Người Giấy - Chương 12: Chương 012: Bóng Trắng Ven Sông
Tôi không thể ở lại trong căn nhà đó thêm một giây phút nào nữa. Mùi gỗ ngọc am mới xẻ quyện với mùi sơn ta nồng nặc bốc lên từ chiếc áo quan khiến lồng…
Nội dung chương
Tôi không thể ở lại trong căn nhà đó thêm một giây phút nào nữa. Mùi gỗ ngọc am mới xẻ quyện với mùi sơn ta nồng nặc bốc lên từ chiếc áo quan khiến lồng ngực tôi nghẹn ứ. Đầu óc tôi trống rỗng, chỉ còn lại một ý nghĩ duy nhất là phải chạy trốn khỏi cỗ quan tài khắc tên mình đang nằm chình ình giữa sân. Tôi lao qua cánh cổng tre mục nát, cắm đầu chạy về phía bờ đê sông Cái. Gió đêm tháng Chạp thổi thốc vào mặt buốt nhói, nhưng cái lạnh cắt da cắt thịt của thời tiết không thấm tháp gì so với cái lạnh toát ra từ bốn tấm ván hòm khắc tên Nguyễn Văn Danh bằng thứ mực đỏ tươi như máu ấy.
Con đường đất đỏ chạy dọc triền đê vắng lặng không một bóng người. Đêm nay sương muối xuống dày đặc, phủ một lớp trắng đục lên những bụi tầm xuân và rặng duối già cỗi ven đường. Bình thường, chỉ cần tôi đi hết đoạn dốc thoải này là sẽ nhìn thấy ánh đèn dầu tù mù phát ra từ điếm canh đê của ông cụ trông đền. Nhưng đêm nay, bốn bề chỉ có một màu tối tăm, tịch mịch đến đáng sợ. Tôi cắm đầu chạy, đôi dép cao su quai chéo cọ sát vào gót chân đau rát, tiếng thở dốc của chính mình vang lên bên tai nghe rõ mồn một giữa đêm vắng.
Tôi chạy mãi, chạy đến mức hai bắp chân mỏi nhừ, lồng ngực đau nhói như có ngàn mũi kim châm vào phổi. Vậy mà rặng tre đầu xóm vẫn chẳng thấy đâu. Hai bên đường đê, những bụi lau sậy cao quá đầu người bắt đầu xuất hiện dày đặc. Gió sông thổi qua bãi bồi, làm những ngọn lau xám ngoét lay động dữ dội, tạo ra những tiếng xào xạc nghe rất giống tiếng người đang thì thầm bàn tán sau lưng tôi.
Tôi buộc phải dừng lại, vịn tay vào một thân cây xoan bên đường để lấy lại hơi thở. Trong bóng tối lờ mờ của màn sương muối, tôi nhận ra mình đã đứng sát mép nước sông Cái tự lúc nào. Nước sông mùa này cạn trơ lòng, dòng chảy lững lờ trôi đen ngòm như mực tàu. Từ dưới lòng sông bốc lên mùi bùn non tanh nồng xen lẫn mùi cá chết thối rữa. Tôi nhìn quanh, cố tìm lối rẽ để quay về phía đình làng, nơi có ánh lửa của đội tuần tra đêm đang sưởi ấm. Nhưng lối rẽ quen thuộc hằng ngày đã biến mất không một dấu vết. Trước mắt tôi chỉ còn một con đường đất duy nhất chạy dài tít tắp dọc theo bờ sông, hai bên chỉ toàn lau sậy lay động trong sương.
Tôi bắt đầu nhận ra bản thân đã gặp phải chuyện không lành. Người trong nghề làm đồ mã như nhà tôi đều hiểu rõ, khi đi đêm mà gặp cảnh đường sá thay đổi, cảnh vật kéo dài vô tận thì chắc chắn đã bước vào cõi u linh của những kẻ không thuộc về thế giới người sống. Tôi đưa tay vào túi áo, lần tìm sợi chỉ đỏ mà cha tôi từng dặn lúc nào cũng phải mang theo người để phòng thân. Ngón tay tôi chạm vào sợi chỉ đỏ lạnh ngắt. Cha tôi từng bảo, chỉ đỏ buộc chân là để giữ hồn, đi giày ngược là để đánh lừa bước chân của quỷ.
Tôi vội vàng cúi xuống, tháo đôi dép cao su dưới chân ra, lật ngược phần mũi dép hướng về phía sau gót chân rồi xỏ chân vào. Đôi dép đi ngược khiến dáng đi của tôi trở nên kỳ quặc, xiêu vẹo vô cùng, nhưng tôi không còn cách nào khác. Tôi vừa lết từng bước khó nhọc trên nền đất bùn trơn trượt, vừa nhẩm đọc bài chú giữ vía của phường thợ mã mà cha dạy từ thuở nhỏ.
Có tiếng động lạ phát ra từ đám lau sậy bên tay trái. Tôi không dám quay đầu lại nhìn. Quy tắc đi đêm trên đê sông Cái là tuyệt đối không được ngoảnh đầu khi nghe tiếng động lạ sau lưng. Nếu quay lại, ba ngọn lửa trên hai vai và đỉnh đầu sẽ tắt, tạo cơ hội cho vong hồn nhập vào xác.
- Danh ơi.
Tiếng gọi khẽ khàng, mảnh như sợi tơ, luồn qua làn sương muối buốt giá rót thẳng vào tai tôi. Tiếng gọi ấy không phải giọng của cha tôi, cũng không phải giọng của bất kỳ người dân nào trong làng. Nó mềm mại, thanh tao nhưng mang một sắc thái lạnh lẽo của nước sông mùa đông.
Tôi cắn chặt môi, hai hàm răng đập vào nhau cầm cập. Tôi giả vờ như không nghe thấy, tiếp tục bước đi bằng đôi dép lật ngược của mình.
- Danh à, về nhà nằm hòm đi. Mùi gỗ mới thơm lắm.
Tiếng nói phát ra sát nút ngay sau gáy tôi. Hơi thở của kẻ nói lạnh buốt, thổi vào cổ tôi làm da gà nổi lên từng cục. Đó không phải hơi ấm của người sống, mà là luồng khí âm hàn từ dưới lòng đất sâu. Tôi biết mình đã bị thứ đó bám theo rất sát.
Tôi cố gắng giữ cho bước chân không bị loạn nhịp. Theo lời truyền của các cụ làm nghề đồ mã, khi gặp quỷ hỏi chuyện, tuyệt đối không được trả lời thẳng thừng. Người sống phải mượn cát ngôn để đối phó, nghĩa là phải trả lời ngược lại với sự thật hoặc dùng những lời chúc lành để hóa giải oán khí. Nếu trả lời đúng câu hỏi của chúng, tức là đã tự giao nộp sinh hồn của mình cho quỷ dữ.
Tôi lên tiếng, giọng run rẩy nhưng cố giữ âm vực điềm đạm nhất có thể:
- Nhà tôi có phản gỗ lim, ấm áp hơn hòm gỗ ngoài đường. Người nằm hòm là kẻ có phúc, tôi chưa đủ phúc để nhận tấm ván ấy.
Tiếng cười khúc khích vang lên ngay sau lưng tôi. Tiếng cười thanh thanh của một cô gái trẻ, nghe vừa ai oán vừa ghê rợn giữa bãi lau sậy hoang vắng.
- Cậu Danh nói khéo quá. Nhưng kiệu đỏ đã rước đến đầu làng, chú rể không về thì tân nương biết động phòng với ai đây?
Tôi nghe đến hai từ kiệu đỏ thì tim đập liên hồi. Rõ ràng chuyện này có liên quan đến đám cưới ma, đến cỗ quan tài đôi và những người giấy không được điểm mắt mà nhà tôi vừa làm mấy hôm trước. Có kẻ đã dùng thuật hôn âm để buộc chặt vận mệnh của tôi với một vong hồn nữ dưới suối vàng.
Tôi cắn đầu ngón tay trỏ của mình, nặn ra một giọt máu tươi rồi quệt nhanh lên sợi chỉ đỏ đang cầm trong tay. Tôi kéo căng sợi chỉ, giữ chặt hai đầu bằng hai ngón tay cái rồi quay người lại thật nhanh để đối mặt với thứ đang bám theo.
Dưới ánh sáng mờ ảo của mảnh trăng khuyết bị mây mù che khuất, cách tôi chừng năm bước chân, một bóng trắng đang lững lờ đứng trên bờ dốc đê. Đó là một cô gái mặc bộ đồ cưới màu đỏ thắm, nhưng khuôn mặt lại phủ một tấm khăn voan trắng tinh. Dưới tà áo cưới đỏ, hai bàn chân của cô ta không chạm đất mà lơ lửng trên những ngọn cỏ đẫm sương đêm. Gió sông thổi mạnh làm tà áo cưới bay phần phật, nhưng tấm khăn voan trắng trên mặt cô ta vẫn im lìm, không hề lay động chút nào.
Từ khe hở dưới tấm voan trắng, tôi thấy loáng thoáng một làn da trắng bệch, nhẵn nhụi không có lỗ chân lông, giống hệt loại giấy dó thượng hạng dùng để bồi người giấy trong xưởng mã của cha tôi.
Tôi lạnh cả người khi nhận ra bàn tay cô ta đang thò ra ngoài tay áo. Đó không phải bàn tay người, mà là những ngón tay bằng tre cật được chuốt dẹt, dán đè lên bằng một lớp giấy màu hồng nhạt. Đây là một con người giấy. Nhưng con người giấy này lại biết đi, biết nói và biết gọi chính xác họ tên của tôi.
- Tân lang, sao lại dùng chỉ đỏ trói tôi? Chúng ta đã có giao ước bằng mực đỏ trên sườn quan tài rồi mà.
Giọng nói của cô ta phát ra từ lồng ngực, không hề thấy khuôn miệng cử động dưới lớp khăn voan trắng kia.
Tôi lùi lại một bước, giữ chặt sợi chỉ đỏ đã thấm máu trước ngực làm lá chắn. Tôi biết, nếu để cô ta chạm vào người, sợi dây liên kết âm dương sẽ hoàn tất, và tôi sẽ trở thành người nằm trong cỗ quan tài gỗ ngọc am kia.
- Giao ước đó do kẻ khác viết, không phải do tôi ký. Hà tất phải tìm tôi để đòi nợ duyên?
Tôi gằn giọng đáp, mắt không rời bóng trắng trước mặt.
Bóng trắng khẽ lay động, thân hình bằng giấy của cô ta phát ra những tiếng sột soạt ghê tai, giống như tiếng giấy quét tường bị bóc ra trong đêm vắng. Cô ta tiến lại gần tôi một bước. Mỗi bước đi của cô ta không tạo ra tiếng động trên đất ẩm, nhưng sương mù xung quanh lại đậm đặc hơn, che khuất cả lối đi phía sau tôi.
- Cha cậu nhận tiền vàng của nhà họ Trịnh, nhận đinh quan tài ngâm máu chó đen để đóng nắp hòm cho tôi. Cậu là con trai duy nhất của nhà họ Nguyễn, món nợ này cậu không trả thì ai trả cho tôi đây?
Cô ta vừa nói vừa giơ bàn tay bằng giấy tre về phía tôi. Những ngón tay tre nhọn hoắt, được bọc giấy màu hồng nhạt bắt đầu co duỗi, hướng thẳng vào ngực tôi mà đâm tới.
Tôi biết tình thế đã ngàn cân treo sợi tóc. Cha tôi đã giấu tôi làm việc gì đó rất khủng khiếp liên quan đến nhà họ Trịnh và cỗ quan tài đôi kia. Nhưng giờ không phải là lúc để oán trách. Tôi phải sống sót để quay về hỏi cho ra nhẽ mọi chuyện.
Tôi nhớ lại bài học đầu tiên khi bước chân vào xưởng đồ mã của gia đình. Người giấy dù có linh thiêng đến đâu cũng sợ lửa và sợ máu của người sống mang dương khí mạnh. Tôi ngậm ngụm nước bọt, cố nuốt xuống để lấy lại hơi, rồi giật mạnh sợi chỉ đỏ thấm máu hướng về phía bóng trắng trước mặt.
- Lửa đỏ thiêu xác giấy, nước sông cuốn tro tàn. Đường ai nấy đi, hồn ai nấy về!
Tôi hét lớn, dùng hết sức bình sinh ném sợi chỉ đỏ về phía cô ta. Sợi chỉ đỏ bay lơ lửng trong không trung, khi chạm vào làn sương lạnh xung quanh bóng trắng bỗng phát ra những tiếng xèo xèo như mỡ nóng gặp nước. Một đốm lửa nhỏ màu xanh lam bùng lên từ đầu sợi chỉ, chiếu sáng khuôn mặt ẩn sau lớp khăn voan trắng của cô ta trong một tích tắc ngắn ngủi.
Tôi run rẩy khi nhìn thấy khuôn mặt đó. Nó không có mắt, không có mũi, chỉ có một vệt mực tàu vẽ nguệch ngoạc hình chiếc miệng đang cười ngoác đến tận mang tai. Đúng là một con người giấy chưa được điểm mắt. Nhưng trên trán của nó có dán một lá bùa màu vàng, viết những chữ ngoằn ngoèo bằng máu chó đen đã khô.
Tiếng thét chói tai vang lên từ bóng trắng. Con người giấy lùi lại mấy bước, tà áo cưới màu đỏ của nó bị đốm lửa xanh lam thiêu rụi một góc, để lộ ra bộ khung tre chằng chịt bên trong.
Nắm lấy cơ hội đó, tôi quay đầu chạy bán sống bán chết. Lần này tôi không đi dép ngược nữa mà vứt luôn đôi dép cao su bên vệ đường, chân trần chạy trên đá sỏi và bùn lầy. Cảm giác đau đớn từ lòng bàn chân truyền lên tận đỉnh đầu giúp tôi giữ được sự tỉnh táo cuối cùng.
Tôi chạy ngược chiều gió, hướng thẳng về phía ánh lửa tù mù của điếm canh đê mà tôi vừa nhìn thấy thấp thoáng phía xa. Sương mù có vẻ đã bớt dày đặc sau cú đánh vừa rồi.
Nhưng con đường đê ven sông Cái như kéo dài ra vô tận. Tôi chạy mãi, chạy đến mức hai lá phổi như muốn nổ tung trong lồng ngực. Đằng sau tôi, tiếng sột soạt của giấy dó bị gió thổi vẫn bám đuổi dai dẳng không dứt. Cứ mỗi lần tôi tưởng mình đã bỏ xa bóng trắng kia, tiếng cười khúc khích và tiếng gọi tên tôi lại vang lên ngay sát bên tai.
- Danh ơi. Cậu chạy đi đâu? Đêm nay là đêm động phòng hoa chúc của chúng ta mà.
Tôi không dám trả lời thêm một câu nào nữa. Tôi biết sức lực của mình sắp cạn kiệt. Nếu trước khi trăng lặn mà tôi không vào được khuôn viên đình làng hay nhà bác cả, nơi có bật mực rải vôi ngăn quỷ, tôi chắc chắn sẽ bỏ mạng ở bờ sông này.
Tôi cắn chặt răng, cố sức dồn chút tàn lực cuối cùng vào hai bàn chân đã rớm máu vì giẫm phải gai góc trên đê. Phía trước, rặng tre đầu xóm đã hiện ra mờ mờ trong sương đêm. Tôi nhìn thấy chiếc cổng làng quét vôi trắng quen thuộc.
Nhưng đúng lúc tôi chỉ còn cách cổng làng chừng chục mét, một luồng gió lạnh từ sông thổi mạnh tới, hất văng tôi ngã nhào xuống đất bùn. Tôi lồm cồm bò dậy, cảm nhận được một bàn tay lạnh ngắt, nhám như giấy ráp đang chạm vào lưng áo mình.
Tôi quay đầu lại trong sự tuyệt vọng, chỉ thấy tấm khăn voan trắng tinh của cô ta đã ở ngay sát mặt tôi, mùi gỗ ngọc am và mùi nước sông lạnh lẽo ập vào khứu giác.
Tôi cố vùng vẫy nhưng toàn thân cứng đờ không thể cử động nổi, chỉ còn biết trương mắt nhìn bóng trắng từ từ cúi xuống gần hơn.