào gỗ sến nghe ken két, vang lên giữa không gian tịch mịch của bãi tha ma. Lớp sơn ta đỏ chót trên nắp quan tài bắt đầu bị chúng cào cấu bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra phần gỗ trắng ở bên trong.
- Đốt lửa! Lấy đuốc xua chúng đi!
Mẹ tôi gào lên, cố sức kéo thằng Đệ lùi ra xa khỏi miệng huyệt. Nhưng lũ chuột hình như không hề biết sợ hãi. Cho dù vài người đàn ông lấy cành củi khô châm lửa khua khoắng, chúng vẫn lì lợm bám lấy nắp quan tài, cắn xé điên cuồng như muốn đào bới vật bên trong lên bằng được.
Một con chuột cống lớn bằng bắp chân, tai bị rách một mảng, đột ngột ngóc đầu dậy nhìn thẳng về phía tôi. Đôi mắt đỏ ngầu của nó lóe sáng trong bóng tối tranh tối tranh sáng, miệng nó vẫn còn dính những sợi sơn đỏ từ quan tài của cái Hạnh. Nó rít lên một tiếng chói lót, rồi cả đàn chuột đồng loạt dừng gặm nhấm, quay ngoắt đầu lại nhìn về phía ba mẹ con tôi.
Cảnh tượng ấy làm cho mấy người phu huyệt khiếp vía. Họ quăng cả cuốc xẻng, không ai bảo ai, đồng loạt quay đầu bỏ chạy về phía con đê cao.
- Hạnh không chịu yên rồi! Vong của cô ấy đang nổi lên, mau rời khỏi đây!
Tiếng la hét hỗn loạn của dân làng vang lên trong đêm tối. Mẹ tôi mặt cắt không còn giọt máu, bà một tay kéo thằng Đệ, một tay nắm lấy vạt áo tôi, giục giã:
- Danh, về nhà với mẹ! Nghĩa địa này có chuyện rồi!
Tôi định bước theo mẹ, nhưng một bàn tay gầy guộc, cứng như gọng kìm sắt đột ngột bóp chặt lấy bả vai tôi. Tôi quay đầu lại, thấy ông Tám Sáu đang đứng sừng sững phía sau. Đôi mắt lão đục ngầu nhìn tôi chằm chằm, giọng lão trầm xuống, lạnh tanh:
- Thằng Danh ở lại đây. Nó chưa được phép rời mộ.
Mẹ tôi quay lại, mắt đỏ hoe, giọng lạc đi vì sợ hãi:
- Ông Tám Sáu, ông nói thế là ý gì? Thằng Danh nhà tôi có tội tình gì mà phải ở lại cái nơi quỷ quái này?
Ông Tám Sáu chỉ tay xuống huyệt mộ vẫn đang bị đàn chuột bao vây. Tiếng gặm nhấm gỗ sến vẫn vang lên đều đặn dưới hố đất sâu. Lão nói:
- Bà cướp rể của người ta, lại lỡ miệng gọi tên thằng Danh lúc đóng đinh quan tài. Vệt máu trên thái dương hai anh em nó là điềm báo vong hồn cái Hạnh đã nhận mặt cả hai. Giờ mà bỏ chạy hết, đêm nay cái Hạnh sẽ dẫn đàn chuột này bò về tận nhà bà đòi người.
Mẹ tôi nghe thế thì rụng rời chân tay, ngã quỵ xuống đất cát. Thằng Đệ hốt hoảng đỡ mẹ dậy, mắt nó cũng ngập tràn nước mắt. Nó nhìn tôi, rồi nhìn vệt máu trên trán tôi, nghẹn ngào:
- Anh Danh... tại em... tại em hết...
Tôi nhìn đứa em trai gầy gò, nhìn người mẹ đã kiệt sức vì lo lắng, trong lòng dâng lên một nỗi chua xót khó tả. Tôi quay sang hỏi ông Tám Sáu:
- Cháu ở lại thì làm được gì? Cháu đâu phải thầy cúng, cũng chẳng biết phép thuật gì.
Ông Tám Sáu buông vai tôi ra, lão vuốt chòm râu mỏng, giọng quả quyết:
- Cháu sinh vào giờ Ngọ, ngày mùng năm tháng năm âm lịch đúng không? Bát tự của cháu là chí dương, ngàn người khó gặp được một. Người có bát tự chí dương thì vía cực kỳ nặng, âm tà thông thường không dám đến gần. Cháu phải ở lại đây giữ mộ cho cái Hạnh đủ ba đêm. Chỉ có dương khí của cháu mới trấn giữ được oán khí của cô dâu mới nằm xuống. Qua được ba đêm này, mộ kết đất lành, mọi chuyện mới mong êm đẹp.
Tôi nghe câu trả lời của lão mà lòng nặng trĩu. Hóa ra cái mệnh sinh vào giờ cực dương của tôi, vốn dĩ trước giờ chỉ giúp tôi không hay ốm vặt, nay lại trở thành lý do để tôi phải phơi mình giữa bãi tha ma lạnh lẽo này.
Mẹ tôi khóc mếu máo, cố van xin ông Tám Sáu:
- Ông Tám, tôi lạy ông, ông tìm cách khác cứu cháu. Đêm hôm ngoài bãi tha ma thế này, lành ít dữ nhiều...
Ông Tám Sáu lắc đầu, thái độ lạnh lùng:
- Hà tất phải khóc lóc. Đây là cái nghiệp do bà tự chuốc lấy khi làm đám cưới giả. Thằng Danh ở lại đây gác mộ là cách duy nhất để cứu mạng thằng Đệ. Nếu bà muốn cả hai đứa con trai cùng chết, thì cứ việc kéo chúng nó về nhà. Tôi không cản.
Lời nói của ông Tám Sáu như một gáo nước lạnh dội thẳng vào lòng mẹ tôi. Bà nhìn sang thằng Đệ, rồi lại nhìn tôi, ánh mắt đầy sự giằng xé và bất lực. Tôi lấy lại bình tĩnh, cố giữ cho giọng mình không bị run rẩy:
- Mẹ đưa thằng Đệ về đi. Con ở lại được. Con khỏe mạnh thế này, ma quỷ nào làm gì được con.
Mẹ tôi ôm chặt lấy tôi, nước mắt bà thấm ướt cả vai áo tôi. Bà khóc không thành tiếng, cuối cùng cũng đành gật đầu, dắt thằng Đệ lầm lũi đi ngược lên triền đê. Thằng Đệ vừa đi vừa quay đầu lại nhìn tôi, bóng hai mẹ con nhỏ dần rồi mất hút sau những rặng tre già đen sẫm trong màn đêm đang buông xuống.
Bãi tha ma lúc này chỉ còn lại tôi và ông Tám Sáu. Gió từ sông Hồng thổi vào mỗi lúc một mạnh, mang theo hơi nước lạnh buốt và tiếng sóng vỗ oàm oạp vào bờ đất cát.
Lũ chuột dưới huyệt mộ sau khi cắn xé một lúc lâu, đột nhiên chúng dừng lại. Con chuột cống đầu đàn rít lên một tiếng dài, rồi cả đàn bắt đầu lục tục bò ngược lên khỏi huyệt, hướng về phía rặng lau sậy ven sông mà chạy mất hút. Dưới huyệt mộ, chiếc quan tài gỗ sến trơ trọi, loang lổ những vết răng chuột gặm nhấm, để lộ ra những mảng gỗ trắng hếu trông giống như những chiếc răng nanh đang há ra trong bóng tối.
Ông Tám Sáu cúi xuống, nhặt một chiếc xẻng mà người phu huyệt bỏ lại. Lão thong thả xúc từng xẻng đất đổ xuống huyệt. Tôi cũng lặng lẽ nhặt một chiếc xẻng khác, cùng lão lấp nốt phần đất còn dang dở. Hai chúng tôi làm việc trong im lặng, chỉ có tiếng xẻng va vào đất đá cát pha nghe sột soạt.
Khi ngôi mộ của cái Hạnh đã được đắp thành một nấm đất tròn trịa, ông Tám Sáu lấy từ trong túi vải ra một con dao nhỏ và một gói vôi bột. Lão đi vòng quanh ngôi mộ, vừa rải vôi bột thành một vòng tròn lớn bao quanh nấm mồ, vừa lẩm nhẩm đọc những câu chú đất cát bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu. Lão chừa lại một khoảng trống nhỏ sát bia mộ rồi bảo tôi ngồi vào đó.
- Đêm nay cháu ngồi trong vòng vôi này, tuyệt đối không được bước ra ngoài dù có nghe thấy bất kỳ âm thanh gì. Vòng vôi này đã được trộn với máu chó đen và tro của giấy tiền vàng mã đốt ở miếu Bà Chúa Kho, có thể ngăn được âm hồn tiếp cận cháu.
Lão vừa nói vừa đưa cho tôi một chiếc đèn bão cũ kỹ, dầu trong đèn chỉ còn lại một nửa. Ánh lửa vàng vọt của ngọn đèn bão lung linh, soi rõ gương mặt đầy nếp nhăn và đôi mắt sắc lạnh của lão. Lão đưa thêm cho tôi một túi nhỏ đựng những hạt muối hạt to bản đã ngả màu xám đục.
- Đây là muối hột trộn với cát lấy từ lư hương ở miếu hoang. Nếu có vật gì đến gần quá vòng vôi, hãy bốc một nắm ném thẳng vào mặt nó. Nhưng nhớ kỹ, chỉ được dùng khi thực sự nguy kịch.
Tôi nhận lấy túi muối và chiếc đèn bão, lòng đầy lo lắng:
- Ông Tám, thế còn vệt máu trên thái dương của cháu thì sao? Nó cứ nóng ran lên từ lúc nãy đến giờ.
Ông Tám Sáu nhìn chằm chằm vào vệt máu trên trán tôi, thở dài một tiếng:
- Đó là dấu ấn của hôn âm. Cái Hạnh đã chết, nhưng vong hồn của nó vẫn cần một người chồng để dẫn lối dưới âm phủ. Thằng Đệ là người được chọn ban đầu, nhưng bà mẹ cháu lại gọi tên cháu lúc đóng đinh quan tài. Việc đó giống như cháu đã tự nguyện đứng ra thế mạng cho em trai mình. Vệt máu đó là sợi dây liên kết giữa cháu và cái Hạnh. Đêm nay, nó sẽ đến tìm cháu để thử thách dương khí của cháu. Nếu cháu sợ hãi mà bỏ chạy khỏi vòng vôi, sợi dây liên kết đó sẽ kéo cháu đi thẳng xuống huyệt mộ.
Nói xong, ông Tám Sáu quay lưng bước đi. Bóng lão đổ dài trên bãi cát, liêu xiêu rồi khuất dần sau con đê cao.
Tôi ngồi một mình bên cạnh ngôi mộ mới đắp của cái Hạnh. Không gian xung quanh tĩnh lặng đến đáng sợ, chỉ có tiếng gió rít qua những cành cây gạo hoang đằng xa và tiếng nước sông vỗ bờ đều đặn. Ánh đèn bão chỉ đủ chiếu sáng một khoảng đất nhỏ xung quanh tôi, còn lại tất cả đều bị bao phủ bởi một màn đêm đen đặc.
Vệt máu bầm trên thái dương tôi vẫn tiếp tục nhói buốt. Cơn đau không dữ dội nhưng cứ râm ran, âm ỉ chảy vào tận sâu trong óc. Tôi co chân lại, ôm lấy đầu gối, cố gắng giữ cho hơi thở của mình thật đều đặn để xua đi sự sợ hãi đang dâng lên trong lòng.
Khoảng nửa đêm, gió sông đột ngột ngừng thổi. Không gian trở nên im ắng một cách kỳ lạ, ngay cả tiếng nước sông vỗ bờ cũng không còn nghe thấy nữa. Một mùi hương thoang thoảng bay đến, không phải mùi bùn đất ẩm ướt hay mùi hôi thối của lũ chuột lúc chiều, mà là mùi hoa bưởi thơm ngát, cái mùi hương quen thuộc mà cái Hạnh vẫn thường dùng để gội đầu khi còn sống.
Tôi giật mình, tay nắm chặt lấy túi muối hột trong túi áo.
Từ phía sau nấm mộ mới đắp, có tiếng sột soạt nhẹ nhàng vang lên, giống như tiếng bước chân của ai đó đang đi trên cát mịn. Tiếng bước chân chậm rãi, từng nhịp, từng nhịp một hướng về phía tôi.